Dangerous (album của Michael Jackson)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Dangerous (album))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Dangerous
Album phòng thu của Michael Jackson
Phát hành 26 tháng 11, 1991
Thu âm 25 tháng 6, 1990 - 29 tháng 10, 1991
Thể loại R&B, club/dance, dance-pop, urban, Pop rock, new jack swing[1]
Thời lượng 76:58
Hãng đĩa Epic Records
EK-45400
Sản xuất Michael Jackson
Teddy Riley
Bill Bottrell
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Michael Jackson
Bad
(1987)
Dangerous
(1991)
HIStory
(1995)
Bìa thay thế
Bản đặc biệt
Đĩa đơn từ Dangerous
  1. "Black or White"
    Phát hành: 11 tháng 10, 1991
  2. "Remember the Time"
    Phát hành: 3 tháng 2, 1992
  3. "In the Closet"
    Phát hành: 20 tháng 4, 1992
  4. "Who Is It"
    Phát hành: 13 tháng 7, 1992
  5. "Jam"
    Phát hành: 31 tháng 8, 1992
  6. "Heal the World"
    Phát hành: 23 tháng 11, 1992
  7. "Give In to Me"
    Phát hành: 15 tháng 2, 1993
  8. "Will You Be There"
    Phát hành: 28 tháng 6, 1993
  9. "Gone Too Soon"
    Phát hành: 6 tháng 9, 1993

Dangerousalbum phòng thu thứ tám của nam ca sĩ nhạc pop người Mỹ Michael Jackson, phát hành ngày 26 tháng 11 năm 1991 bởi hãng đĩa Epic. Đây là album đầu tiên của ông thực hiện sau khi kí hợp đồng mới với Sony Music, và cũng là album đầu tiên kể từ Forever, Michael (1973) mà không có sự tham gia sản xuất của Quincy Jones, người đã đồng ý kết thúc mối quan hệ hợp tác dài lâu sau album Bad (1987). "Dangerous" đã bán được hơn 30 triệu album trên toàn thế giới, trong đó có 7 triệu album đã được tiêu thụ tại Mỹ, và đã trở thành một trong những album bán chạy nhất mọi thời đại.[2][3][4] Album đã sản sinh 4 đĩa đơn lọt vào top 10 bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong đó có một đĩa đơn đạt vị trí số một. Tương tự như các album trước đây của ông, phần âm nhạc của album bao gồm các yếu tố của nhạc R&B, pop và rock cũng như kết hợp một thể loại nhạc mới mẻ, new jack swing, sau khi nhà sản xuất Teddy Riley thuyết phục Jackson cho một sự cách tân mới trong âm nhạc.

"Dangerous" đã được sản xuất trong hơn một năm. Các chủ đề chính được thể hiện trong album bao gồm sự phân biệt chủng tộc, đói nghèo, bệnh hoang tưởng, tình yêu, trẻ em và thế giới. Chín đĩa đơn được phát hành từ album Dangerous giữa tháng 11 năm 1991 đến tháng 12 năm 1993, với bảy đĩa đơn phát hành tại Hoa Kỳ, và hai bài khác chỉ được phát hành bên ngoài nước Mỹ. Hai đĩa đơn phát hành bên ngoài nước Mỹ đã thành công khi nằm trong top 10 và 40 của nhiều quốc gia. "Dangerous" đã đạt vị trí số một tại 9 quốc gia, trong khi nằm trong top 10 ở hầu hết các quốc gia mà nó xuất hiện. Đây là album thứ hai của Michael Jackson đạt được vị trí quán quân trên bảng xếp hạng album Billboard 200 ngay trong tuần đầu tiên, và giữ nguyên vị trí này trong 4 tuần liên tiếp. Các bài hát không được phát hành làm đĩa đơn là "Why You Wanna Trip on Me", "She Drives Me Wild", "Can't Let Her Get Away" và "Keep the Faith" trong khi "Dangerous" ban đầu được dự định phát hành video và đĩa đơn nhưng đã bị hoãn lại vô thời hạn do tour diễn của nam ca sĩ và các vấn đề cá nhân sau đó.

Đây là album đầu tiên được sản xuất hoàn toàn bởi Jackson, cùng với sự góp sức từ Bill Bottrell và Teddy Riley. Tên của Jackson được ghi là tác giả trên tất cả các bài hát trong album ngoại trừ hai bài. Album này nhận được nhiều đề cử giải Grammy và giành được một giải cho "Album kĩ xảo nhất" - người chiến thắng là Bruce Swedien & Teddy Riley.[5] Ngoài thành công thương mại, album đã nhận được sự hoan nghênh từ phê bình đương đại. Họ cũng công nhận đây là album new jack swing thành công nhất mọi thời đại.[6]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Michael Jackson năm 1988

Vào tháng 1 năm 1989, sau chuyến lưu diễn thành công kéo dài 2 năm để quảng bá cho album Bad, Jackson quyết định tập trung phát triển những dự án khác ngoài âm nhạc, bao gồm hợp đồng quảng cáo giày thể thao L.A. Gear. Ông cũng lên kế hoạch phát hành hai ấn phẩm tuyển tập hit, Decade 1979-1989Decade 1980-1990, bao gồm những tuyệt phẩm từ các album phòng thu Off the Wall, Thriller, và Bad, bên cạnh nhiều bản demo chưa từng phát hành trước đó cũng như những bài hát mới trong đó có một bản hát lại bài hát "Strawberry Fields Forever" của The Beatles.

Năm 1988, CBS Records được mua lại bởi Sony Music, giúp hãng này nắm giữ quyền phân phối các bản ghi của nghệ sĩ thuộc các công ty con như EpicColumbia. Tháng 3 năm 1991, chỉ vài ngày sau khi em gái Janet Jackson ký kết một thỏa thuận thu âm 32 triệu đô-la với hãng Virgin Records, Jackson đã ký kết một hợp đồng với Sony Music trị giá được công bố là 50 triệu đô-la, trở nên bản hợp đồng béo bở nhất lịch sử âm nhạc, theo đó Jackson sẽ phát hành cho hãng này ít nhất ba album phòng thu (Dangerous, đĩa thứ hai của HIStoryInvincible), một album phối lại (Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix), hai album tổng hợp (đĩa đầu tiên của HIStoryNumber Ones) và một box set (The Ultimate Collection).

Quá trình ghi âm[sửa | sửa mã nguồn]

Buổi thu âm đầu tiên cho Dangerous đã được diễn ra tại Phòng thu số 2 của Record One và Ocean Way ở Los Angeles, từ 25 tháng 6 năm 1990, và kết thúc vào ngày 29 tháng 10 năm 1991, kéo dài 16 tháng, trở thành album mất thời gian thực hiện nhất trong sự nghiệp của Jackson, khác với những sản phẩm trước thường mất khoảng 6 tháng.

Sau khi Jackson và Bottrell bắt đầu thực hiện vài bài hát trong đó có "Dangerous", ông quyết định mời Teddy Riley để cộng tác vài khâu sản xuất cho album. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1979, album của Jackson không có sự tham gia của Quincy Jones, cộng tác viên quen thuộc trong Off the Wall, Thriller, và Bad. Theo Jones, ông đã thuyết phục Jackson để Riley thay thế vị trí của ông.

Quá trình thu âm cho Dangerous đã phải trì hoãn do vấn đề sức khỏe của Jackson, khiến ông phải đến bệnh viện ở L.A. để kiểm tra sau khi thấy tức ngực. Sau đó, ông tiếp tục thực hiện album, với mong muốn mang đến những âm thanh nặng hơn so với trước, một quyết định lấy cảm hứng từ album của em gái Janet, Janet Jackson's Rhythm Nation 1814. Trước khi làm việc với Riley, Jackson thể hiện mong muốn làm việc với các nhà sản xuất như Kenneth "Babyface" EdmondsAntonio "L.A." Reid. Cùng khoảng thời gian đó, Jermaine Jackson, anh trai của ông sau khi ký hợp đồng với La Face Records, đã làm việc với họ mà không tiết lộ điều đó với Michael trước, khiến Jackson cảm giác như là một hành động phản bội, dù sau này ông đã bác bỏ. Jermaine sau này đã sáng tác bài hát "Word to the Badd", với những nội dung tiêu cực hướng về phía em trai mình, nhưng lại thanh minh rằng nó chỉ nhắm vào một mối quan hệ xấu.

Nhiều ca khúc thu âm cho Dangerous nhưng cuối cùng bị loại bao gồm "Monkey Business"; "She Got It"; "Work That Body"; "Serious Effect" (có sự góp giọng của rapper LL Cool J); "If You Don't Love Me"; bản ballad "For All Time"; "Earth Song," sau này được đưa vào album HIStory: Past, Present and Future, Book I (1997); 2 bài hát "Superfly Sister" và "Blood on the Dance Floor", sau này xuất hiện trong album phối lại, Blood on the Dance Floor: HIStory in the Mix (1997).[7] "Joy" - ca khúc sau này do Blackstreet thể hiện trong album đầu tay của chính họ (1994) và phát hành làm đĩa đơn thứ ba, ban đầu được Riley làm cho Dangerous.[8]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Dangerous chính thức phát hành vào ngày 26 tháng 11 năm 1991. Trong tuần đầu phát hành, nó ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng Billboard 200, và trụ lại đó trong 4 tuần, kéo dài 2 năm khác nhau. Doanh số tiêu thụ của album đã cán mốc 7 triệu bản trong hai tháng, trở thành album bán chạy nhanh nhất của Jackson ở Mỹ, phá vỡ kỷ lục trước đó Bad (bán được 7 triệu trong 4 tháng). Album được chứng nhận 7 lần đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA), ghi nhận con số tiêu thụ tại đây là 7 triệu bản.[9]

Trên thi trường quốc tế, Dangerous thống trị ở Vương quốc Anh ngay tuần đầu tiên, cũng như đạt ngôi vị quán quân ở nhiều quốc gia khác như Úc, Pháp, Đức, Hà Lan và Tây Ban Nha. Nó cũng là một thành công lớn ở các nước châu Á. Tính đến nay, album đạt bán được hơn 35 triệu bản trên toàn thế giới.[2][3][4][10][11]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Tương tự như Bad 4 năm trước, những kỳ vọng một lần nữa được đặt ra cho Dangerous. Vào tháng 9 năm 1991, Jackson thỏa thuận phát hành video của mình trên mạng truyền hình Fox bên cạnh các kênh âm nhạc truyền thống như MTV, BETVH1. Video ca nhạc 11 phút cho "Black or White" được ra mắt vào ngày 14 tháng 11 năm 1991 tại 27 quốc gia và đạt cột mốc lên đến 500 triệu lượt xem, một con số kỷ lục đối với một video âm nhạc.[12] Việc phát sóng và những tranh cãi từ nội dung video đã thu hút sự chú ý cho Dangerous, cũng như hai video khác của Jackson cho "Remember the Time" và "In the Closet". Buổi hòa nhạc đặc biệt của Jackson, Michael Jackson: Live in Bucharest, phát trên HBO, cũng giúp số lượng đĩa Dangerous tăng vọt trở lại ngay sau khi nó lên sóng vào tháng 10 năm 1992. Sau nhiều tuần sụt giảm doanh thu lần nữa, Jackson xuất hiện dày đặc vào đầu năm 1993 bao gồm giải thưởng Âm nhạc Mỹgiải Grammy, nơi ông nhận "Giải thưởng Huyền thoại sống" do em gái Janet của mình giới thiệu và trao giải, cũng như cuộc phỏng vấn trực tiếp với Oprah Winfrey, đã giúp album trở lại top 10.

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn đầu tiên của album, "Black or White", phát hành vào tháng 11 năm 1991, ngay lập tức trở thành hit số một, ra mắt ở phần trên bảng xếp hạng, và đạt hạng nhất ở Mỹ trong 7 tuần. Nó là đĩa đơn duy nhất từ album thống trị các bảng xếp hạng nhạc pop. Jackson có 4 đĩa đơn top 10 ở Mỹ từ Dangerous bao gồm "Remember the Time" đạt hạng 3 và hạng nhất trên bảng xếp hạng R&B, "In the Closet" cũng làm được điều tương tự, trong khi đạt vị trí thứ 6 trên Hot 100.

Đĩa đơn top 10 cuối cùng trong album là "Will You Be There", đạt vị trí thứ 7 và xuất hiện trong nhạc phim Free Willy. "Who is It" đạt hạng 14, trong khi "Jam" và "Heal the World" lọt đến top 30 của Hot 100, vị trí thấp nhất của Jackson kể từ đầu năm 1979. Những đĩa đơn được phát hành ngoài Hoa Kỳ bao gồm "Give In to Me" và "Gone Too Soon", trong đó "Give In to Me" lọt vào top 5 ở Anh quốc, Hà Lan, Úc và đứng đầu bảng xếp hạng ở New Zealand, trong khi "Gone Too Soon" nhận được những hiệu ứng vừa phải, trở thành hit top 40.

Những đĩa đơn trích từ Dangerous đã trở nên nổi tiếng hơn so với quê nhà Hoa Kỳ của nam ca sĩ: tại Anh, 7 trong số các đĩa đơn từ album đều vươn đến top 10 tại đây, tương tự với Bad đạt được năm 2009. Đây là một kỷ lục đối với bất kỳ album phòng thu nào được phát hành tại Anh quốc, cho đến khi Calvin Harris phá vỡ nó vào năm 2013.

Đề cử giải Grammy[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đề cử cho Giải thưởng Kết quả
1993 Dangerous Album kĩ xảo nhất Đoạt giải
"Black or White" Ca sĩ thể loại giọng pop xuất sắc nhất Đề cử
"Jam" Ca sĩ thể loại giọng R&B xuất sắc nhất Đề cử
"Jam" Ca khúc R&B của năm Đề cử

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên nhạc phẩm Sáng tác Thời lượng
1. "Jam" (hợp tác với Heavy D) Michael Jackson, René Moore, Bruce Swedien, Teddy Riley 5:39
2. "Why You Wanna Trip on Me"   Teddy Riley, Bernard Belle 5:25
3. "In the Closet" (hợp tác với Công chúa Stéphanie của Monaco) Michael Jackson, Teddy Riley 6:32
4. "She Drives Me Wild" (hợp tác với Wreckx-n-Effect) Michael Jackson, Teddy Riley; lời rap: Aqil Davidson 3:42
5. "Remember the Time"   Teddy Riley, Michael Jackson, Bernard Belle 4:01
6. "Can't Let Her Get Away"   Michael Jackson, Teddy Riley 5:00
7. "Heal the World"   Michael Jackson 6:25
8. "Black or White" (hợp tác với L.T.B.) Michael Jackson; lời rap: Bill Bottrell 4:16
9. "Who Is It"   Michael Jackson 6:34
10. "Give In to Me" (hợp tác với Slash) Michael Jackson, Bill Bottrell 5:29
11. "Will You Be There" (Nhạc phim Free Willy) Michael Jackson 7:39
12. "Keep the Faith" (hợp tác với The Andraé Crouch Singers) Glen Ballard, Siedah Garrett, Michael Jackson 5:57
13. "Gone Too Soon"   Larry Grossman, Buz Kohan 3:24
14. "Dangerous"   Michael Jackson, Bill Bottrell, Teddy Riley 7:00

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[20] 10× Bạch kim 700.000^
Áo (IFPI Austria)[21] 4× Bạch kim 200.000x
Brazil (ABPD)[22] Vàng 1,000,000[23]
Canada (Music Canada)[24] 6× Bạch kim 600.000^
Chile (IFPI)[25] 5× Bạch kim 125,000
Phần Lan (Musiikkituottajat)[26] Bạch kim 61,896[26]
Pháp (SNEP)[27] Kim cương 2,000,000[28]
Đức (BVMI)[29] 4× Bạch kim 2.000.000^
Indonesia 500,000[30]
Ý (FIMI)[31] 650,000[32]
Nhật (RIAJ)[33] 2× Bạch kim 400.000^
Malaysia (RIM)[34] 7× Bạch kim 175,000
Mexico (AMPROFON)[35] 2× Bạch kim+Vàng 600,000^
Hà Lan (NVPI)[36] 3× Bạch kim 300.000^
New Zealand (RMNZ)[37] 6× Bạch kim 90.000^
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[38] 6× Bạch kim 600.000^
Thụy Điển (GLF)[39] 3× Bạch kim 300.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[40] 5× Bạch kim 250.000x
Thailand 300,000[41]
Anh (BPI)[42] 6× Bạch kim 2,010,069[43]
Hoa Kỳ (RIAA)[44] 7× Bạch kim 7.000.000^

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Dangerous”. AllMusic. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ a ă “Michael Jackson's Life & Legacy: The Eccentric King Of Pop (1986–1999)”. MTV. MTV. Ngày 6 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2010. 
  3. ^ a ă Levis, Mike: Asia Pacific: The Media at Large, page 68. Billboard magazine (ngày 20 tháng 5 năm 1995).
  4. ^ a ă “Michael Jackson: The Numbers, An Exclusive Look Into The Lifetime Sales Of The King Of POP”. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  5. ^ “Grammy for Bruce Swedien & Teddy Riley”. Grammy. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2009. 
  6. ^ Carter, Kelley L. (ngày 11 tháng 8 năm 2008). “New jack swing”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2008. 
  7. ^ Allah, Dasun. “When Heaven Can Wait: Teddy Riley Remembers Michael Jackson”. hiphopwired.com. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  8. ^ Ivory. “SoulBounce's Class Of 1994: Blackstreet 'Blackstreet'. soulbounce.com. Soul Bounce. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2015. 
  9. ^ “Gold and Platinum”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2008. 
  10. ^ “Michael Jackson BBC Obituary”. BBC.com. Ngày 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2009. 
  11. ^ “Michael Jackson sulla sedia a rotelle”. AffarItaliani.it. Ngày 11 tháng 7 năm 2008. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2009. 
  12. ^ Phalen, Tom (ngày 16 tháng 11 năm 1991). “Living | Jackson Alters His New Video | Seattle Times Newspaper”. Community.seattletimes.nwsource.com. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2010. 
  13. ^ “Die ganze Musik im Internet: Charts, News, Neuerscheinungen, Tickets, Genres, Genresuche, Genrelexikon, Künstler-Suche, Musik-Suche, Track-Suche, Ticket-Suche”. musicline.de. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  14. ^ a ă ds. “Čns Ifpi”. Ifpicr.cz. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  15. ^ “Oficjalna lista sprzedaży:: OLIS – Official Retail Sales Chart”. OLIS. Ngày 27 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2012. 
  16. ^ Mexican Albums Chart Week 29 – 2009
  17. ^ July 6 – ngày 12 tháng 7 năm 2009
  18. ^ “Best-selling Albums”. Austriancharts.at (bằng tiếng German). Hung Medien. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2010. 
  19. ^ Geoff Mayfield (ngày 25 tháng 12 năm 1999). 1999 The Year in Music Totally '90s: Diary of a Decade – The listing of Top Pop Albums of the '90s & Hot 100 Singles of the '90s. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  20. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2011 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  21. ^ “Austrian album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo.  Nhập Michael Jackson vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Dangerous vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  22. ^ “Brasil album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. 
  23. ^ “Rock And Roll”. rockandroll.gr. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2012. 
  24. ^ “Canada album certifications – Michael Jackson – Dangerous”. Music Canada. 
  25. ^ “Récord de Ana Gabriel” (bằng tiếng Spanish). El Tiempo. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2012. 
  26. ^ a ă “Finland album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Phần Lan). IFPI Phần Lan. 
  27. ^ “France album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. 
  28. ^ “Les Meilleures Ventes de CD/Albums depuis 1968:” (bằng tiếng French). infodisc.fr. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012. 
  29. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Michael Jackson; 'Dangerous')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. 
  30. ^ Krishna Sen and David T. Hill. Media,Culture and Politics indonesia. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  31. ^ “Italy album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (PDF) (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. 
  32. ^ “E' Claudio Baglioni il Jackson italiano”. La Stampa. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2012. 
  33. ^ “RIAJ > The Record > November 1996 > Highest Certified International Albums/Singles (Mar '89 - Sep '96)” (PDF). Recording Industry Association of Japan (bằng tiếng Japanese). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  34. ^ “Michael Jackson award”. Sony Music Entertainment. LiveAuctioneers. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2012. 
  35. ^ “Certificaciones 2009”. AMPROFON (bằng tiếng Spanish). Facebook. 2009. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2013. 
  36. ^ “Netherlands album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Hà Lan). Nederlandse Vereniging van Producenten en Importeurs van beeld - en geluidsdragers. 
  37. ^ “Latest Gold / Platinum”. Radioscope. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 7 năm 2011. 
  38. ^ Salaverri, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 
  39. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 1987−1998” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. 
  40. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Michael Jackson; 'Dangerous')”. Hung Medien. 
  41. ^ Business Review. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  42. ^ “Britain album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp) Nhập Dangerous vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Album trong khung By Format. Nhấn Search
  43. ^ “Michael Jackson sales special”. music week. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2012. 
  44. ^ “American album certifications – Michael Jackson – Dangerous” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Album rồi nhấn Search