Greyson Chance

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Greyson Michael Chance
Greyson Chance Paparazzo Photography.jpg
Chance hát live tại trường Sri KDU International School, Kota Damansara, Malaysia.
Thông tin nghệ sĩ
Tên khai sinh Greyson Michael Chance
Sinh 16 tháng 8, 1997 (20 tuổi)[1]
Wichita Falls, Texas, Hoa Kỳ
Nguyên quán Edmond, Oklahoma, USA
Thể loại Pop rock, piano rock
Nghề nghiệp Singer-songwriter
Nhạc cụ Piano, vocals
Năm hoạt động 2010–nay
Hãng đĩa eleveneleven, Maverick, Streamline, Geffen
Website greyson-official.com

Greyson Michael Chance (sinh ngày 16 tháng 8 năm 1997) là một ca sĩ pop-rock, nhạc sĩ người Mĩ, nghệ sĩ dương cầm. Năm 2010, cậu cover lại Paparazzicủa Lady Gaga và trở thành một hit trên YouTube, tính đến ngày 11 tháng 5 năm 2013, lượt xem trên YouTube đối với ca khúc này đã đạt con số 51 triệu, ngay sau đó cậu lại được xuất hiện trên The Ellen DeGeneres Show

Đĩa đơn đầu tay của cậu ấy - Waiting Outside the Lines, được phát hành vào tháng 10, năm 2010. Album đầu tay "Hold On 'til the Night", phát hành vào ngày 2 tháng 8, năm 2011.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Chance sinh vào ngày 16 tháng 8 năm 1997, Wichita Falls, Texas và hiện tại, cậu sống ở Edmond, Oklahoma. Cậu là con trai út của ông Scott và bà Lísa. Chance có một người chị, tên là Alexa và một người chị anh là Tanner, cả hai người họ đều làm công việc liên quan tới âm nhạc. Chance bắt đầu học piano vào năm 8 tuổi, và có 3 năm để luyện tập, tuy nhiên, cậu bé Chance không được đào tạo bài bản về thanh nhạc. Chance mang trong mình dòng máu Đức, Anh, Ba LanCộng hòa Sec từ tổ tiên.

Chance nói rằng cậu lấy cảm hứng từ Lady Gaga khi xem cô biểu diễn Paparazzi tại MTV Video Music Awards 2009, cậu nói rằng "Tôi đã thật sự bị cuốn hút bởi Lady Gaga, tôi yêu cảm quan của cô ấy về bộ phim và sân khấu. Ngoài ra, cô ấy còn là một ca sĩ, người chơi piano tuyệt vời". Ngoài Lady Gaga cậu còn bị ảnh hưởng bởi John Legend, Elton John, Christina Aguilera.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Video cover bài hát Paparazzi của Chance được đưa lên YouTube vào ngày 28 tháng 4 năm 2010, đã có ít nhất hai trang mạng xã hội là GossipBoy.ca và reddit.com chia sẻ. Anh trai của cậu, Tanner, đã gợi ý cho Ellen DeGeneres- một người dẫn chương trình hàng đầu tại Mĩ xem MV đó, khi Ellen bắt đầu xem, video đã có khoảng 10.000 lượt xem, bị ấn tượng bởi Greyson, Ellen quyết định mời cậu bé ghi âm chương trinh nổi tiếng của mình - The Ellen DeGeneres Show vào ngày 12 tháng1 năm 2010. Vào thời điểm cậu dậy thì, tức lúc vỡ giọng vào năm 15 tuổi, cậu đã bị buộc phải rời khỏi công ty quản lý trong lúc đang ấp ủ một album mới vì giọng cậu bị ảnh hưởng khi vỡ giọng. Nhưng nhờ sự háo hức mong chờ của Enchancer(tên fan của cậu) cậu đã bắt đầu lại từ đầu và làm nên Planet X (tên album đánh dấu bước trưởng thành trong giọng hát của Greyson với tông giọng trầm vô hạn). Sau đó Greyson Chance chuyển sang công ty khác và ra mắt đĩa đơn Afterlife vào năm 2015. Full album S.O.M.H (Somewhere over my head) dự kiến sẽ lên kệ vào đầu 2016.

Danh sách đĩa hát[sửa | sửa mã nguồn]

Album[sửa | sửa mã nguồn]

Tên album Thông tin Vị trí cao nhất Số lượng bán ra
US
[2]
Hold on 'til the Night
  • Năm phát hành: ngày 2, tháng 8, năm 2011
  • Nhà phát hành: eleveneleven, Maverick Records, Geffen Records, Streamline
  • Định dạng: CD, kĩ thuật số
29
  • Mĩ: 16,000 (tuần đầu tiên)
Planet X
  • Năm phát hành: 2014
  • Nhà phát hành: Bill Silva Management
  • Định dạng: CD,kĩ thuật số
Chưa phát hành

Bản mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Tên đĩa Thông tin
Truth Be Told, Part 1
  • Năm phát hành: ngày 29 tháng 10 năm 2012
  • Nhà phát hành: eleveneleven, Maverick, Geffen, Atom Factory
  • Định dạng: CD, digital download

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Tên single Năm phát hành Vị trí cao nhất Album
US BEL
(FL)

[3]
"Waiting Outside the Lines" 2010 [upper-alpha 1] 45[upper-alpha 2] Hold On 'til the Night
"Unfriend You" 2011
"Hold On 'til the Night"
"Take a Look at Me Now" 2012
"Sunshine & City Lights" Truth Be Told, Part 1
"Thrilla In Manila" 2014 Planet X

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm phát hành Tên bài hát Đạo diễn
2010 "Waiting Outside the Lines" Sanaa Hamri
2011 "Unfriend You" Marc Klasfeld[5]
2011 "Hold On 'til the Night" Dano Cerny, Marielle Tepper
2012 "Sunshine & City Lights" Clarence Fuller

Tour diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách giải thưởng và danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Danh mục được đề cử Giải thưởng Kết quả
2010 Choice Web Star Teen Choice Awards Đề cử
Icon of Tomorrow J-14 Teen Icon Awards Đề cử
Teen Pick: YouTube Artist Hollywood Teen TV Awards Đoạt giải
2011 Favorite Viral Video Star People's Choice Awards Đề cử
Rockin’ New Artist of the Year Youth Rock Awards Đoạt giải
2012 Most Popular New International Artist of the Year MTV-CCTV Mandarin Music Awards Đoạt giải
2013 Most Dedicated Fan Army[6] Heat Tweets Award Đoạt giải
Greatest YouTube Star Popdust Award Đề cử

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “21 Under 21: Greyson Chance”. Billboard. Prometheus Global Media. Ngày 23 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2011. 
  2. ^ “Greyson Chance - Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014. 
  3. ^ a ă “Discografie Greyson Chance”. ultratop.be (bằng tiếng Hà Lan). Hung Medien. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2014. 
  4. ^ “Greyson Chance - Chart history”. Billboard. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2014. 
  5. ^ Gottlieb, Steven (ngày 20 tháng 5 năm 2011). “Video Static: Music Video News: IN PRODUCTION: Greyson Chance – Marc Klasfeld, dir.”. Video Static. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2011. 
  6. ^ Golby, Joel (ngày 7 tháng 5 năm 2013). “GALLERY: Check out all of heat's Twitter Awards winners!”. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2013. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “upper-alpha”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="upper-alpha"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu