Prince (nhạc sĩ)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Prince (ca sĩ))
Bước tới: menu, tìm kiếm
Prince
Prince at Coachella 001.jpg
Prince trình diễn năm 2008
Sinh Prince Rogers Nelson
7 tháng 6, 1958(1958-06-07)
Minneapolis, Minnesota, Hoa Kỳ
Mất 21 tháng 4, 2016 (57 tuổi)
Chanhassen, Minnesota, Hoa Kỳ
Tên khác
  • Jamie Starr
  • Christopher
  • Alexander Nevermind
  • The Purple One
  • Joey Coco
  • Theartist.jpg
  • The Artist Formerly Known as Prince
Công việc
  • Ca sĩ kiêm sáng tác
  • nhạc công đa nhạc cụ
  • nhà sản xuất thu âm
  • diễn viên
  • đạo diễn điện ảnh
Người phối ngẫu
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Hát
  • guitar
  • guitar bass
  • trống
  • keyboards
  • Linn drum
Năm hoạt động 1976–2016
Hãng đĩa
Hợp tác với

Prince Rogers Nelson (7 tháng 6 năm 195821 tháng 4 năm 2016),[3] được biết đến bởi nghệ danh Prince, là một ca sĩ, người viết bài hát, nhạc công đa nhạc cụ,[4][5] nhà sản xuất thu âm và diễn viên người Mỹ. Prince nổi tiếng là một nhà cách tân trong âm nhạc, với các tác phẩm chiết trung, hình tượng rực rỡ trên sân khấu[6] và quãng giọng rộng.[7] Ông được xem là người tiên phong trong phong cách "Minneapolis sound". Âm nhạc của ông mang nhiều thể loại khác nhau, bao gồm funk, rock, R&B, soul, psychedelia và pop.[8][9][10]

Prince sinh trưởng tại Minneapolis, Minnesota[11] và có sở thích về âm nhạc từ nhỏ,[12] sáng tác nên bài hát đầu tiên vào năm 7 tuổi.[13] Sau khi thu âm nhiều bài hát với ban nhạc anh em 94 East, Prince thu âm những bản thu thử không thành công năm 19 tuổi,[14][15][16] trước khi phát hành album đầu tay For You (1978) dưới sự dìu dắt của nhà quản lý Owen Husney.[17][18] Album Prince (1979) đạt chứng nhận đĩa Bạch kim,[19] cùng thành công của đĩa đơn "Why You Wanna Treat Me So Bad?" và "I Wanna Be Your Lover".[20] 3 đĩa thu âm kế đến—Dirty Mind (1980), Controversy (1981) và 1999 (1982)—liên tiếp gặt hái thành công, cho thấy thế mạnh của Prince với ca từ mang tính gợi dục cao và khả năng kết hợp nhạc funk, dance và rock.[21][22][23] Vào năm 1984, ông phát hành Purple Rain cùng ban nhạc hỗ trợ The Revolution như là âm nhạc của bộ phim đầu tay cùng tên.[24][25][26] Là một nhạc sĩ phong phú, Prince viết và sản xuất nhiều bài hát vào những năm 80 cho nhiều nghệ sĩ khác, dưới nhiều bút danh khác nhau.

Sau khi ra mắt album Around the World in a Day (1985) và Parade (1986),[27][28] The Revolution giải thể và Prince phát hành album-kép Sign o' the Times (1987) dưới vai trò nghệ sĩ đơn ca.[29][30] Ông xuất bản thêm 3 album đơn ca nữa trước khi ra mắt nhóm The New Power Generation vào năm 1991.[31][32] Ông đổi nghệ danh sang một biểu tượng không thể phát âm—Theartist.jpg,[33][34] còn được biết đến như "Biểu tượng tình yêu" vào năm 1993.[34][35][36] Ông sau đó bắt đầu liên tục ra mắt nhiều album mới để nhanh chóng kết thúc nghĩa vụ hợp đồng cùng Warner Bros.; ông phát hành đến 5 đĩa thu âm giữa năm 1994 và 1996 trước khi ký kết cùng Arista Records vào năm 1998.[37] Vào năm 2000, ông sử dụng lại nghệ danh "Prince".[38] Ông xuất bản tổng cộng 15 album sau đó; album cuối cùng, HITnRUN Phase Two, phát hành độc quyền trên hệ thống truyền dữ liệu Tidal vào ngày 11 tháng 12 năm 2015.[39][40][41]

Từ khi khởi nghiệp, Prince đã bán hơn 100 triệu đĩa nhạc trên toàn cầu, giúp ông trở thành một trong những nghệ sĩ thu âm bán chạy nhất mọi thời đại.[42] Ông là chủ nhân của 7 giải Grammy,[43] 1 giải Quả cầu vàng[44] và 1 giải Oscar.[45] Ông được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll trong năm hợp lệ đầu tiên vào năm 2004.[46] Rolling Stone xếp Prince ở vị trí thứ 27 trong danh sách "100 Nghệ sĩ vĩ đại nhất".[47]

Prince qua đời tại tư gia kiêm phòng thu Paisley Park của ông tại Chanhassen, Minnesota, gần Minneapolis, vào ngày 21 tháng 4 năm 2016, sau khi bị một số triệu chứng giống cúm trong vài tuần.[48]

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Phim
Năm Tựa đề Vai Đạo diễn
1984 Purple Rain The Kid Albert Magnoli
1986 Under the Cherry Moon Christopher Tracy Prince
1987 Sign o' the Times Chính ông Prince
1990 Graffiti Bridge The Kid Prince
Truyền hình
Năm Tựa đề Vai Đạo diễn
1997 Muppets Tonight Chính ông Tập 11
2014 New Girl Chính ông Tập: "Prince"

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
  1. ^ Kennedy, Dana; Sinclair, Tom (20 tháng 12 năm 1996). “Prince's Saddest Song”. Entertainment Weekly. 
  2. ^ Levy, Daniel S. (27 tháng 7 năm 2006). “Prince's Wife, Manuela (Partner of five years), Filed for Divorce”. People. 
  3. ^ Coscarelli, Joe (21 tháng 4 năm 2016). “Prince Is Dead at 57”. The New York Times. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  4. ^ Cole, George (2005). The Last Miles: The Music of Miles Davis, 1980–1991. Ann Arbor, Michigan: University of Michigan Press. tr. 226. ISBN 978-0472032600. 
  5. ^ Lavezzoli, Peter. The King of All, Sir Duke: Ellington and the Artistic Revolution. New York: Continuum. tr. 92. ISBN 978-0826414045. 
  6. ^ Thrasher, Steven (22 tháng 4 năm 2016). “Prince broke all the rules about what black American men should be”. The Guardian. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016. 
  7. ^ Petridis, Alex (12 tháng 11 năm 2015). “Prince: 'Transcendence. That's What You Want. When That Happens — Oh, Boy.'. The Guardian (London). Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. ...a man who can play pretty much any instrument he choses [sic], possessed of a remarkable voice that can still leap effortlessly from baritone to falsetto. 
  8. ^ Pareles, Jon. “Prince, an Artist Who Defied Genre, Is Dead at 57”. The New York Times. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016. 
  9. ^ Reynolds, Simon. Blissed Out: The Raptures of Rock. Serpent's Tail. tr. 49–55. ISBN 1-85242-199-1. 
  10. ^ Seymour, Gene (21 tháng 4 năm 2016). “A Prince We Followed Anywhere”. CNN. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  11. ^ “I Would Die 4 U: Why Prince Became an Icon – Touré”. 19 tháng 3 năm 2013. 
  12. ^ Gulla, Bob (2008). Icons of R&B and Soul: An Encyclopedia of the Artists who Revolutionized Rhythm. Greenwood Publishing. tr. 483. ISBN 0-313-34046-3. 
  13. ^ Obituary: John Nelson. Retrieved December 11, 2010.
  14. ^ “Floridian: Prince and the evolution”. St Petersburg Times. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2012. 
  15. ^ Hudak, Joseph. “Little Richard – 100 Greatest Singers”. Rolling Stone. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2015. 
  16. ^ White 2003, tr. 125–126
  17. ^ Uptown, 2004, p. 19
  18. ^ Hoard, Christian David; Brackett, Nathan (2004). The New Rolling Stone Album Guide . Simon & Schuster. ISBN 978-0-7432-0169-8. 
  19. ^ “American album certifications – Prince – Prince”. Recording Industry Association of America.  If necessary, click Advanced, then click Format, then select Album, then click SEARCH'.
  20. ^ "Prince > Review" trên AllMusic. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011.
  21. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "Dirty Mind - Prince." AllMusic. Retrieved on 2010-01-01.
  22. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "Prince: Controversy trên AllMusic. Truy cập ngày 15 tháng 9, 2011 (2011-09-15).
  23. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "Prince: 1999 > Review" trên AllMusic. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011.
  24. ^ “Rhino Historic Tours: Prince Kicks Off the Purple Rain Tour”. Rhino.com. 2014. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  25. ^ Raftery, Brian (tháng 7 năm 2009). Purple Rain: The Oral History”. Spin: 54-61. Truy cập ngày 21 tháng 4 năm 2016. 
  26. ^ Browne, David (21 tháng 9 năm 1990). “Purple Products”. Entertainment Weekly (#32). Truy cập 24 tháng 2 năm 2011. 
  27. ^ Hoard (2004), p. 655. Portions posted at “Prince: Album Guide”. RollingStone.com. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2012. 
  28. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "Prince & the Revolution: Around the World in a Day > Review" trên AllMusic. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2011.
  29. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "Prince: Sign 'O' the Times > Review" trên AllMusic. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011.
  30. ^ Touré (8 tháng 10 năm 2002). “Prince: Sign O' The Times. Rolling Stone (Wenner Media). ISSN 0035-791X. Truy cập 15 tháng 9 năm 2011. 
  31. ^ Hahn 2004, tr. 177
  32. ^ “Discography (more) – Prince — Sign 'O' the Times”. Billboard. 9 tháng 5 năm 1987. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2009. 
  33. ^ Carter, Andrew (23 tháng 6 năm 1999). “The People Formerly Known as Fans”. City Pages. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2007. 
  34. ^ a ă Hahn 2004, tr. 187
  35. ^ Hahn 2004, tr. 192–193
  36. ^ “Prince The Artist BIO, Biography”. Angelfire.com. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2010. 
  37. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "Prince: Rave Un2 the Joy Fantastic > Review" trên AllMusic. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2011.
  38. ^ Erlewine, Stephen Thomas. "Prince: The Rainbow Children > Review" trên AllMusic. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2011.
  39. ^ “Prince Releases 'HITNRUN Phase Two' Album on Tidal”. Billboard. 12 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2015. 
  40. ^ “Prince surprise releases new album HITNRUN Phase Two”. Consequence of Sound. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2015. 
  41. ^ “Prince Releases HITNRUN Phase Two”. Pitchfork. Truy cập ngày 12 tháng 12 năm 2015. 
  42. ^ Burrel, Ian (7 tháng 2 năm 2014). “Prince: The pop’n’rock legend who can sell out vast arenas – so what’s he doing turning up in some of the most intimate venues in London?”. The Independent. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2014. 
  43. ^ “Grammy search database”. National Academy of Recording Arts and Sciences. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2010. 
  44. ^ “Golden Globe Awards”. goldenglobes.org. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2010. 
  45. ^ “Nominees & Winners for the 57th Academy Awards”. Academy of Motion Picture Arts and Sciences. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2010. 
  46. ^ “Tavis Smiley”. pbs.org. 27 tháng 4 năm 2009. 
  47. ^ Thompson, Ahmir (24 tháng 3 năm 2004). “100 Greatest Artists”. Rolling Stone. 
  48. ^ “Prince, singer and superstar, dies aged 57 at Paisley Park”. BBC News. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2016. 
Thư mục

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Funky 4 + 1 More
Khách mời âm nhạc Saturday Night Live
(với Todd Rundgren)

21 tháng 2 năm 1981
Kế nhiệm:
Delbert McClinton
Tiền nhiệm:
The Strokes
Khách mời âm nhạc Saturday Night Live
4 tháng 2 năm 2006
Kế nhiệm:
Fall Out Boy
Tiền nhiệm:
Iggy Azalea
Khách mời âm nhạc Saturday Night Live
1 tháng 11 năm 2014
Kế nhiệm:
Kendrick Lamar