Bad (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bad
Album phòng thu của Michael Jackson
Phát hành 31 tháng 8, 1987
Thu âm 5 tháng 1 – 9 tháng 7 1987 tại Westlake Recording Studios
Thể loại Soul, R&B, Dance-pop, Urban, Pop rock[1]
Thời lượng 48:16
Hãng đĩa Epic
EK-40600
Sản xuất Michael Jackson,
Quincy Jones[2]
Đánh giá chuyên môn
Thứ tự album của Michael Jackson
Thriller
(1982)
Bad
(1987)
Dangerous
(1991)
Alternate covers
Bản đặc biệt
Đĩa đơn từ Bad
  1. "I Just Can't Stop Loving You"
    Phát hành: 20 tháng 7, 1987
  2. "Bad"
    Phát hành: 7 tháng 9, 1987
  3. "The Way You Make Me Feel"
    Phát hành: 9 tháng 11, 1987
  4. "Man in the Mirror"
    Phát hành: 9 tháng 1, 1988
  5. "Dirty Diana"
    Phát hành: 18 tháng 4, 1988
  6. "Another Part of Me"
    Phát hành: 11 tháng 7, 1988
  7. "Smooth Criminal"
    Phát hành: 24 tháng 10, 1988
  8. "Leave Me Alone"
    Phát hành: 13 tháng 2, 1989
  9. "Liberian Girl"
    Phát hành: 3 tháng 7, 1989

Badalbum phòng thu thứ bảy của nam ca sĩ nhạc pop người Mỹ Michael Jackson, phát hành ngày 31 tháng 8 năm 1987[3] bởi Epic Records, gần 5 năm sau Thriller, album của Jackson đã trở thành album bán chạy nhất thế giới. Tính đến nay, Bad đã bán được từ 30-45.000.000 bản trên toàn thế giới, chỉ riêng tại Mỹ nó đã đạt được xác nhận 9 đĩa Bạch kim, và là một trong số 30 album bán chạy nhất mọi thời đại. Album đã tạo ra một kỷ lục, khi là album đầu tiên trong lịch sử có 5 đĩa đơn liên tiếp đạt ngôi vị quán quân trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, một kỷ lục mà chỉ có album Teenage Dream (2010) của Katy Perry sánh kịp. Tương tự như các sản phẩm trước đây của Jackson, âm nhạc của album chủ yếu mang các yếu tố của R&B, pop và rock.

Bad được thu âm vào nửa đầu năm 1987, đã giúp Jackson khẳng định vị trí là một trong những nghệ sĩ thành công nhất thập niên 1980, cũng như tăng cường cho danh tiếng hát solo và là một trong những dự án âm nhạc xuất sắc nhất trong sự nghiệp của ông. 9 trong số 11 bài hát của Bad đã được phát hành như là đĩa đơn; trong đó có một đĩa đơn quảng bá và một đĩa đơn khác phát hành bên ngoài Mỹ và Canada. Năm trong số các đĩa đơn đã đứng hạng nhất tại Mỹ, một đĩa đơn top 10 và một đĩa đơn top 20 trên Hot 100. Đĩa đơn được phát hành bên ngoài Mỹ và Canada là đã đạt được thành công thương mại, khi nằm trong top 10 và 20 ở nhiều quốc gia. Bad đạt vị trí số một tại 7 quốc gia, cũng như nằm trong top 20 ở nhiều nơi khác. Các bài hát trong album không được phát hành làm đĩa đơn là "Speed ​​Demon" và "Just Good Friends".

Trong Bad, Jackson thậm chí còn thể hiện sự tự do trong nghệ thuật hơn Off the WallThriller. Trong Bad, Jackson đã tham gia sản xuất, điều hành cho toàn bộ album. Album tiếp tục chuỗi thành công thương mại của Jackson trong những năm cuối thập niên 1980 và giành 6 đề cử giải Grammy, và giành 2 giải. Bên cạnh thành công thương mại, nó cũng nhận được nhiều lời khen ngợi từ các nhà phê bình đương đại. Bad đứng ở vị trí thứ 43 trong danh sách 100 album xuất sắc nhất mọi thời đại của MTV Generation năm 2009 bình chọn bởi VH1. Tạp chí Rolling Stone cũng bình chọn Bad ở vị trí 202 trong danh sách 500 album xuất sắc nhất mọi thời đại. Đây cũng là sản phẩm âm nhạc đánh dấu sự hợp tác chính thức cuối cùng giữa Jackson và nhà sản xuất Quincy Jones.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson vào năm 1988

Album trước đây của Jackson, Off the WallThriller, đã thu được thành công về phê bình và thương mại,[4][5] cuối cùng lần lượt bán được hơn 20 triệu và 100 triệu bản trên toàn cầu.[6][7] Mục đích của Jackson cho Bad là nó sẽ bán được 100 triệu bản sao.[8]

Bad là album phòng thu đầu tiên Jackson phát hành sau khi rời hẳn khỏi nhóm The Jackson 5, và là album đầu tiên sau năm năm phát hành Thriller. Bad là album thứ ba, cũng là cuối cùng đánh dấu sự hợp tác giữa Jackson và Quincy Jones. Album được sản xuất bởi Jones, Jackson đồng sản xuất. Một vài tháng sau khi đi tour Victory năm 1984 với nhóm The Jacksons, Michael bắt đầu thu âm demo tiếp theo sau Thriller. Quá trình thu âm diễn ra giữa ngày 5 tháng 1 và 9 tháng 7 năm 1987 tại Westlake Audio,[9][10] nơi một sàn gỗ đặc biệt được xây dựng để Michael có thể nhảy trong lúc thu âm.[11]

Jackson viết sáu mươi ca khúc cho album mới và đã thu âm ba mươi bài, anh muốn dùng tất cả chúng trong bộ ba đĩa[12]. Jones đã gợi ý là album được cắt xuống còn mười bài.[12] Khi album được phát hành trên CD, bài hát thứ 11, "Leave Me Alone" đã được thêm vào.[9] Nó sau đó được phát hành như là một đĩa đơn. Jackson viết chín trong số 11 bài hát trong album.[12] Những sáng tác khác bao gồm Terry Britten và Graham Lyle cho "Just Good Friend" và Siedah Garrett và Glen Ballard cho "Man In The Mirror".[9]

Âm nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

"Bad" ban đầu được dự định là một bản song ca giữa Jackson và nhạc sĩ Prince.[12] Những nghệ sĩ khác được cho rằng sẽ góp phần vào album là Whitney Houston, Aretha FranklinBarbra Streisand, nhưng những sự cộng tác này đã không xảy ra.[12] Lời nhạc của album nói về tình yêu và hoang tưởng. Sự hoang tưởng là chủ đề thường xuyên của Jackson, được sử dụng trong album trước đây của anh.[4] Allmusic nhận ra rằng Bad đưa Jackson đi sâu hơn đến dòng hard rock, dòng schmaltzy trưởng thành đương đại, đi sâu hơn đến hard dance — giữ vai trò rất quan trọng trong Thriller, khi tăng thương số immaculate studiocraft.[4]

"Dirty Diana" được xem xét bởi những nhà phê bình như một "sự ghét phụ nữ",[4] và lời nhạc của nó, đề cập đến dục vọng, không có mục đích đen tối của "Billie Jean", nhưng thay vì thế, âm điệu cuốn hút một cách tương tự bởi sự e ngại thử thách trong khi có cơ hội để từ chối nó.[4] "Leave Me Alone" được miêu tả như là một "hoang tưởng ca". Trong "Man in the Mirror", bài hát được miêu tả là Jackson đã tiến đến một bước xa hơn và đưa ra một triết lí thẳng thắn của lời thú nhận, điều được thấy trong lời nhạc: "Tôi bắt đầu với người đàn ông trong gương/ Tôi yêu cầu anh ta thay đổi cách của mình/Và không có thông điệp nào rõ ràng hơn thế/ Nếu bạn muốn biến thế giới thành một nơi tốt đẹp hơn/ Tự nhìn lại mình và tạo ra sự thay đổi" ("I'm starting with the man in the mirror/ I'm asking him to change his ways/And no message could have been clearer/ If you wanna make the world a better place/ Take a look at yourself and then make a change").[13] "Bad" được đánh giá là một sự tiến bộ với ca từ liên quan đến niềm kiêu hãnh. Nội dung của "Speed Demon" đề cập đến vấn đề lái quá nhau.[14]

Lời của "Liberian Girl" được nhận xét như là "tia sáng long lanh" với "lòng biết ơn" cho sự tồn tại của một người yêu quý.[13] Âm điệu của "Smooth Criminal" cho thấy điểm tương đồng với lối "nhai bắp rang rào rạo" của "Thriller".[13] Nó được nghĩ đến như là một ví dụ về "ngôn ngữ tự do của Jackson", điều làm người ta "nhận thức rằng họ đang ở trong khía cạnh của nhiều sự thật: bộ phim, giấc mơ mà ca khúc truyền đạt và thế giới mà nó soi sáng".[13] Âm điệu của "I Just Can’t Stop Loving You", một bản song ca với Siedah Garrett, chủ yếu gồm có tiếng bật ngón tay và timpani.[13] "Just Good Friends", bản song ca với Stevie Wonder, được đánh giá là hát tốt ở đầu bài hát và kết thúc với một niềm hân hoan vui sướng.[13] Nhạc của "The Way You Make Me Feel" bao gồm những bản hòa âm. Lời của "Another Part of Me" đề cập đến việc đoàn kết khi dùng từ "chúng ta".[13]

Quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson đang biểu diễn "The Way You Make Me Feel" trong Bad World Tour

Trước khi Bad được phát hành, Thriller đã bán được hàng triệu đĩa, đưa ra những sự kì vọng cho album mới. Một sự kỉ niệm đặc biệt trong cuộc đời của Jackson, The Magic Returns (Phép màu trở lại), đã được phát sóng trên CBS trong khoảng thời gian phát hành Bad.[3] Cuối bộ phim tài liệu, kênh CBS đã giới liệu lần đầu tiên video của ca khúc chủ đề trong album - "Bad".[3] Chiến lược quảng bá, điều khiển bởi Frank DiLeo cùng với những người khác, kể cả Michael Jackson, đã sản xuất một bộ phim ngắn trong thời gian biểu diễn Bad World Tour. Bộ phim Moonwalker, gồm màn trình diễn những ca khúc trong Bad, bao gồm "Speed Demon", "Leave Me Alone", "Man in the Mirror" và "Smooth Criminal", trong đó 2 bài hát sau được phát hành như một video đơn ở cuối bộ phim.[15][16] Tour diễn của Jackson để quảng bá cho Bad là một thành công to lớn về tài chính, kiếm được tổng cộng 125 triệu đô la.[17][18]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Album được phát hành vào ngày 31 tháng 8 năm 1987.[19] Nó đã đạt quán quân trên bảng xếp hạng Billboard 200 vào ngày 26 tháng 9[20] và trụ lại tại vị trí đó trong 6 tuần tiếp theo.[21] Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (RIAA) đã chứng nhận Bad 8 đĩa bạch kim cho việc bán được chín triệu bản tại Hoa Kỳ nói riêng.[22] Mặc dù Jackson đã nâng cao được vị thế của anh trở thành một siêu sao nhạc pop toàn cầu, nhưng tại Mỹ, Bad đã thất bại trong việc ngang bằng với doanh số của Thriller, một số người trong giới truyền thông gán cho album là "sự thất vọng" khi được so sánh với Thriller.[12][23]

Trên toàn thế giới, Bad rất thành công về mặt thương mại. Tại Anh Quốc, album bán được 500 ngàn bản trong năm ngày đầu sau khi phát hành, và (tính đến 2008) nó được chứng nhận đĩa bạch kim 13 lần cho doanh số 3,9 triệu bản, khiến nó trở thành album bán chạy thứ hai của Jackson tại Anh Quốc.[24] Bad đạt vị trí quán quân tại 25 quốc gia,[25] trong đó bao gồm các tại bảng xếp hạng Canada, Nhật, Anh Quốc, Thụy Sĩ, New Zealand, Áo, Thụy Sĩ và Na Uy. Album đạt vị trí thứ 3 tại Ý và thứ 12 tại Tây Ban Nha, Mexico và Úc, cũng như là thứ 20 tại Puerto Rico. Bad nhận được rất nhiều chứng nhận khác nhau trên toàn thế giới. Bad được chứng nhận 7 đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Canada cho hơn 700,000 bản bán ra.[26] Tại Châu Âu, bản tái phát hành năm 2001 của Bad được chứng nhận đĩa bạch kim bởi Liên minh công nghiệp quốc tế (IFPI) cho doanh số 1 triệu bản.[27] Album cũng được chứng nhận bạch kim bởi IFPI cho 20 ngàn bản tại Hồng Kông. Trên toàn cầu, album Bad của Jackson là album bán chạy thứ ba, sau ThrillerDangerous, với doanh số dao động từ 30 đến 45 triệu bản, theo nhiều nguồn khác nhau.[28][29][30][31][32][33]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn đầu tiên "I Just Can’t Stop Loving You" trở thành bài hát khởi đầu trong số năm đĩa đơn của album đạt ngôi quán quân trên Billboard Hot 100. Bài hát đạt quán quân vào ngày 19 tháng 9 năm 1987, đồng thời đạt hạng nhất trên Billboard R&B/Hip Hop Songs và hạng hai trên Adult Contemporary.[34] Trên toàn thế giới, bài hát cũng đạt vị trí quán quân tại Anh Quốc (trong 2 tuần),[35], Hà Lan (7 tuần) và Na Uy (7 tuần)[36]. Đĩa đơn thứ hai của album, "Bad", đạt hạng nhất trên Billboard 100 vào ngày 16 tháng 10 năm 1987.[37] Bài hát dẫn đầu bảng xếp hạng ở Tây Ban Nha, cũng như lọt vào top 10 trên toàn thế giới.[38] "The Way You Make Me Feel" trở thành đĩa đơn thứ ba liên tục đạt quán quân trên Hot 100.[39] Bài hát nằm trong top 10 và 20 trên toàn cầu.[40] "Man In The Mirror" xếp hạng 1 trên Billboard Hot 100 vào tháng 3 năm 1988, và nằm ở vị trí thứ 4, 8 và 10 tại New Zealand, Úc và Áo.[41] Vào ngày 2 tháng 7 năm 1988, "Dirty Diana" đã trở thành đĩa đơn thứ năm và cuối cùng lên đỉnh quán quân trên Hot 100.[42] "Dirty Diana" cũng đạt thành công toàn cầu, khi nằm trong top 10 tại 8 quốc gia.[43]

"Another Part Of Me" đạt vị trí thứ 11 trên Billboard Hot 100, trong khi dẫn đầu Billboard R&B/Hip Hop Songs.[34][44] Trên toàn cầu, "Another Part Of Me" là một đĩa đơn đạt thành công tương đối khi được so sánh với các đĩa đơn trước, đạt hạng 5, 14 và 42 tại Thụy Sĩ, New Zealand và Pháp.[45] "Smooth Criminal" trở thành đĩa đơn top 10 thứ sáu của album trên Hot 100,[34] và thành công toàn cầu, và nằm trong top 40 trên tất cả các quốc gia.[46] Được phát hành bên ngoài Hoa Kỳ và Canada, "Leave Me Alone" dẫn đầu bảng xếp hạng ở Ireland,[47] cũng như là đạt top 10 tại năm nước khác.[48] Đĩa đơn chính thức cuối cùng của album là "Liberian Girl", không lọt vào Billboard Hot 100, nhưng thành công trên toàn cầu và lọt vào top 20.[49]

Các đĩa đơn từ Bad cũng đạt được thành công rực rỡ ở Vương quốc Anh, nơi 7 đĩa đơn từ album đều lọt vào top 10 tại đây tính đến năm 2009 (ban đầu chỉ có 6, cho đến khi "Man in the Mirror" nhảy vọt từ vị trí 21-2 năm 2009), một thành tựu được lặp lại tương tự với album Dangerous (1991-1993). Kỷ lục này được tồn tại trong một thời gian dài trước khi Calvin Harris phá vỡ nó trong năm 2013.

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Allmusic 4.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar half.svg[50]
Robert Christgau B+[51]
The New York Times favorable[3]
Rolling Stone 4/5 saoStar full.svgStar full.svgStar full.svgStar empty.svg[13]
The Rolling Stone Album Guide 3.5/5 saoStar full.svgStar full.svgStar half.svgStar empty.svg[52]
Yahoo! Music favorable[53]

Bad được đón nhận tốt mặc dù một số nhà phê bình chú ý rằng nó không thành công như mong đợi so với Thriller. Stepen Thomas Erlewine của Allmusic đánh giá rằng Jackson tiếp cận Bad như cách mà anh ấy tiếp nhận Thriller "lấy công thức cơ bản của album trước, mở rộng nó dần dần và đưa nó đi xa hơn".[50] Erlewine, người cho album 4 sao rưỡi trên năm sao, bình luận rằng những bài hát trong album có thể chấp nhận được nếu được truyền đạt với điệu bộ.[50] Davitt Sigerson của Rolling Stone đánh giá rằng dù không có một bản thu quan trọng như "Billie Jean", Bad vẫn được đánh giá là một bản thu tốt hơn Thriller."[13] Sigerson bình luận rằng những bài hát như "Speed Demon", "Dirty Diana" và "Liberian Girl" làm cho Bad trở nên phong phú hơn, gợi cảm hơn và đáng nhớ hơn so với Thriller.[13]

Nhà phê bình âm nhạc Robert Christgau cho Bad một điểm "B+", đánh giá rằng "thứ gần với thiên tài nhất" là ca khúc "Leave Me Alone," bản thu được hát và nhảy một cách hoàn hảo. Jennifer Clay của Yahoo Music chú ý rằng dù Bad rất tốt nhưng nó không đạt được "trình độ của Thriller."[51] Jon Pareles của The New York Times miêu tả Bad như một tia sáng, bản thu âm công nghệ cao chỉ là một chút khác biệt trong những khía cạnh của album. Parales cũng chú ý rằng Bad có một sự sắp xếp được tổng hợp, thứ rõ ràng và có thể kèm theo một "cú đá rắn chắc".[3] Richard Cromelin của The Los Angeles Times bình luận rằng bản thu âm "không tệ" và gợi lại về sức mạnh của Off the Wall hơn là Thriller. [54] Cromelin nhận thấy rằng thật đáng thất vọng nếu mức độ sáng tạo của album này là nơi mà Michael Jackson muốn dừng lại.[54]

Richard Harrington của The Washington Post bình luận sự kì vọng của Bad so với Thriller rằng "album hấp dẫn, mặc dù đoạn mở đầu của nó có lẽ làm những nhà phê bình chú ý bởi âm nhạc chứ không phải bởi doanh số".[55] Richard nhận thấy rằng trong khi album không thể sánh kịp với sự kì vọng của Thriller thì nó "khá hơn nhiều để so sánh" Bad với Off the Wall.[55] Ý kiến toàn diện của anh ấy về Bad rằng album là "một bản thu âm rất tốt", rằng nó được sản xuất không chê vào đâu được và những màn biểu diễn của Jackson rất sắc sảo.[55] Edna Gundersen của USA Today miêu tả Bad như là "nỗ lực tinh tế nhất của Jackson đến thời điểm hiện tại", rằng album rất khôn ngoan nhưng không khô cứng".[56] Thom Duffy của The Orlando Sentinel chú ý rằng một số chất liệu của album "lôi cuốn cả những thế hệ lớn hơn".[57]

Bad nhận được 6 đề cử giải Grammy, và thắng được 2 giải. Năm 1988, Bad được đề cử cho Album của năm, Trình diễn giọng Pop nam xuất sắc nhất, Trình diễn giọng R&B nam xuất sắc nhất[58]Thu âm của năm cho "Man in the Mirror" vào năm sau. Bad là Album kĩ thuật không cổ điển xuất sắc nhất năm 1988, và Video nhạc hình thái ngắn xuất sắc nhất cho "Leave Me Alone" năm 1990.[59]

Dấu ấn[sửa | sửa mã nguồn]

Jackson mặt một chiếc jacket kiểu quân đội được phủ vàng với một chiếc thắt lưng trong suốt kỉ nguyên Bad để tạo ra một cái nhìn cáu kỉnh hơn.[12]

Bad đã làm nên lịch sử khi là album đầu tiên có 5 đĩa đơn liên tiếp đạt ngôi quán quân trên Billboard Hot 100; "I Just Can't Stop Loving You", "Bad", "The Way You Make Me Feel", "Man in the Mirror" và "Dirty Diana", tất cả đã dẫn đầu trên bảng xếp hạng âm nhạc. Jayson Rodriguez của MTV, chú ý rằng việc theo sau cặp "thần công" Off the Wall và Thriller là một nhiệm vụ không hề dễ dàng, nhưng album tiếp theo của Jackson, Bad năm 1987, rất dữ dội bất cứ hoàn cảnh nào.[23] Rodriguez bình luận rằng album bị "gạt bỏ một cách phi pháp" bởi những nhà phê bình chỉ vì doanh số của nó không "bom tấn" như Thriller và suốt gian đoạn Bad, giọng hát nất của Jackson và tiếng lắp bắp "shamone" đã trở thành những yếu tố chính trong âm nhạc của anh, tăng cường và làm nổi bật cảm xúc trong lời nhạc.[23] Rolling Stone bình luận rằng "cách tối ưu nhất để xem xét" Bad không phải là "đoạn tiếp theo của Thriller".[13] Năm 2009, VH1 nói về album: "Có thể hiểu được, sự kì vọng dành cho album cao đến mức lố bịch, và thậm chí còn cao hơn sau khi Jackson có kế hoạch song ca cùng Prince (trong ca khúc chủ đề) và cùng Whitney Houston (kể cả Aretha Franklin và Barbra Streisand). Không có sự hợp tác nào xảy ra, nhưng chúng chỉ làm tăng sức quãng bá cho album. Bad là một dự án cá nhân của Jackson—anh viết chín trong số 11 ca khúc, một điều cho thấy anh đã độc lập hơn và xuất hiện lần đầu trong một hình ảnh và âm thanh sắc sảo hơn".[12]

Jim Farber của The New York Daily News nhận thấy rằng Bad tổ chức tốt hơn phong cách của Jackson trong hai album trước để sáng tạo ra tác phẩm nhạc pop ngọt ngào nhất của anh đến thời điểm hiện tại.[60] Một nhà văn của The Daily Telegraph bình luận rằng trong khi Bad là một thành công thương mại toàn cầu, album chắc chắn thất bại để đạt được thành công của Thriller dù Jackson có tua diễn thế giới đồ sộ.[61] Năm 2009, một nhà báo của The Miami Herald nhận xét về Bad, miêu tả việc phát hành album như một "album được tiên đoán nóng bỏng nhất trong lịch sử".[62] Stephen M. Silverman, một nhà văn của People magazine, nhận xét về Bad rằng album cho thấy tính đại chúng của Jackson bắt đầu suy giảm.[63]

Vào tháng 11 – 2012, một thông báo bởi Official UK Charts Company, sau khi theo dõi doanh số của album trong sáu tháng, Bad là album bán chạy thứ chín trong lịch sử Anh Quốc với doanh số 3.96 triệu bản; đứng sau album Thriller của chính Michael.[64] Bad, cùng với những album phòng thu khác phát hành bởi Michael, nằm trong những album bán chạy nhất mọi thời đại.[65] Trong năm 2003, album đạt hạng 202 trên danh sách "500 Album vĩ đại nhất mọi thời đại" của tạp chí Rolling Stone.[66] Album nằm trong quyển sách mang tựa đề "1001 Album Bạn Phải Nghe Trước Lúc Chết".[67] Vào năm 2009, VH1 liệt album vào hạng thứ 43 trong danh sách "100 Album vĩ đại nhất của thế hệ MTV".[68] Năm 2012, tạp chí Slant liệt kê nó vào danh sách "Những Album xuất sắc nhất của thập niên 1980" ở hạng 48.[69]

Những bài hát của album được thu âm cover và nhại lại bởi một số lượng nghệ sĩ kể từ khi nó được phát hành vào cuối thập niên 1980. Đáng chú ý là phiên bản cover Smooth Criminal của Alien Ant Farm và The Way You Make Me Feel của Shakaya. Phiên bản nhái lại đáng chú ý là của "Weird Al" Yankovic, người trước đây cũng nhại lại ca khúc "Beat It" của Jackson.[70] Yankovic nhại lại "Bad", đặt tên lại là "Fat" trong năm 1988; bài hát giành một giải Grammy cùng năm cho "Video khái niệm xuất sắc nhất".[70]

Thành tựu[sửa | sửa mã nguồn]

Tổ chức Nước Thành tựu Năm Nguồn
Giải Grammy Mỹ Thu âm kỉ xão nhất – Bán cổ điển (Bad) 1988 [58]
Giải Grammy Mỹ Video hình thái ngắn ngắn xuất sắc nhất ("Leave Me Alone") 1990 [59]
Quintessence Editions Ltd. Vương quốc Anh 1001 Album Bạn phải nghe trước khi Chết (Không xếp hạng) 2003 [67]
Rolling Stone Mỹ 500 Album vĩ đại nhất mọi thời đại (Hạng #202) 2003 [66]
VH1 Mỹ 100 Album vĩ đại nhất của thế hệ MTV (Hạng #43) 2009 [68]

Danh sách các ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
1. "Bad"   Michael Jackson 4:07
2. "The Way You Make Me Feel"   Jackson 4:58
3. "Speed Demon"   Jackson 4:03
4. "Liberian Girl"   Jackson 3:53
5. "Just Good Friends" (duet with Stevie Wonder) Terry Britten, Graham Lyle 4:08
6. "Another Part of Me"   Jackson 3:54
7. "Man in the Mirror"   Glen Ballard, Siedah Garrett 5:19
8. "I Just Can't Stop Loving You" (duet with Siedah Garrett) Jackson 4:13
9. "Dirty Diana"   Jackson 4:40
10. "Smooth Criminal"   Jackson 4:17
1988 CD issue
STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
11. "Leave Me Alone"   Jackson 4:38
2001 Bản đặc biệt [71]
STT Tên bài hát Sáng tác Thời lượng
12. "Interview with Quincy Jones #1"     4:03
13. "Streetwalker" (previously unreleased) Jackson 5:49
14. "Interview with Quincy Jones #2"     2:53
15. "Todo Mi Amor Eres Tu" (Spanish version of "I Just Can't Stop Loving You", previously unavailable) Jackson, Rubén Blades 4:05
16. "Interview with Quincy Jones #3"     2:30
17. "Spoken intro to Fly Away"     0:08
18. "Fly Away" (previously unreleased) Jackson 3:26

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Tháng 7, 1987 - "I Just Can't Stop Loving You" U.S. #1 / UK #1
  2. Tháng 9, 1987 - "Bad" U.S. #1 / UK #3
  3. Tháng 11, 1987 - "The Way You Make Me Feel" U.S. #1 / UK #3
  4. Tháng 1, 1988 - "Man in the Mirror" U.S. #1 / UK #21
  5. Tháng 4, 1988 - "Dirty Diana" U.S. #1 / UK #4
  6. Tháng 7, 1988 - "Another Part of Me" U.S. #11 / UK #15
  7. Tháng 9, 1988 - "Smooth Criminal" U.S. #7 / UK #8
  8. Tháng 1, 1989 - "Leave Me Alone" UK #2
  9. Tháng 6, 1989 - "Liberian Girl" UK #13[72]

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Bad”. AllMusic. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2009. 
  2. ^ “Album Credits for Bad”. Artists Direct. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2006. 
  3. ^ a ă â b c Pareles, Jon (31 tháng 8 năm 1987). “Pop: Michael Jackson's 'Bad,' Follow-Up to a Blockbuster”. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2014. 
  4. ^ a ă â b c Erlewine, Stephen Thomas. “Michael Jackson – Bad”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. 
  5. ^ Holden, Stephen (ngày 1 tháng 11 năm 1979). “Off the Wall: Michael Jackson”. Rolling Stone. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2008. 
  6. ^ Anderson, Kyle (20 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson's Thriller Set To Become Top-Selling Album Of All Time”. MTV. Viacom. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2010. 
  7. ^ Bill Wyman (ngày 4 tháng 1 năm 2013). “Did "Thriller" Really Sell a Hundred Million Copies?”. The New Yorker (Condé Nast). Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2013. 
  8. ^ Lisa D. Campbell (1993). Michael Jackson: the king of pop. Branden Books. tr. 147. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011. 
  9. ^ a ă â Bad: Special Edition (booklet). Epic Records. 2001. 
  10. ^ Sullivan, Randall (2012). Untouchable: The Strange Life and Tragic Death of Michael Jackson. Grove Press. tr. 589. ISBN 978-0-80211-962-9. 
  11. ^ Lisa D. Campbell (1993). Michael Jackson: the king of pop. Branden Books. tr. 151. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2011. 
  12. ^ a ă â b c d đ e Michael Jackson's Life & Legacy: The Eccentric King Of Pop (1986-1999) tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 4 tháng tháng 6 năm 2011). VH1. MTV Networks. June 7, 2009. Retrieved March 23, 2015.
  13. ^ a ă â b c d đ e ê g h Sigerson, Davitt (22 tháng 10 năm 1987). “Michael Jackson – Bad”. Rolling Stone (Wenner Media LLC). Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  14. ^ Pareles, Jon (3 tháng 9 năm 1987). “Critic's Notebook; How Good Is Jackson's 'Bad'?”. The New York Times. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2010. 
  15. ^ “Review: ‘Moonwalker’”. Variety. 31 tháng 12 năm 1987. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ Hunt, Dennis (10 tháng 1 năm 1989). “VIDEO REVIEW : 'Moonwalker': A Stroll Through a Super Ego”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2010. 
  17. ^ Brooks 2002, tr. 81
  18. ^ Grant 2009, tr. 104–105
  19. ^ Campbell 1993, tr. 153
  20. ^ “Billboard 200 – Week of September 26, 1987”. Billboard. 26 tháng 9 năm 1987. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  21. ^ Caulfield, Keith (6 tháng 1 năm 2010). “Taylor Swift Edges Susan Boyle For 2009's Top-Selling Album”. Billboard (Nielsen Business Media). Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  22. ^ “RIAA – Gold & Platinum Searchable Database – I Feel You”. RIAA. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2014. 
  23. ^ a ă â Rodriguez, Jayson (25 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson’s Musical Legacy, From The Jackson 5 To Invincible”. MTV. Viacom. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  24. ^ “Certified Awards”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  25. ^ Michael Jackson Feted As Top Artist Of Decade After Selling 110 Million Discs 77 (22). tr. 60. 12 tháng 3 năm 1990. ISSN 0021-5996. 
  26. ^ “Gold/Platinum”. Music Canada. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2014. 
  27. ^ “Michael Jackson: Albumi”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  28. ^ “Michael Jackson Bad album set for re-release”. The Daily Telegraph. 9 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  29. ^ “50 fastest selling albums ever”. NME. 27 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  30. ^ Kaufman, Gil (5 tháng 11 năm 2010). “Michael Jackson’s New Album Cover Decoded”. MTV. Viacom. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  31. ^ Sinha-Roy, Piya (21 tháng 5 năm 2012). “Michael Jackson is still "Bad," 25 years after album”. Reuters. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2012. 
  32. ^ 25th Anniversary Of Michael Jackson’s Landmark Album Bad Celebrated With September 18 Release Of New Bad 25 Packages tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 22 tháng tháng 2 năm 2013). Yahoo!. May 21, 2012. Retrieved May 24, 2012.
  33. ^ “Michael Jackson's groundbreaking 'Bad' album will be re-released to celebrate its 25th anniversary”. Contactmusic.com. 21 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2012. 
  34. ^ a ă â “Bad – Awrds”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  35. ^ “Michael Jackson”. Official Charts Company. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  36. ^ “Michael Jackson – I Just Can't Stop Loving You” (bằng tiếng Hà Lan). Single Top 100. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  37. ^ “The Hot 100 – Week of October 24, 1987”. Billboard. 24 tháng 10 năm 1987. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  38. ^ “Michael Jackson – Bad” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  39. ^ “The Hot 100 – Week of January 23, 1988”. Billboard. 23 tháng 1 năm 1988. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ “Michael Jackson – The Way You Make Me Feel” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  41. ^ “The Hot 100 – Week of March 26, 1988”. Billboard. 26 tháng 3 năm 1988. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  42. ^ “The Hot 100 – Week of July 2, 1988”. Billboard. 2 tháng 7 năm 1988. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  43. ^ “Michael Jackson – Dirty Diana” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  44. ^ “The Hot 100 – September 10, 1988”. Billboard. 2 tháng 7 năm 1988. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  45. ^ “Michael Jackson – Another Part Of Me”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  46. ^ “Michael Jackson – Smooth Criminal” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  47. ^ “The Irish Charts – All there is to know”. Irishcharts.ie. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2014. 
  48. ^ “Michael Jackson – Leave Me Alone” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  49. ^ “Michael Jackson – Liberian Girl” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  50. ^ a ă â Erlewine, Stephen Thomas. “Michael Jackson – Bad”. AllMusic. All Media Network. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2011. 
  51. ^ a ă Christgau, Robert. “Michael Jackson: Consumer Guild Reviews”. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  52. ^ Michael Jackson tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 15 tháng tháng 11 năm 2013). Rolling Stone. Wenner Media LLC. Retrieved March 23, 2014.
  53. ^ Clay, Jennifer (January 1, 1987). Michael Jackson: Reviews tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 6 tháng tháng 8 năm 2009). Yahoo! Music. Retrieved March 23, 2015.
  54. ^ a ă Cromelin, Richard (31 tháng 8 năm 1987). “Michael Jackson has a good thing in 'Bad'”. Los Angeles Times. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  55. ^ a ă â Harrington, Richard (31 tháng 8 năm 1987). “Article: Jackson's `Bad': Looking Good; Not a `Thriller' but It's Full of Flash”. The Washington Post (HighBeam Research). Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  56. ^ Gundersen, Edna (31 tháng 8 năm 1987). “The ever-changing Jackson, Michael jumps back and he's super `Bad'”. USA Today. 
  57. ^ Duffy, Thom (1 tháng 9 năm 1987). “Jackson Re-emerges, Still Thrills With 'Bad'”. Orlando Sentinel. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2013. 
  58. ^ a ă “30th Grammy Awards – 1988”. Rock On The Net. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  59. ^ a ă “32nd Grammy Awards – 1990”. Rock On The Net. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  60. ^ Farber, Jim (26 tháng 6 năm 2009). “For Michael Jackson, the beat went on: after 'Thriller,' hits kept coming”. Daily News. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2015. 
  61. ^ “Video: Michael Jackson's weird and wonderful life”. The Daily Telegraph. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2010. 
  62. ^ “A Look Back”. Miami Herald. 26 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2010. 
  63. ^ Silverman, Stephen M. (25 tháng 6 năm 2009). “Superstar: The Incredible Life of Michael Jackson 1958-2009”. People. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2010. 
  64. ^ Lane, Dan (28 tháng 2 năm 2012). “Adele overtakes Michael Jackson in all-time biggest selling albums chart”. Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  65. ^ Mackay, Mairi (26 tháng 6 năm 2009). “Michael Jackson album sales soar”. CNN. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2010. 
  66. ^ a ă The RS 500 Greatest Albums of All Time (1-500) tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 15 tháng tháng 1 năm 2007). Rolling Stone. Wenner Media LLC. Retrieved February 8, 2010.
  67. ^ a ă “1001 Albums You Must Hear Before You Die”. Quintessence Editions Ltd. 2003. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2010. 
  68. ^ a ă VH1 – Greatest Albums Ever tại Wayback Machine (lưu trữ ngày 10 tháng tháng 3 năm 2009). MTV. Viacom. Retrieved February 6, 2010.
  69. ^ “The 100 Best Albums of the 1980s”. Slant Magazine. 5 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. 
  70. ^ a ă “Michael Jackson Remembered: "Weird Al" Yankovic on Imitation as Flattery”. Rolling Stone. 9 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2010. 
  71. ^ “Bad/Dangerous”. www.amazon.co.uk. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2008. 
  72. ^ Michael Jackson, The Ultimate Collection, Booklet
  73. ^ David Kent (1993). Australian Chart Book 1970 – 1992. Australian Chart Book, St Ives, N.S.W. ISBN 0-646-11917-6, ISBN 978-0-646-11917-5. 
  74. ^ a ă â b c d đ http://www.ifpicr.cz/hitparada/index.php?a=titul&hitparada=14&titul=147101&sec=1da7a0f0f16990c22f2889c2aa294574.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  75. ^ “July 6–12, 2009”. ABPD.org.br. Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2010. 
  76. ^ “Top Albums/CDs – Volume 46, No. 26, ngày 3 tháng 10 năm 1987”. CollectionsCanada.gc.ca. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  77. ^ “ALBUM – I NUMERI UNO (1980–1989)”. IT-Charts. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2010. 
  78. ^ “Bad”. Oricon.com. Oricon. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. [liên kết hỏng]
  79. ^ “sprzedaż w okresie 10.08.2009 – 16.08.2009”. OLiS.onyx.pl. Oficjalna Lista Sprzedaży. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 1 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. [liên kết hỏng]
  80. ^ “Michael Jackson -Bad (album)”. SwissCharts.com. Hung Medien. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2010. 
  81. ^ “Michael Jackson – Bad”. TheOfficialCharts.com. The Official Charts Company. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2010. 
  82. ^ “ngày 26 tháng 9 năm 1987”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2010. 
  83. ^ “ngày 3 tháng 10 năm 1987”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 6 tháng 2 năm 2010. 
  84. ^ “Austriancharts.at – Bestenlisten – 80-er album” (bằng German). Hung Medien. 
  85. ^ “UK decade 80s”. everyhit.com. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2012. 
  86. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2009 Albums”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  87. ^ “Austrian album certifications – Michael Jackson – Bad” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014.  Nhập Michael Jackson vào khung Interpret (Tìm kiếm). Nhập Bad trong khung Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  88. ^ “Canada album certifications – Michael Jackson – Bad”. Music Canada. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  89. ^ “"Bad" Danish record award for the sale of 100,000 copies in Denmark”. MJ Collectors. Tháng 6 năm 1988. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  90. ^ a ă “Finland album certifications – Michael Jackson – Bad” (bằng tiếng Phần Lan). IFPI Phần Lan. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  91. ^ “French sales certification”. Syndicat National de l'Édition Phonographique (bằng French). InfoDisc. 1987. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  92. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Michael Jackson; 'Bad')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  93. ^ “Hong Kong sales certification”. IFPI Hong Kong. 1988. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  94. ^ Cobo, Leila (ngày 2 tháng 7 năm 2009). “Michael Jackson Remains a Global Phenomenon”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  95. ^ “E' Claudio Baglioni il Jackson italiano”. La Stampa (bằng Italian). Ngày 12 tháng 5 năm 1995. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  96. ^ “By director Spike Lee, a new documentary film is nearing completion”. Sony Music Japan (bằng Japanese). Ngày 11 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  97. ^ “Mexican sales certification” (bằng Spanish). AMPROFON. 2009. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  98. ^ “Een ster in het land van lilliputters”. Trouw (bằng Dutch). Ngày 29 tháng 10 năm 2001. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  99. ^ “New Zealand album certifications – Michael Jackson – Bad”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm New Zealand. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  100. ^ Salaverri, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 
  101. ^ “Gold and Platinum Awards”. Swedish Recording Industry Association. 1987–1998. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  102. ^ “Britain album certifications – Michael Jackson – Bad” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014.  Enter Bad trong khung Search. Chọn Title trong khung Search by. Chọn album trong khung By Format. Nhấn Go
  103. ^ Lane, Dan (ngày 28 tháng 2 năm 2012). “Adele overtakes Michael Jackson in all-time biggest selling albums chart”. Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2014. 
  104. ^ “American album certifications – Michael Jackson – Bad” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced, rồi nhấn Format, rồi nhấn Album, rồi nhấn SEARCH

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]