J Balvin

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
J Balvin
Tên khai sinhJosé Álvaro Osorio Balvin
Sinh7 tháng 5, 1985 (34 tuổi)
Medellín, Colombia
Thể loại
Nghề nghiệpCa sĩ
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • guitar
Năm hoạt động2004–nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websitejbalvin.com

José Álvaro Osorio Balvin (sinh ngày 7 tháng 5 năm 1985, nghệ danh J Balvin) là nam ca sĩ người Colombia.[1]

Balvin bắt đầu nổi tiếng toàn cầu vào năm 2014 với đĩa đơn "6 AM", hợp tác cùng ca sĩ người Puerto Rico - Farruko, ca khúc đạt #2 trên bảng xếp hạng Billboard Hot Latin Songs. Năm 2016, anh phát hành album phòng thu Energia, bao gồm các đĩa đơn "Ginza", "Bobo", "Safari" và "Sigo Extrañándote". Vào tháng 6/2017, J Balvin phát hành "Mi Gente" với Willy William. Tháng 1/2018, anh và Bad Bunny góp mặt trong ca khúc "I Like It" của Cardi B, bài hát đạt #1 trên US Billboard Hot 100 và được đề cử giải Grammy cho Thu âm của năm.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

1985–2013: Thời thơ ấu và sự nghiệp ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

J Balvin sinh ra trong một gia đình trung lưu ở Medellín, Colombia.[2] Cha anh là một nhà kinh tế học.[3] Balvin lớn lên với các ban nhạc rock như là MetallicaNirvana, anh còn có một hình xăm nhóm Nirvana ở đầu gối.[4]

Balvin gặp DJ David Rivera Mazo tại Medellín,[5] cả hai trở thành bạn và bắt đầu tự sáng tác, phát hành nhạc.[5] Tới năm 2009, anh ký hợp đồng với hãng đĩa EMI Colombia, sau đó ra mắt đĩa đơn "Ella Me Cautivó," ca khúc đạt hạng 35 trên bảng xếp hạng Billboard Tropical Songs.[6] Cũng trong năm này, anh ra mắt album phòng thu đầu tay mang tên Real.[7] Bản hit nổi tiếng đầu tiên của anh là "Yo Te Lo Dije".[5]

Danh sách album[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ J. Balvin ¡100 % Reggueton! Viernes 9 de marzo de 2012
  2. ^ Coscarelli, Joe (5 tháng 7 năm 2016). “J Balvin Is a Man With a Mission: Making Reggaeton Global”. New York Times. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018. 
  3. ^ Bishop, Marlon (6 tháng 2 năm 2017). “For J Balvin, Dignity is Not Negotiable”. The Fader. Andy Cohn. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018. 
  4. ^ “Reggaeton Ambassador J Balvin Talks Nirvana, Pharrell, Guinness Record”. Rolling Stone. 16 tháng 3 năm 2017. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018. 
  5. ^ a ă â Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên fader2
  6. ^ Jurek, Thom. “J Balvin - Allmusic Biography”. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018. 
  7. ^ Krastz, Roger (10 tháng 2 năm 2017). “J BALVIN’S HIP-HOP CONNECTION INCLUDES LIFE ADVICE FROM PHARRELL”. XXL. Townsquare Media. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]