Invincible (album của Michael Jackson)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Invincible
Album phòng thu của Michael Jackson
Phát hành 30 tháng 10, 2001
Thu âm tháng 10, 1997 – tháng 6, 2001
Thể loại R&B đương đại, pop/rock, dance-pop, adult contemporary, urban[1]
Thời lượng 77:08
Hãng đĩa Epic Records
EK-69400
Sản xuất Michael Jackson, Rodney Jerkins, Teddy Riley, Kenneth "Babyface" Edmonds, R. Kelly, Dr. Freeze
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Michael Jackson
HIStory
(1995)
Invincible
(2001)
Đĩa đơn từ Invincible
  1. "You Rock My World"
    Phát hành: 22 tháng 8, 2001
  2. "Speechless"
    Phát hành: 17 tháng 10, 2001
  3. "Cry"
    Phát hành: 1 tháng 12, 2001
  4. "Butterflies"
    Phát hành: 8 tháng 2, 2002

Invincible là album phòng thu thứ 10 và cũng là cuối cùng của nghệ sĩ thu âm người Mỹ Michael Jackson, phát hành ngày 30 tháng 10 năm 2001, bởi hãng đĩa Epic Records.[2] Nó được phát hành sau 4 năm kể từ album phối lại Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix (1997), là album phòng thu đầu tiên của ông trong 6 năm kể từ HIStory: Past, Present and Future, Book I (1995) cũng như là album đầu tiên với toàn bộ là các bài hát mới kể từ album Dangerous phát hành năm 1991. Bìa album là hình khuôn mặt của Michael Jackson được biểu hiện qua năm màu sắc - đỏ, xanh lá cây, vàng cam, xanh da trời và bạc. Tương tự như các sản phẩm âm nhạc trước đây của ông, Jackson tiếp tục hợp tác với những cộng sự lâu năm như: Rodney Jerkins, R. Kelly và Teddy Riley. Nội dung xuyên suốt của album đề cập đến các vấn đề như tình yêu, sự cô lập, chỉ trích giới truyền thông, và các vấn đề xã hội. "Invincible" nhận được những đánh giá trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc đương đại.

Do những tranh chấp giữa Jackson và hãng đĩa,[3] tiến trình quảng bá cho album diễn ra rất ít ỏi. Bốn đĩa đơn được phát hành từ album, mặc dù tất cả đều được phát hành có giới hạn. Đĩa đơn chủ đạo "You Rock My World" chỉ được phát hành hạn chế trên radio, do đó chỉ đạt vị trí thứ 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Trên toàn cầu, nơi mà nó đã được phát hành thương mại rộng rãi, bài hát đã thành công hơn, khi đạt ngôi quán quân trên 5 bảng xếp hạng, trong khi "Speechless" được phát hành trên sóng radio ở Hàn Quốc. Đĩa đơn chính thức thứ hai, "Cry", không được phát hành tại Hoa Kỳ và đạt được thành công khiêm tốn trên các bảng xếp hạng. Đĩa đơn cuối cùng, "Butterflies" cũng chỉ được quảng bá tại Hoa Kỳ trên radio, do đó chỉ có thể vươn lên hạng 14 bảng xếp hạng đĩa đơn tại đây.

"Invincible" đã đạt vị trí số một tại 11 quốc gia thuộc vùng lãnh thổ trên toàn thế giới, bao gồm Hoa Kỳ (với doanh số 363.000 bản trong tuần đầu), Vương quốc Anh, Australia, Pháp và Thụy Sĩ. Album cũng nằm trong top 10 tại 6 quốc gia khác. Tính đến nay, hơn 13 triệu bản album đã được tiêu thụ trên toàn thế giới.[4]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Trong khoảng thời gian làm thành viên của The Jackson 5, Jackson thường xuyên đóng góp nhiều sáng tác cho nhóm và bắt đầu thực hiện nhiều dự án trên danh nghĩa nghệ sĩ solo, trong đó bao gồm album bán chạy nhất mọi thời đại Thriller (1982), bán được hơn 65 triệu bản kể từ khi phát hành, vô hình tạo nên áp lực cho các dự án sau của Jackson. Trước khi ra mắt Invincible, sản phẩm âm nhạc gần nhất của ông là Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix (1997), còn album phòng thu đã không phát hành trong 6 năm (HIStory: Past, Present and Future, Book I). Invincible được Jackson đánh dấu là "sự trở về đúng nghĩa cho sự nghiệp".[5]

Invincible là một sự tri ân của Jackson dành cho cậu bé 15 tuổi người Na Uy Benjamin "Benny" Hermansen, người đã bị đâm chết bởi một nhóm các phần tử phát xít ở Oslo, Na Uy, vào tháng 1 năm 2001.[6] Mặt khác, lý do của hành động trên là vì Omer Bhatti, một người bạn của Jackson, cũng là người bạn thân thiết của Hermansen.[6] Album này cũng thể hiện tình cảm yêu thương của Jackson dành cho bà Nicholette Sottile và cha mẹ của ông JosephKatherine Jackson.[6]

Quá trình thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson bắt đầu thực hiện những chất liệu mới cho album vào tháng 10 năm 1997, và kết thúc với việc thu âm "You Are My Life" chỉ 8 tuần trước ngày nó ra lò, trở thành album tốn kém thời gian nhất trong sự nghiệp của Jackson.[2] Những bài hát hợp tác với Rodney Jerkins được thu âm tại The Hit Factory ở Miami, Florida.[7] Jackson mong muốn có sự tham gia của ít nhất một rapper trong một bài hát, và phải là "rapper nổi tiếng".[2] Phát ngôn viên của Jackson đề nghị raper Fats đến từ New Jersey; sau khi Jackson nghe bản hoàn thiện của các bài hát, cả hai đồng ý thu âm cùng nhau một bài hát khác cho album.[2] Rodney Jerkins nói rằng Jackson đang tìm tòi một định hướng âm nhạc mới so với trước.[2] Jackson đóng vai trò sáng tác và sản xuất ở phần lớn các bài hát trong Invincible. Ngoài Jackson, album còn có sự góp sức từ Teddy Riley, Andre Harris, Andraeo "Fanatic" Heard, Kenneth "Babyface" Edmonds, R. KellyDr. Freeze Bill Gray và hỗ trợ viết lời từ Kelly, Fred Jerkins III, LaShawn Daniels, Nora Payne và Robert Smith.[8] Album đánh dấu lần thứ 3 Jackson và Riley cộng tác cùng nhau, hai lần trước là trong DangerousBlood on the Dance Floor: HIStory in the Mix. Việc thực hiện Invincible tiêu tốn 30 triệu đô-la,[9] trở thành album đắt nhất từng được thực hiện.[10]

Quảng bá và đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Sony Music đã chi ra 25 triệu đô la để quảng bá Invincible.[9][11] Mặc dù vậy, do những xung đột giữa Jackson và hãng thu âm, album không nhận được sự tiếp thị đáng kể nào.[12] Album sản sinh ba đĩa đơn, mặc dù tất cả đều phát hành giới hạn. "You Rock My World" chỉ được phát hành trên sóng phát thanh tại Hoa Kỳ, do đó chỉ có thể vươn đến vị trí thứ 10 trên Billboard Hot 100. Trên thị trường quốc tế, nơi mà nó được phát hành thương mại, bài hát đã thành công hơn, đạt hạng nhất tại Pháp, top 2 tại Na Uy, Phần Lan, Đan Mạch, Bỉ và Vương quốc Anh, top 5 tại Ý, Úc, Thụy Điển và Thụy Sĩ.[13] Đĩa đơn thứ hai, "Cry", không được phát hành tại Hoa Kỳ, và cũng chỉ đạt những vị trí tương đối ở các khu vực khác.[14]

Đĩa đơn thứ ba và cũng là cuối cùng, "Butterflies", chỉ phát hành trên sóng phát thanh Hoa Kỳ, và đạt vị trí thứ 14 trên Billboard Hot 100 và thứ hai trong 5 tuần trên Hot R&B/Hip-Hop Singles Chart.[15] Dù không phát hành chính thức, "Heaven Can Wait" cũng đạt vị trí thứ 72 trên R&B/Hip-Hop Charts do lượt yêu cầu trên sóng phát thanh.[15] "Unbreakable" ban đầu được dự định sẽ phát hành làm đĩa đơn, nhưng sau cùng đã bị hủy bỏ.[16] Tuy nhiên, sau đó nó cũng xuất hiện trong box set The Ultimate Collection.

Khác với những album phát hanh lúc trưởng thành của Jackson, không có tour diễn thế giới nào để quảng bá cho album. Thay vào đó, một chương trình đặc biệt kỷ niệm 30 năm ca hát của ông đã diễn ra tại Madison Square Garden vào tháng 9 năm 2001, đánh dấu cột mốc Michael Jackson dưới danh nghĩa nghệ sĩ hát đơn. Ông biểu diễn "You Rock My World" trong Invincible và tái hợp cạnh các anh em mình trên sân khấu, lần đầu tiên kể từ Victory Tour (1984).[17] Chương trình còn có sự tham gia trình diễn của Whitney Houston, Britney Spears, Mýa, Usher, Tamia, 'N Sync, và Slash, cùng nhiều nghệ sĩ khác.[18] Buổi ghi hình phát sóng trên CBS vào tháng 10 năm 2001 kéo dài 2 giờ đã thu hút 29,8 triệu người xem.[19]

Sau quyết định chấm dứt mọi hành động quảng bá một cách đột ngột của Sony, vào tháng 7 năm 2002, Jackson đã gọi Mottola là một "con quỷ" và "kẻ phân biệt chủng tộc" vì không ủng hộ các nghệ sĩ Mỹ gốc Phi, mà chỉ đơn thuần sử dụng họ cho lợi ích cá nhân.[9][20] Nam ca sĩ còn cáo buộc Sony và ngành công nghiệp thu âm có hành vi phân biệt chủng tộc, cố tình ngăn cản việc quảng bá album của ông.[21] Sony sau đó tuyên bố rằng họ thừa nhận việc tiếp thị Invincible không đủ mạnh, tuy nhiên họ cũng đổ lỗi cho Jackson vì ông từ chối lưu diễn ở Hoa Kỳ.[21]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Invincible
STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
1. "Unbreakable" (hợp tác với The Notorious B.I.G.) Jackson, Daniels, Jerkis, Payne, Smith, Wallace 6:26
2. "Heartbreaker"   Jackson, Jerkins, Jerkins III, Daniels, Mischke, Gregg 5:09
3. "Invincible"   Jackson, Daniels, Gregg, Jerkins, Jerkins 4:46
4. "Break of Dawn"   Jackson, Dr. Freeze 5:32
5. "Heaven Can Wait"   Jackson, Riley, Heard, Smith, Beal, Laues, Quiller 4:49
6. "You Rock My World" (hợp tác với Chris Tucker) Jackson, Daniels, Jerkins, Jerkins, Payne 5:39
7. "Butterflies" (hợp tác với Marsha Ambrosius) Harris, Ambrosius 4:40
8. "Speechless"   Jackson 3:18
9. "2000 Watts"   Jackson, Riley, Gibson, Henson 4:24
10. "You Are My Life"   Jackson, Babyface, Sager, McClain 4:33
11. "Privacy"   Jackson, Belle, Daniels, Jerkins, Jerkins 5:05
12. "Don't Walk Away"   Jackson, Riley, Stites, Vertelney 4:24
13. "Cry"   R. Kelly 5:00
14. "The Lost Children"   Jackson 4:00
15. "Whatever Happens" (hợp tác với Carlos Santana) Jackson, Riley, Quay, Williams 4:56
16. "Threatened"   Jackson, Jerkins, Jerkins III, Daniels 4:18
Tổng thời lượng:
77:08

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Invincible”. AllMusic. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ a ă â b c Jayson Rodriguez (ngày 25 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson's Musical Legacy, From The Jackson 5 To Invincible”. MTV. Viacom. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “mtvinfo1” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  3. ^ Taraborrelli, p. 614–617
  4. ^ Tamara Conniff (ngày 30 tháng 8 năm 2009). “We Killed Michael Jackson”. Huffington Post. HuffingtonPost.com, Inc. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2009. 
  5. ^ Stephen Thomas Erlewine. “Michael Jackson: Invincible”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  6. ^ a ă â Liz McNamaba (ngày 23 tháng 10 năm 2001). “Jacko dedicates Invincible to Benjamin”. Aftenposten. Schibsted ASA. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. [liên kết hỏng]
  7. ^ Linda Hobbs (ngày 5 tháng 9 năm 2009). “Rodney Jerkin's Talks MJ's Last Studio Album, Invincible”. Vibe. Viacom. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  8. ^ Invincible liner notes Epic Records (2001).
  9. ^ a ă â Jennifer Vineyard (ngày 2 tháng 7 năm 2002). “Michael Jackson Shocks Al Sharpton By Calling Tommy Mottola A Racist”. MTV. Viacom. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  10. ^ Branigan, Tania (ngày 8 tháng 9 năm 2001). “Jackson spends £20m to be Invincible”. The Guardian. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013. 
  11. ^ Katherine Laidlaw (ngày 25 tháng 6 năm 2009). “Key Facts about Michael Jackson's life”. National Post. CanWest Global Communications. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  12. ^ Taraborrelli, p. 611
  13. ^ “Michael Jackson - You Rock My World (chanson)”. LescCharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  14. ^ “Michael Jackson - Cry (chanson)”. LesCharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  15. ^ a ă “allmusic (((Invincible > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  16. ^ Invincible pack-on-stocker Epic Records (2001).
  17. ^ Tania Branigan (ngày 8 tháng 9 năm 2001). “Jackson spends £20m to be Invincible”. The Guardian (London: Guardian Media Group). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  18. ^ George, p. 50–53
  19. ^ “Jackson's CBS Special Moonwalks Over Rivals”. Billboard. Ngày 15 tháng 11 năm 2001. 
  20. ^ Taraborrelli, p. 610–611
  21. ^ a ă Bernard Zuel (ngày 20 tháng 11 năm 2003). “Falling star”. The Sydney Morning Herald (Fairfax Media). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  22. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Michael Jackson - Invincible (album)”. LesCharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 20 tháng 10 năm 2012. 
  23. ^ a ă “Jackson's 'Invincible' To Debut At No. 1”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 7 tháng 11 năm 2001. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010. 
  24. ^ a ă â b c “Invincible - Michael Jackson (2001)”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  25. ^ “Album Top 100: 03/11/2001”. LesChats.com. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  26. ^ “Michael Jackson - Invincible”. The Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  27. ^ “Week of ngày 17 tháng 11 năm 2001”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2010. 
  28. ^ “ARIA Top 100 Albums Chart”. HitParade.ch. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  29. ^ “Week of ngày 25 tháng 7 năm 2009: Biggest Jump”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  30. ^ “Classifica settimanale dal 13/07/2009 al 19/07/2009”. Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  31. ^ “Top 100 México”. MexicanCharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  32. ^ “Alben Top 100 19.07.2009”. HitParade.ch. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2010. 
  33. ^ “Week of ngày 11 tháng 7 năm 2009: Biggest Jump”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2010. 
  34. ^ “Argentina album certifications – Michael Jackson – Invincible”. Argentine Chamber of Phonograms and Videograms Producers. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  35. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2001 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  36. ^ “Austrian album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nhập Michael Jackson vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Invincible vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  37. ^ a ă “Finland album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Phần Lan). IFPI Phần Lan. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  38. ^ “France album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  39. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Michael Jackson; 'Invincible')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  40. ^ “México album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  41. ^ “Netherlands album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld - en geluidsdragers. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  42. ^ “New Zealand album certifications – Michael Jackson – Invincible”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  43. ^ “Poland album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Ba Lan). Polish Producers of Audio and Video (ZPAV). Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  44. ^ “Portugal album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Fonográfica Portuguesa. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  45. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2001” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  46. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Michael Jackson; 'Invincible')”. Hung Medien. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 
  47. ^ “Britain album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nhập Invincible vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  48. ^ “American album certifications – Michael Jackson – Invincible” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search
  49. ^ “IFPI Europe Awards – 2001”. Liên đoàn Công nghiệp ghi âm quốc tế. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014. 

Tài liệu[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]