Britney (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Britney
Album phòng thu của Britney Spears
Phát hành 5 tháng 11, 2001 (2001-11-05)
Thu âm Tháng 2 – Tháng 7, 2001
Thể loại
Thời lượng 39:36
Hãng đĩa Jive
Sản xuất
Thứ tự album của Britney Spears
Oops!... I Did It Again
(2000)
Britney
(2001)
In the Zone
(2003)
Đĩa đơn từ Britney
  1. "I'm a Slave 4 U"
    Phát hành: 24 tháng 9, 2001
  2. "Overprotected"
    Phát hành: 12 tháng 12, 2001
  3. "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman"
    Phát hành: 18 tháng 2, 2002
  4. "I Love Rock 'n' Roll"
    Phát hành: 27 tháng 5, 2002
  5. "Anticipating"
    Phát hành: 24 tháng 6, 2002
  6. "Boys"
    Phát hành: 29 tháng 7, 2002

Britneyalbum phòng thu thứ ba mang chính tên của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Britney Spears, phát hành ngày 5 tháng 11 năm 2001, bởi Jive Records. Với mong muốn chuyển đổi phong cách âm nhạc từ dòng nhạc teen pop trong hai album trước, ...Baby One More Time (1999) và Oops!... I Did It Again (2000), Spears đã bắt đầu khám phá thêm nhiều âm thanh mang hơi hướng trưởng thành hơn cho sản phẩm âm nhạc tiếp theo của mình. Britney là sự kết hợp giữa popdance-pop bên cạnh những yếu tố của R&B và cộng hưởng từ disco, hip hoprock; nội dung xuyên suốt lời bài hát của nó chủ yếu đề cập đến vấn đề trưởng thành và tình dục.[1] Album có sự tham gia của một loạt các nhà sản xuất mà Spears lần đầu cộng tác, bên cạnh những cộng tác viên quen thuộc như Max MartinRami Yacoub.[2] Khác với những album trước, bản thân cô cũng đóng góp nhiều hơn cho dự án của mình, tham gia viết lời cho 5 bài hát trong album.

Sau khi phát hành, Britney nhận được những ý kiến trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ giành nhiều lời khen ngợi cho sự tiến bộ trong âm nhạc của Spears, nhưng chỉ trích hình tượng ngày càng khiêu khích của cô. Nó ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 745.000 bản được tiêu thụ, giúp Spears trở thành nữ ca sĩ đầu tiên có 3 album phòng thu đầu tay đạt hạng nhất ngay trong tuần đầu, một kỷ lục sau đó bị chính cô phá vỡ một lần nữa với bản thu thứ tư In the Zone (2003). Để quảng bá cho album, Spears bắt tay thực hiện chuyến lưu diễn Dream Within a Dream Tour, bắt đầu vào tháng 11 năm 2001 và kết thúc vào tháng 7 năm 2002. Album còn nhận được một đề cử giải Grammy cho Album giọng pop xuất sắc nhất.[3] Tính đến nay, nó đã bán được hơn 15 triệu bản trên toàn cầu,[4] bao gồm 4.4 triệu bản được tiêu thụ tại Hoa Kỳ.[5]

Sáu đĩa đơn đã được phát hành từ album, nhưng ít gặt hái thành công hơn những người tiền nhiệm từ hai bản thu truớc. Britney trở thành album phòng thu đầu tiên của Spears không có đĩa đơn nào lọt vào top 20 của bảng xếp hạng Billboard Hot 100, nhưng chúng lại khá thành công trên thị trường quốc tế. Đĩa đơn thứ hai, "Overprotected" nhận được một đề cử giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Để chuẩn bị cho album mới này, Spears đã thu âm 23 ca khúc và chọn ra 12 trong số đó, theo cô đó là phần khó khăn nhất để hoàn thành sản phẩm cuối cùng. Cũng theo nữ ca sĩ, phần lớn các ca khúc trong này phản ánh cái tôi bên trong của cô, chính vì thế mà cô đã đặt tên nó là "Britney". Về việc tự sáng tác, ở 2 album trước cô đã từng thử sức với "I'm So Curious" và "Dear Diary", và lần này thì điều đó trở nên dễ dàng hơn khi cô được bộ đôi Josh và Brian hỗ trợ.[6] Chỉ cần Spears nghĩ ra ý tưởng là họ triển khai chúng, và từ đó Spears có thể viết nên giai điệu và lời cho bài hát. Spears nói "Đây là lần đầu tôi có thể tự lực sáng tác và dành thời gian thật sự cho công việc này, và khi nghe lại cả album thì tôi thấy việc tự sáng tác quả là đặc biệt. Tôi không nghĩ mình là người viết nhạc giỏi nhưng thực sự tôi cảm thấy vui vì thành quả của mình cũng như hi vọng khả năng này của mình sẽ ngày càng tốt lên.". Trong album lần này, Britney đã đồng tham gia sáng tác 6 ca khúc là "Lonely", "Anticipating", "Cinderella", "Let Me Be", "That's Where You Take Me", "Before the Goodbye" (bonus track); trong đó "Cinderella" là ca khúc được đánh giá cao nhất.

Sự trưởng thành mới mẻ trong album thể hiện ở việc Spears đã mạnh dạn làm việc với nhiều sản xuất mới. Bộ đôi The Neptunes gồm Pharrell WilliamsChad Hugo là một trong những nhà sản xuất được Britney chú ý đến đầu tiên. Trà lời với MTV, Spears cho biết "Tôi đã bị ảnh hưởng mạnh mẽ hip-hop và R&B khi tham gia tour lưu diễn trước đó, đặc biệt là Jay-Z và Neptunes, chính vì thế tôi đã xin phép Jive được làm việc với họ để tạo ra một âm thanh Britney "sexy, hoang dại và lôi cuốn hơn".. Sản xuất bởi Neptunes, I'm a Slave 4 U, đã được chọn là single chủ đạo cho album và các chuyên gia đã khen ngợi sự trưởng thành này của cô. Rodney Jerkins cũng là nhà sản xuất được cô để ý đến tiếp theo, và trong album này anh đã sản xuất cho cô "Lonely", "Let Me Be", "Overprotected" (phiên bản remix) và bản cover hit "I Love Rock 'n Roll" của Joan Jett và the Blackhearts. Trong album này, Britney cũng thu âm 1 ca khúc với người tình của cô - Justin Timberlake và nó có tên là "What It's Like To Be Me". Spears nói rằng cô có cảm giác một chút lúng túng khi làm việc với Justin và nó không hề giống khi làm việc với những nhà sản xuất khác [7]; mặc dù vậy cô vẫn hoàn thành tốt công việc và "What It's Like To Be Me" là một trong những track đáng nghe trong album lần này của cô. Sự mới mẻ trong album lần này của Britney còn thể hiện ở việc cô đã giảm bớt sự hợp tác với nhà sản xuất quen thuộc trước đó là Max Martin & Rami. Trong cả album, họ chỉ tham gia đồng sáng tác và sản xuất cho 4 track là "Overprotected", "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman", "Cinderella", "Bombastic Love" và giai điệu pop dễ nghe quen thuộc vẫn là đặc điểm chung của những track này!

Xét tổng thể, album thứ ba của Britney đã mang đến một thứ âm thanh sexy hơn đúng như những gì cô mong muốn, và mặc dù cái "sexy hoang dại" đó không phải là thông qua những từ như "hell" và "damn", thế nhưng điều đó vẫn không thể không làm các nhà phê bình đánh giá rằng cô lớn quá nhanh so với fan hâm mộ của mình. Đáp lại suy nghĩ này, Spears đáp rằng cô không hề có chủ ý rời bỏ các fan trẻ tuổi mà chỉ muốn tiếp cận các thính giả lớn tuổi hơn. Cô cũng nói thêm "Tôi không thể làm thêm một cái album ...Baby One More Time thứ 3 được, tôi phải thay đổi điều đó cũng như hi vọng mọi người cho rằng sản phẩm thật là cool!"

Đánh giá của các chuyên gia[sửa | sửa mã nguồn]

 Đánh giá chuyên môn
Điểm nhận xét
Nguồn Đánh giá
NME (7/10)[8]
AllMusic 4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[9]
Entertainment Weekly (C)[10]
Entertainment.ie 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[11]
Rolling Stone 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[12]

Metacritic chỉ cho album này 54/100 điểm, dựa trên ý kiến của 12 chuyên gia mainstream, số điểm thấp xa so với 72/100 mà họ dành cho album trước đó của Brit.[13]. Cùng chung với đánh giá không khả quan đó là Rolling Stone: "chỉ còn 1 tháng nữa là Spears bước sang tuổi 20 và rõ ràng cần phải trưởng thành hơn, tuy nhiên album này chưa thể đạt được điều đó", mặc dù vậy họ vẫn cho điểm album này ngang với album trước đó của cô! [12]

Tuy nhiên thì nhiều chuyên giá khác lại tán thành với album lần này của cô, tiêu biểu là AllMusic, cho album này tới 4.5/5 sao, đánh giá cao các track cũng như tên album, "Britney thực sự trưởng thành hơn khi nhấn sâu vào cái tôi cá nhân nhưng không hề mất đi cái mà người ta vẫn thường thấy ở cô".[9] Ấn phẩm số 1000 của tạp chí Entertainment Weekly ra ngày 4/7/2008 đã xếp hạng những bộ phim, show truyền hình, album và sách báo,… hay nhất từ năm 1983 đến 2000. Và trong mục "The Classics: Music", Britney đã được xếp thứ 97/100 trong danh sách 100 album hay nhất trong khoảng thời gian trên.[14]

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Britney ra mắt ở ngôi vị quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 với 746.744 bản được bán ra trong tuần đầu tiên, giúp Spears trở thành nghệ sĩ nữ đầu tiên trong kỉ nguyên SoundScan có 3 album đầu tay liên tiếp đạt vị trí quán quân trong tuần đầu tiên tại Hoa Kỳ.[15] Đến cuối năm 2002, album bán được 3,3 triệu bản tại Mỹ và con số này là khoảng 4.4 triệu bản cho tới năm 2015.

Tại Nhật Bản, Britney bán được 66.900 bản trong tuần đầu tiên và đạt vị trí #4 trên bảng xếp hạng Oricon. Tổng cộng album đã bán được 250.000 bản tại Nhật và được chứng nhận Bạch Kim. Album cũng đạt vị trí thứ 4 tại Anh, Úc và đều được chứng nhận Bạch Kim. Tổng cộng album đã bán được hơn 2 triệu trên thị trường châu Âu, chỉ bằng một nửa so với album Oops!... I Did It Again. Album cũng bán được 316.944 bản tại Canađa nhưng đây quả là một sự sụt giảm lớn về lượng tiêu thụ, chỉ bằng 44% lượng tiêu thụ của album trước đó. Như vậy, tổng cộng Britney đã bán được 15 triệu bản trên toàn thế giới.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Spears trình diễn ′′Overprotected′′ tại Dream Within a Dream Tour.

"I'm a Slave 4 U", single đầu album Britney, được viết và sản xuất bởi Neptunes. Ca khúc mang âm hưởng urban, với nhịp điệu chậm rãi, giọng hát sexy xen lẫn những tiếng thở mạnh của Britney, cùng với những ca từ hết sức khêu gợi, ca khúc đã thực sự gây shock với những fan trẻ tuổi của cô lúc bấy giờ. Ca khúc đã lọt vào #4 trên UK Singles Chart,[16] nhưng lại "mở màn" cho một chuỗi những thất bại về single tại Billboard Hot 100 khi không thể lọt vào top 10. Có thể nói Britney quan tâm đặc biệt đến ca khúc này: từ màn trình diễn quảng cáo cực kỳ đỉnh cao và ấn tượng tại MTV VMAs năm 2001 (mặc dù bị chỉ trích vì quá nóng cùng với việc lạm dụng hổ và trăn bởi PETA).[17]; cho đến phần video (đạo diễn bởi Francis Lawrence [18]) gây ấn tượng về trang phục cũng như những điệu luyện hết sức cuốn hút của Britney và cuối cùng là việc Britney liên tục quảng cáo nó trong tất cả các tour lưu diễn. Phần video cũng được đề cử 3 giải MTV VMAs năm 2002,[19] và được tạp chí MuchMusic của Canađa bầu chọn ở vị trí quán quân của "50 Sexiest Music Videos of All-Time".[20]

"Overprotected" được phát hành là single thứ 2 trên toàn thế giới ngoại trừ Mỹ và Canađa (tại 2 quốc gia này bản remix bởi Darkchild được phát hành thay thế và là single thứ 3)[21][22]. Ca khúc được đánh giá cao và được coi là điểm sáng trong album lần này của Britney[23]. Single cũng thành công khi lọt vào top 10 ở hầu hết các quốc gia, đạt hạng 4 tại Anh.[24] mặc dù nó thất bại nặng tại Mỹ. Do có 2 phiên bản single nên cũng có 2 phiên bản MV và cả 2 đều được đánh giá cao về vũ đạo cũng như bớt gây shock hơn MV trước đó. Ca khúc đã nhận được 1 đề cử cho "Giải Grammy cho Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất".

"I'm Not a Girl, Not Yet a Woman" là single thứ 2 tại Mỹ và Canađa (single thứ 3 ở các khu vực còn lại). Do đây là ca khúc chủ đạo của Crossroads – bộ phim đầu tay của Britney nên thời gian phát hành trùng vào dịp ra mắt bộ phim. Giới chuyên môn đánh giá cao ca khúc này và cho rằng đây là một trong những tuyên ngôn nổi bật trong Britney cũng như một trong những bản ballad hay nhất của Brit. Britney cũng coi đây là một trong những ca khúc cô yêu thích nhất. Mặc dù thành công tại nhiều nơi trên thế giới, thậm chí đạt vị trí á quân vài tuần tại Anh, song đây tiếp tục là 1 single thất bại nữa của cô tại quê nhà. Ca khúc được rất ít đài phát sóng và single thậm chí không thể leo nổi vào Billboard Hot 100. Britney cũng coi đây là một trong những ca khúc cô yêu thích nhất.

"Anticipating" là single thứ 4 được phát hành tại Pháp và Brazil. Giới chuyên môn khen nó với âm hưởng của nhạc disco những năm 1980. Ca khúc đạt hạng 38 tại Pháp mặc dù chỉ có màn live tại Dream Within a Dream Tour được sử dụng để quảng cáo nó. Trong khi đó, "I Love Rock 'n' Roll" được phát hành tại Úc, Canađa, châu Âu (trừ Pháp). Tuy nhiên, ca khúc này bị giới chuyên môn đánh giá là một trong những bản cover tồi tệ nhất; tại Anh ca khúc chỉ đạt hạng 13.[25]

"Boys": single thứ 4 tại Bắc Mỹ và thứ 5 tại châu Âu + Úc. Bản remix hát chung với tác giả của nó được ra mắt thay thế bản trong album[26]; và tất nhiên là bản remix được yêu thích hơn hẳn bản gốc: ca khúc tiếp tục là đĩa đơn top 10 của Spears tại Anh, tuy nhiên vẫn tiếp tục thất bại tại Mỹ. Ca khúc cũng được sử dụng trong soundtrack bộ phim của Austin PowersAustin Powers [27].

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Britney – Phiên bản tại Bắc Mỹ[28]
STT Tên bài hát Sáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "I'm a Slave 4 U"   The Neptunes 3:23
2. "Overprotected"  
  • Martin
  • Yacoub
3:18
3. "Lonely"  
  • Jerkins
  • Kierulf[a]
  • Schwartz[a]
3:19
4. "I'm Not a Girl, Not Yet a Woman"  
  • Martin
  • Yacoub
  • Dido
  • Martin
  • Yacoub
3:51
5. "Boys"  
  • Hugo
  • Williams
The Neptunes 3:26
6. "Anticipating"  
  • Spears
  • Schwartz
  • Kierulf
  • Kierulf
  • Schwartz
3:16
7. "I Love Rock 'n' Roll"   Jerkins 3:06
8. "Cinderella"  
  • Martin
  • Yacoub
  • Spears
  • Martin
  • Yacoub
3:39
9. "Let Me Be"  
  • Spears
  • Schwartz
  • Kierulf
  • Jerkins
  • Kierulf[a]
  • Schwartz[a]
2:51
10. "Bombastic Love"  
  • Martin
  • Yacoub
  • Martin
  • Yacoub
3:05
11. "That's Where You Take Me"  
  • Spears
  • Schwartz
  • Kierulf
  • Kierulf
  • Schwartz
3:32
12. "What It's Like to Be Me"  
  • Robson
  • Timberlake
2:50
Tổng thời lượng:
39:36
Chú thích
  • ^a nghĩa là xử lí giọng hát

Đội ngũ sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Invincible bởi Michael Jackson
Album quán quân Billboard 200
24 tháng 11 - 30 tháng 11, 2011
Kế nhiệm:
Scarecrow bởi Garth Brooks

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Argentina (CAPIF)[74] Bạch kim 40.000x
Úc (ARIA)[75] 2× Bạch kim 140.000^
Áo (IFPI Austria)[76] Bạch kim 30,000x
Bỉ (BEA)[77] Bạch kim 50.000*
Brazil (ABPD)[78] Vàng 50.000*
Canada (Music Canada)[79] 3× Bạch kim 316,944[80]
Đan Mạch (IFPI Denmark)[81] Bạch kim 50.000^
Phần Lan (Musiikkituottajat)[82] Vàng 16,551[82]
Pháp (SNEP)[83] Bạch kim 300.000*
Đức (BVMI)[84] Bạch kim 300.000^
Hungary (Mahasz)[85] Vàng 25,000x
Nhật (RIAJ)[86] Bạch kim 200.000^
Mexico (AMPROFON)[87] Bạch kim 150,000^
Hà Lan (NVPI)[88] Bạch kim 80,000^
New Zealand (RMNZ)[89] Vàng 7.500^
Na Uy (IFPI Norway)[90] Vàng 20.000*
South Africa (RiSA)[91] Bạch kim 50,000*
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[92] Bạch kim 100,000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[93] 2× Bạch kim 80.000x
Anh (BPI)[94] Bạch kim 459,000[95]
Hoa Kỳ (RIAA)[96] 4× Bạch kim 4,400,000^
Tóm lược
Châu Âu (IFPI)[97] 2× Bạch kim 2.000.000*

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Lễ trao giải Giải thưởng Kết quả
2002 Giải Grammy Album giọng pop xuất sắc nhất[98] Đề cử
2002 Giải Grammy Trình diễn giọng pop nữ xuất sắc nhất cho đĩa đơn Overprotected Đề cử

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Ngày Nhãn
Nhật Bản[99] 31 tháng 10, 2001 Sony Japan
Úc[100] 5 tháng 11, 2001 Sony
Áo[101]
Đức[101]
Thuỵ Sĩ[101]
Canada[102] 6 tháng 11, 2001
Hoa Kỳ[103] JIVE

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Stephen Thomas Erlewine (6 tháng 11 năm 2001). “Britney — Britney Spears”. AllMusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  2. ^ “Britney — Britney Spears: Credits”. Allmusic. Rovi Corporation. 6 tháng 11 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  3. ^ “Complete list of Grammy nominees; ceremony set for Feb. 23”. San Francisco Chronicle (Hearst Corporation). 8 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  4. ^ “Star Bursts”. The Wall Street Journal. 30 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2012. 
  5. ^ Trust, Gary (24 tháng 3 năm 2015). “Ask Billboard: Britney Spears's Career Sales”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ Corey Moss (ngày 25 tháng 10 năm 2001). “Britney Says Britney Reflects Who Britney Is”. MTV Music News. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2009. 
  7. ^ Jennifer Vineyard (ngày 23 tháng 8 năm 2001). “Britney Was 'Nervous' Recording With Justin”. MTV Music News. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2009. 
  8. ^ Britney Spears: Britney - Album Reviews. Nme.Com (ngày 30 tháng 10 năm 2001). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010.
  9. ^ a ă Erlewine, Stephen Thomas (tháng 11 năm 2001). “Britney review”. Allmusic. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007. 
  10. ^ Britney | Music. EW.com (ngày 12 tháng 11 năm 2001). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010.
  11. ^ [1] Được lưu trữ ngày 21 tháng 7 năm 2011 tại Wayback Machine
  12. ^ a ă Barry Walters (ngày 22 tháng 11 năm 2001). “Britney review”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 2 năm 2007. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2007. 
  13. ^ “Britney Spears:Britney (2001): Reviews”. Metacritic. CNET Networks, Inc. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2009. 
  14. ^ The New Classics: Music. Entertainment weekly, (ngày 18 tháng 6 năm 2007). Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2010.
  15. ^ “Britney Spears Biography”. People (Time Inc). Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  16. ^ The Official Charts Company (tháng 8 năm 2001). “UK Albums Chart”. Every Hit. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  17. ^ “MTV Video Music Awards 2001”. MTV. Ngày 6 tháng 9 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  18. ^ D'Angelo, Joe (ngày 20 tháng 9 năm 2001). “Britney Works Double-Time On Music Videos”. MTV News.  Đã bỏ qua tham số không rõ |she had also worked with Ryan putterill url= (trợ giúp);
  19. ^ “MTV Video Music Awards 2002”. MTV. Ngày 29 tháng 8 năm 2002. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  20. ^ MuchMusic (2007). “50 Sexiest Videos”. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2009. 
  21. ^ Billboard (ngày 21 tháng 2 năm 2002). “Britney's Bangin' The Clubs, Thanks To Rodney Jerkins”. MTV. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  22. ^ Billboard (ngày 20 tháng 3 năm 2002). “Overprotected”. AllBusiness.com. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  23. ^ Christgau, Robert (ngày 6 tháng 11 năm 2011). “Britney Spears Reviews”. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2011. 
  24. ^ The Official Charts Company (tháng 2 năm 2002). “UK Albums Chart”. Every Hit. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  25. ^ The Official Charts Company (tháng 11 năm 2002). “UK Albums Chart”. Every Hit. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  26. ^ “Britney Spears' World Debut of 'Boys (Co-ed Remix)' From Austin Powers in Goldmember Streamed 1.35 Million Times in 24 Hours, Smashing AOL Music's Previous 'First Listen' Records”. TimeWarner. Ngày 13 tháng 6 năm 2002. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  27. ^ “Get Funky With "Austin Powers" Sizzling Soundtrack”. Top40.com. Ngày 2 tháng 7 năm 2002. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2009. 
  28. ^ Britney (US CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 2001. 01241-41776-2. 
  29. ^ Britney (European CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 2001. 9222522. 
  30. ^ Britney (Australian CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 2001. 9222532. 
  31. ^ Britney (British CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 2001. 9222532. 
  32. ^ Britney (Japanese CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 2001. ZJCI-10047. 
  33. ^ Britney (Asian CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 2001. 9222542. 
  34. ^ Britney (Spanish CD liner notes). Britney Spears. JIVE Records. 2001. 9222532. 
  35. ^ “Britney Spears "Britney: The Videos". MyPlayDirect.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  36. ^ "Britney Spears – Britney". Australiancharts.com. Hung Medien.
  37. ^ "Britney Spears - Britney" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien.
  38. ^ "Britney Spears – Britney" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien.
  39. ^ "Britney Spears – Britney" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien.
  40. ^ “HITS — Os discos mais vendidos da semana”. ISTOÉ. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014. 
  41. ^ “HITS — Os discos mais vendidos da semana”. ISTOÉ. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2014. 
  42. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Britney Spears. Prometheus Global Media.
  43. ^ "Britney Spears – Britney". Danishcharts.com. Hung Medien.
  44. ^ "Britney Spears – Britney". Dutchcharts.nl. Hung Medien.
  45. ^ “Boy Bands Crowd U.K. Charts”. Billboard. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  46. ^ "Britney Spears – Britney". Lescharts.com. Hung Medien.
  47. ^ "Britney Spears: Britney" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland.
  48. ^ "Britney Spears - Britney". Charts.de. Media Control.
  49. ^ Fiasco, Lance (16 tháng 11 năm 2001). “Britney Spears' 'Britney' First Week Sales Top 745,000 Units”. idobi Radio. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2015. 
  50. ^ "Britney Spears – Britney". Italiancharts.com. Hung Medien.
  51. ^ "Britney Spears – Britney". Charts.org.nz. Hung Medien.
  52. ^ "Britney Spears – Britney". Norwegiancharts.com. Hung Medien.
  53. ^ “OLiS - sprzedaż w okresie 12.11.2001 - 18.11.2001”. ZPAV. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2013. 
  54. ^ “Spain Albums”. Billboard: 62. 24 tháng 11 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2015. 
  55. ^ “Music Divas & Rock Bands Top South African Certifications” (bằng tiếng English). RISA. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2016. 
  56. ^ "Britney Spears – Britney". Swedishcharts.com. Hung Medien.
  57. ^ "Britney Spears – Britney". Swisscharts.com. Hung Medien.
  58. ^ “Britney Spears — Artist — Official Charts”. Official Charts Company. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  59. ^ "Britney Spears Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Britney Spears. Prometheus Global Media.
  60. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Albums 2001”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  61. ^ “Jaaroverzichten 2001”. Ultratop. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  62. ^ “Rapports Annuel 2001”. Ultratop. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  63. ^ “Dido, Linkin Park Lead The Global 20 Of 2001”, Billboard, 26 tháng 2 năm 2002, truy cập ngày 1 tháng 5 năm 2014 
  64. ^ “Swiss End of Year Charts 2001”. Swiss Music Charts. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  65. ^ “UK Year-end Albums 2001” (PDF). The Official Charts Company. Chartplus.co.uk. tr. 3. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  66. ^ “ARIA Charts - End Of Year Charts - Top 100 Albums 2002”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  67. ^ “Jaaroverzichten 2002”. Ultratop. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  68. ^ “Rapports Annuel 2002”. Ultratop. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  69. ^ “Swiss End of Year Charts 2002”. Swiss Music Charts. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  70. ^ “UK Year-end Albums 2002” (PDF). The Official Charts Company. Chartplus.co.uk. tr. 3. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  71. ^ “2002 Year-End Charts”. Billboard. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2014. 
  72. ^ Sherry (14 tháng 12 năm 2009). “Britney Spears dominates Billboard end-of-year charts!”. Crushable. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  73. ^ http://www.mediatraffic.de/2000-2009-album-chart.htm.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  74. ^ Fernández Vitar, Manuel (6 tháng 4 năm 2002). “CAPIF figures confirm Argentina's worst fears”. Billboard. tr. 48. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  75. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2002 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  76. ^ “Austrian album certifications – Britney Spears – Britney” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập Britney Spears vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Britney vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  77. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2001”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. 
  78. ^ “Brasil album certifications – Britney Spears – Britney” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 
  79. ^ “Canada album certifications – Britney Spears – Britney”. Music Canada. 
  80. ^ Mike Bell. “Oops! Can she do it again?”. Jam!. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2013. 
  81. ^ “Denmark album certifications – Britney Spears – Britney”. IFPI Đan Mạch. 
  82. ^ a ă “Finland album certifications – Britney – Britney” (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. 
  83. ^ “France album certifications – Britney Spears – Britney” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. 
  84. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Britney Spears; 'Britney')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  85. ^ “Adatbázis – Arany- és platinalemezek – 2002” (bằng tiếng Hungary). Mahasz. 
  86. ^ “Japan album certifications – Britney Spears – Britney” (bằng tiếng Nhật). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Nhật Bản.  Chọn 2002年月 trong menu thả xuống
  87. ^ “Certificaciones – Britney Spears” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. 
  88. ^ “Netherlands album certifications – Britney Spears – Britney” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld - en geluidsdragers. 
  89. ^ “New Zealand album certifications – Britney Spears – Britney”. Recorded Music NZ. 
  90. ^ “Norwegian sales certification”. IFPI - Norway. 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  91. ^ “Mi2N: Music Divas & Rock Bands Top South African Certifications”. Music Industry News Network. 2 tháng 5 năm 2002. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2014. 
  92. ^ “Spain album certifications – Britney Spears – Britney” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España.  Chọn bảng xếp hạng, nhập ' vào khung "Year". Chọn ' trong khung "Semana". Nhấp vào "Search Charts"
  93. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Britney Spears; 'Britney')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. 
  94. ^ “Britain album certifications – Britney Spears – Britney” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014.  Nhập Britney vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  95. ^ “Eagles top UK album chart”. Music Week. 5 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014. 
  96. ^ “American album certifications – Britney Spears – Britney” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  97. ^ “IFPI Platinum Europe Awards – 2002”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. 
  98. ^ Darryl Morden (ngày 9 tháng 1 năm 2003). “Britney Calls Cops To Escape L.A. Deli”. Yahoo! Music News. 
  99. ^ “ブリトニー・スピアーズ: Britney”. Japan: Amazon.co.jp. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  100. ^ “Britney (+ 2 Bonus Tracks)”. Australia: JB Hi-Fi. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  101. ^ a ă â “Britney Spears: Britney”. Germany: Amazon.de. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  102. ^ “Britney Spears: Britney”. Canada: Amazon.ca. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 
  103. ^ “Britney Spears: Britney”. Amazon.com. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]