ABBA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
ABBA
ABBA - TopPop 1974 5.png
ABBA vào năm 1974 (từ trái sang phải)
Benny Andersson, Anni-Frid Lyngstad (Frida)
Agnetha FältskogBjörn Ulvaeus.
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danhBjörn & Benny, Agnetha & Anni-Frid/Frida (1972–1974)
Nguyên quánStockholm, Thụy Điển Thụy Điển
Thể loại
Năm hoạt động1972–1983
2018—nay
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websiteabbasite.com
Thành viên hiện tại

ABBA (viết cách điệu: ᗅᗺᗷᗅ) là một nhóm nhạc pop Thụy Điển được thành lập tại Stockholm bởi Agnetha Fältskog, Björn Ulvaeus, Benny Andersson, và Anni-Frid Lyngstad. Họ đã trở thành một trong những nghệ sĩ bán chạy nhất trong lịch sử âm nhạc đại chúng, đứng đầu các bảng xếp hạng trên toàn thế giới từ năm 1974 đến năm 1982. ABBA giành giải Eurovision Song Contest 1974 tại The DomeBrighton, Anh Quốc, giúp Thụy Điển có lần đầu tiên đăng quang ở cuộc thi này, và là nhóm nhạc thành công nhất từng tham gia vào cuộc thi từ trước đến nay.

Doanh số tiêu thụ đĩa nhạc của ABBA tính đến nay là không chắc chắn và ước tính nằm trong khoảng từ 140 đến hơn 500 triệu bản.[2][3] Điều này giúp họ trở thành một trong những nghệ sĩ âm nhạc bán chạy nhất mọi thời đại. ABBA là nhóm nhạc đầu tiên từ một quốc gia không nói tiếng Anh gặt hái nhiều thành công trên các bảng xếp hạng của những quốc gia nói tiếng Anh, bao gồm Vương quốc Anh, Ireland, Canada, Úc, New Zealand, Nam Phi, và Hoa Kỳ. Họ cũng lập kỷ lục với 8 album quán quân liên tiếp tại Anh Quốc.[4] Nhóm cũng đạt được những thành công đáng kể tại thị trường Mỹ Latinh, và đã thực hiện một tuyển tập những bản hit của họ bằng tiếng Tây Ban Nha.

Trong những năm hoạt động của nhóm nhạc, Fältskog & Ulvaeus và Lyngstad & Andersson đã kết hôn với nhau. Tuy nhiên, khi ABBA đang trải qua thời kì đỉnh cao của danh tiếng, cả hai mối quan hệ đều vấp phải nhiều vấn đề và cuối cùng dẫn đến sự sụp đổ trong hôn nhân giữa Ulvaeus-Fältskog vào năm 1979 và Andersson-Lyngstad vào năm 1981. Những thay đổi trong mối quan hệ của họ đã được phản ánh trong âm nhạc của nhóm, với các tác phẩm sau này đều mang những nội dung theo hướng nội tâm và ưu ám hơn, khác với phần âm nhạc mang tính chất thuần pop thường thấy của họ.

Sau khi ABBA tan rã vào tháng 12 năm 1982, Andersson và Ulvaeus đạt được nhiều thành công ở lĩnh vực viết nhạc sân khấu, trong khi Lyngstad và Fältskog theo đuổi sự nghiệp hát đơn và gặt hái những thành công nhất định. Âm nhạc của ABBA dần bị lãng quên cho đến năm 1989, khi bản quyền danh mục âm nhạc của ABBA và công ty thu âm Polar được mua lại bởi Polygram, cho phép hãng được tái bản tất cả những bản thu âm của nhóm trên toàn cầu và ra mắt một tuyển tập hit mới (ABBA Gold) vào tháng 9 năm 1992 đã trở thành một hit lớn trên toàn thế giới. Một số tác phẩm điện ảnh, nổi bật là Muriel's Wedding (1994) và The Adventures of Priscilla, Queen of the Desert (1994), tiếp tục gầy dựng lại sự quan tâm của công chúng đối với nhóm và dẫn đến việc sản sinh nhiều ban nhạc tri ân sau đó. Năm 1999, âm nhạc của ABBA được chuyển thể thành vở nhạc kịch thành công Mamma Mia! và lưu diễn toàn thế giới. Một bộ phim cùng tên, phát hành năm 2008, đã trở thành bộ phim có doanh thu cao nhất ở Vương quốc Anh năm đó.

ABBA được vinh danh tại lễ kỷ niệm lần thứ 50 của Eurovision Song Contest vào năm 2005, khi bản hit trình diễn tại cuộc thi của họ "Waterloo" được chọn là bài hát hay nhất trong lịch sử cuộc thi.[5] Nhóm được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll vào năm 2010.[6] Năm 2015, bài hát "Dancing Queen" được giới thiệu vào Đại sảnh Danh vọng Grammy của Viện hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Thu âm Quốc gia.[7]

Năm 2016, các thành viên của ABBA công bố một dự án đặc biệt sẽ được tiết lộ trong năm 2017.[8]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

1970-1973[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1970, Bjorn và Benny hợp tác cho ra đời album "Lucka", rất thành công ở Thụy Điển. Cũng trong năm đó Bjorn quen Agnetha trong một lần thu hình ở bờ biển phía tây và tình yêu đã nảy nở trong họ, Benny và Frida quen nhau trong một lần thu thanh. Vì Bjorn và Benny đã từng hợp tác với nhau nên không lâu sau, người ta thấy hai cặp Bjorn-Agnetha và Benny-Frida làm việc rất ăn ý và điệu nghệ. Tháng 4 năm 1971, Bjorn, Benny, Agnetha hợp thành tam ca chuyên đi hát ở các công viên, họ đã gặp Stig Anderson (ông bầu của ABBA sau này). Sau khi nghe Bjorn, Benny, Agnetha hát, Stig Anderson đã nói "rồi một ngày nào đó, các bài hát của các bạn sẽ trở thành hit ở nhiều nước trên thế giới" và ông quyết định hợp tác với họ. Tháng 7 năm 1971, Agnetha và Bjorn chính thức thành vợ chồng và dọn đến Vallentuna sinh sống. Rồi cặp Frida-Benny và Stig Anderson cũng dọn đến sống gần đó. Ý tưởng thành lập một ban nhạc để sáng tác và đàn ca chung đã khởi đầu từ đây.

Sang đến năm 1972, họ quyết định thành lập với ban nhạc với cái tên rất dài Björn & Benny, Agnetha & Anni-Frid và cho ra đời "đứa con" đầu tiên People need love. Bài hát đã đứng ở vị trí #17 trên bảng xếp hạng Thụy Điển và còn mấp mé nhảy lên vị trí #114 và #117 của bảng xếp hạng Cashbox singles chartRecord World's singles chart của Mỹ, đồng thời nó cũng giúp họ giành được tấm vé tham gia cuộc thi Eurovision.

Năm 1973, họ tham gia cuộc thi Eurovision với ca khúc Ring Ring. Tuy ca khúc chỉ dành hạng ba nhưng nó cũng đã rất nổi tiếng ở Bắc Âu. Cũng trong năm này họ cho ra album cùng tên cũng khá thành công.

ABBA thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Logo chính thức của ABBA

Năm 1974, họ đổi tên ban nhạc thành ABBA và cho ra đời ca khúc Waterloo được chơi theo thể loại "glam rock" và đến ngày 9 tháng 2 thì ca khúc này đã được phát đi trên toàn Thụy Điển. Cả nhóm bay sang Anh để dự tranh giải Eurovision. Vào ngày 6 tháng 9 năm 1974, ABBA đã giành chiến thắng trong cuộc thi Eurovision với ca khúc "Waterloo". Không những thế, Waterloo nhanh chóng trở thành hiện tượng trong làng nhạc trên thế giới lúc đó, nó đã trở thành ca khúc đầu tiên của ABBA đứng vị trí số 1 của các nước Anh, Đức, Australia và nhiều nước châu Âu khác, riêng ở Mỹ nó chỉ đứng ở vị trí thứ 6 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Mặc dù album cùng tên Waterloo chỉ đứng ở vị trí #145 ở Billboard 200 album chart nhưng được giới chuyên môn ở Mỹ đánh giá rất cao. Đồng thời đĩa đơn tiếp theo trong album này Honey Honey cũng đứng ở vị trí #27 trên Billboard Hot 100 và #2 trên bảng xếp hạng của Đức. Tuy nhiên, single "Honey Honey" lại không được thành công lắm ở Anh.

Sau Eurovision[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 12 năm 1974, ABBA bắt đầu chuyến lưu diễn xuyên châu Âu đầu tiên, họ đã biểu diễn ở Đan Mạch, Tây Đức và Úc, nhưng kết quả lại không thành công như họ mong đợi.

Thất bại không làm họ nản chí, đầu năm 1975, họ tiếp tục tung ra đĩa đơn so long. Đĩa nhạc này đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của Úc và Đức và cũng thành công ở nhiều nước châu Âu khác nhưng nó lại thất bại thảm hại trên bảng xếp hạng của Anh và Mỹ. Sau đó, ABBA tiếp tục tung ra đĩa đơn I do I do I do I do, mặc dù đĩa đơn này lọt Top 5 của nhiều bảng xếp hạng thế giới như Thụy Điển, Đan Mach, Úc, và đạt vị trí #15 trên Billboard Hot 100, nhưng nó vẫn chỉ đứng ở vị trí khá khiêm tốn trên bảng xếp hạng Anh #38.

Thành công đã mỉm cười với ABBA khi họ tung ra đĩa đơn S.O.S. Nó đã đạt vị trí số 1 trên bảng xếp hạng của Úc, Đức và Thụy Điển, đứng ở vị trí #6 trên bảng xếp hạng Anh, đồng thời cũng lọt vào trí #15 trên bảng xếp hạng Billboard hot 100 và #10 trên bảng Record world 100 single chart của Mỹ, đồng thời, album S.O.S của ABBA đã lọt vào được top album của Anh. Sau thành công vang dội của S.O.S, đĩa đơn Mamma mia tiếp tục làm mưa làm gió trên các bảng xếp hạng của châu Âu và gây nên cơn sốt ABBA ở Australia, đĩa đơn này cũng đã giúp ABBA chiếm lĩnh thị trường Anh khi nó đứng vị trí #1 trên bảng xếp hạng Anh, nhưng ở Billboard Hot 100 của Mỹ nó lại bị tụt hạng xuống vị trí thứ 35 so với tác phẩm trước đó là S.O.SI do I do I do I do.

ABBA trên đỉnh cao của danh vọng[sửa | sửa mã nguồn]

Cuối năm 1975, ABBA tung ra album Greatest Hits đầu tiên, album này đã đứng vị trí #1 ở Anh, #2 của Đức và #48 tại Billboard 200 album chart ở Mỹ, album này bán được trên một triệu bản. Đĩa đơn Fernando trích từ album này đã mở đường cho thời kì huy hoàng của ABBA, Fernando được viết bởi Benny and Bjorn được thể hiện bởi Anni_Frid. Fernando đã vươn lên vị trí số một tại mười bốn quốc gia trên toàn thế giới (bao gồm cả AnhĐức), riêng ở Úc, ca khúc này đã vượt qua Hey Jude của ban nhạc huyền thoại The Beatles để trở thanh ca khúc đứng đầu bảng xếp hạng lâu nhất trong lịch sử của đất nước (14 tuần, trong khi Hey Jude là 13 tuần) và cho đến nay chưa ai vượt qua được kỉ lục này ở Úc và "Fernando" đã trở thành một trong những ca khác thành công nhất của ABBA trong năm 1976 khi nó tiêu thụ được 6 triệu bản trên toàn thế giới và cho đến ngày nay đã tiêu thụ được 10 triệu bản. Cũng trong năm 1976, ABBA vinh dự nhận những giải thưởng âm nhạc đầu tiên "album thành công nhất của năm" cho Greatest Hits và "thu âm xuất sắc nhất trong năm" cho Fernando.

Thành công của ABBA không dừng lại ở đó khi album Arrival ra đời vài năm 1976, nó đã vươn lên đứng đầu bảng xếp hạng ở hầu hết tất cả các bảng xếp hạng châu ÂuÚc, album này cũng là album đầu tiên của ABBA lọt vào top 20 của Billboard 200 Album Chart và nhận giải album vàng ở Mỹ, đồng thời ở châu Á nó cũng vươn lên vị trí thứ 3 ở Nhật. Ở Anh, Arrival nhận giải album hay nhất của năm của Giải Brit trao tặng đưa ABBA lên vị trí chòm sao bắc đẩu của năm 1976

Những single trích từ album này như Knowing me Knowing youMoney Money Money tiếp tục thay Fernando làm mưa làm gió trên bảng xếp hạng và đĩa đơn bom tấn Dancing queen của ABBA cũng ra đời trong năm này, chiếm trọn bảng xếp hạng 14 quốc gia trên thế giới không chỉ ở các nước châu Âu như Anh, Đức,..., Dancing queen còn chiếm luôn cả vị trí số 1 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100. Đĩa đơn này còn trở thành đĩa đơn được yêu thích nhất ở Anh trong suốt từ khi nó ra đời đến nay, Dancing Queen đứng ở vị trí thứ #171 trong danh sách 500 bài hát hay nhất mọi thời đại, vị trí #148 trong 365 bài hát của thế kỉ.

Sau thành công của hai album Greatest HitsArrival, ABBA thực hiện cuốn phim tài liệu đầu tiên ABBA-the movieÚc và nó được trình chiếu vảo năm 1977. Sau khi thực hiện xong bộ phim, ABBA tiếp tục cho ra đời album tiếp theo ABBA-The album, Album này tiếp tục nuốt trọn các bảng xếp hạng album của các quốc gia ở châu Âu, đồng thời vươn lên được vị trí thứ 14 trên bản xếp hạng Billboard 200 album chart vị trí cao nhất mà các album của ABBA vươn tới được trong suốt thời gian hoạt động tại mỹ. Hai bài hát đáng chú ý của album này đó là Take a chance on meThe name of the game đều chiếm vị trí số 1 ở Anh và nhiều nước châu Âu khác, mặc dù Take a chance on me chỉ hạ cánh ở vị trí thứ ba trên Billboard Hot 100 nhưng nó cũng là đĩa đơn bán chạy nhất của ABBA ở Mỹ nhiều hơn cả Single Dancing Queen.

1973-1976[sửa | sửa mã nguồn]

ABBA tại buổi ghi hình chương trình AVRO's TopPop của kênh Dutch TV vào tháng 4 năm 1974

Khi nhóm tham gia Melodifansionen với "Ring Ring" nhưng không đủ điều kiện tham gia vào năm 1973 tại Thụy Điển, Stig Anderson ngay lập tức bắt đầu lên kế hoạch cho cuộc thi năm 1974.

Ulvaeus, Andersson và Stig Anderson tin vào khả năng sử dụng Cuộc thi Ca khúc Eurovision như một cách để làm cho doanh nghiệp âm nhạc nhận ra họ là nhạc sĩ, cũng như chính ban nhạc. vào cuối năm 1973, họ được truyền hình Thụy Điển mời đóng góp một bài hát cho Melodifansionen 1974 và từ một số bài hát mới, bài hát lạc quan "Waterloo" đã được chọn; nhóm bây giờ được lấy cảm hứng từ dòng nhạc glam rock đang phát triển ở Anh.

ABBA đã giành được giải thưởng quốc gia trên truyền hình Thụy Điển vào ngày 9 tháng 2 năm 1974, và với nỗ lực thứ ba này đã có nhiều kinh nghiệm hơn và chuẩn bị tốt hơn cho Cuộc thi Ca khúc Eurovision. Họ chiến thắng Cuộc thi năm 1974 vào ngày 6 tháng 4 năm 1974 (và hát Waterloo bằng tiếng Anh thay vì tiếng mẹ đẻ của họ) đã cho ABBA cơ hội lưu diễn châu Âu và biểu diễn trên các chương trình truyền hình lớn; do đó ban nhạc đã trình diễn đĩa đơn "Waterloo" ở nhiều nước châu Âu . "Waterloo" là đĩa đơn số một đầu tiên của ABBA tại các thị trường lớn như AnhTây Đức. Tại Hoa Kỳ, bài hát đã đứng ở vị trí thứ sáu trên bảng xếp hạng Hot 100 của Billboard, mở đường cho album đầu tiên và chuyến đi đầu tiên của họ như một nhóm ở đó. mặc dù một chuyến thăm quảng cáo ngắn, nó bao gồm buổi biểu diễn đầu tiên của họ trên truyền hình Mỹ, The Mike Douglas Show. album Waterloo chỉ đạt vị trí thứ 145 trên bảng xếp hạng Billboard 200, nhưng nhận được sự đánh giá cao từ các nhà phê âm nhạc bình Hoa Kỳ: Los Angeles Times gọi đó là "một album đầu tay hấp dẫn, nắm bắt tinh thần của dòng nhạc pop chính thống ... thú vị và dễ chịu", trong khi Creem mô tả nó là" một sự pha trộn hoàn hảo của các tác phẩm đặc biệt, đáng yêu ". [cần dẫn nguồn] Đĩa đơn tiếp theo của ABBA, "Honey, Honey", đạt vị trí thứ 27 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 của Hoa Kỳ và là một hit số hai ở Tây Đức. tuy nhiên, tại Anh Quốc, hãng thu âm Anh của ABBA là Epic, đã quyết định phát hành lại phiên bản phối lại của "Ring Ring" thay vì "Honey, Honey", và phiên bản bìa sau của Sweet Dreams đạt vị trí thứ 10. Cả hai hồ sơ đã ra mắt trên bảng xếp hạng của Anh trong vòng một tuần của nhau. "Ring Ring" đã không thể lọt vào Top 30 tại Anh, làm gia tăng suy đoán rằng nhóm chỉ đơn giản là một thí sinh đặc biết của Eurovision.

Vào tháng 11 năm 1974, ABBA bắt đầu chuyến lưu diễn châu Âu đầu tiên của họ, bắt đầu ở Đan Mạch, Tây ĐứcÁo. Nó không thành công như ban nhạc đã hy vọng, vì hầu hết các địa điểm không bán hết. Do thiếu nhu cầu, họ thậm chí đã buộc phải hủy một vài chương trình, bao gồm một buổi hòa nhạc duy nhất được lên kế hoạch ở Thụy Sĩ. Chặng thứ hai của tour diễn, đưa họ qua Scandinavia vào tháng 1 năm 1975 rất khác biệt. Họ đến những địa điểm trong lịch diễn đầy đủ ở khắp mọi nơi và cuối cùng nhận được sự tiếp đón của người hâm mộ mà họ đã nhắm đến. Các buổi biểu diễn trực tiếp tiếp tục vào giữa năm 1975 khi ABBA bắt đầu chuyến lưu diễn ngoài trời mười bốn ngày ở Thụy ĐiểnPhần Lan. ConcertStockholm của họ diễn ra tại tại công viên giải trí Gröna Lund có lượng khán giả ước tính là 19.200 người. Bjorn Ulvaeus sau đó nói rằng "Nếu bạn nhìn vào những người độc thân mà chúng tôi phát hành ngay sau Waterloo, chúng tôi đã cố gắng giống như The Sweet, một nhóm nhạc rock nửa quyến rũ, thật ngu ngốc vì chúng tôi luôn là một nhóm nhạc pop."

Vào cuối năm 1974, "So Long" đã được phát hành dưới dạng đĩa đơn tại Anh Quốc nhưng nó không nhận được phát sóng từ Radio 1 và thất bại trong bảng xếp hạng. Vào giữa năm 1975, ABBA đã phát hành "I Do, I Do, I Do, I Do, I Do", một lần nữa nhận được một chút phát sóng trên Radio 1 nhưng đã cố gắng leo lên các bảng xếp hạng, lên vị trí thứ 38. Vào cuối năm đó, việc phát hành album phòng thu thứ ba có tựa đề ABBA và đĩa đơn "SOS" đã mang lại sự hiện diện trên bảng xếp hạng của họ ở Anh, nơi đĩa đơn thứ sáu và album đạt vị trí thứ 13. "SOS" cũng trở thành thứ hai của ABBA đĩa đơn số một ở Đức và thứ ba của họ ở Úc. thành công được củng cố vững chắc hơn khi "Mamma Mia" đạt vị trí số một tại Anh Quốc, ĐứcÚc. Tại Hoa Kỳ, "SOS" đạt vị trí thứ 10 trên bảng xếp hạng đĩa đơn Top 100 thế giới và số 15 trên bảng xếp hạng Hot 100 của Billboard, nhận giải thưởng BMI ở hạng mục một trong những bài hát được phát nhiều nhất trên đài phát thanh Mỹ năm 1975.

Thành công của nhóm tại Hoa Kỳ cho đến thời điểm đó chỉ giới hạn ở các bản phát hành duy nhất. Đến đầu năm 1976, nhóm đã có bốn đĩa đơn Top 30 trên bảng xếp hạng của Hoa Kỳ, nhưng thị trường album tỏ ra khó khăn để phá vỡ. album ABBA cùng tên đã tạo ra ba bản hit của Mỹ, nhưng nó chỉ đạt vị trí thứ 165 trên bảng xếp hạng album Cashbox và số 174 trên bảng xếp hạng Billboard 200. Ý kiến ​​đặc biệt đã được lên tiếng bởi Creem, rằng tại Hoa Kỳ đã phải chịu đựng "một chiến dịch quảng cáo rất cẩu thả". tuy nhiên, nhóm rất thích những đánh giá nồng nhiệt từ báo chí Mỹ. Cashbox đã đi xa hơn khi nói rằng "có một sự lặp đi lặp lại của hương vị và nghệ thuật vốn có trong tiếp thị, sáng tạo và trình bày của ABBA khiến cho việc phê bình những nỗ lực của họ gần như lúng túng", trong khi Creem viết: "SOS bị bao vây bởi LP này bởi rất nhiều người giai điệu tốt mà tâm trí kính râm. "ở Úc, việc phát sóng các video âm nhạc cho "I Do, I Do, I Do, I Do, I Do" và "Mamma Mia" trên chương trình truyền hình pop phát sóng toàn quốc Countdown (được công chiếu vào tháng 11 năm 1974) đã thấy ban nhạc nhanh chóng đạt được sự phổ biến to lớn và Countdown trở thành "người quảng bá" chính của nhóm thông qua sự nổi tiếng của họ qua video âm nhạc này. Điều này đã bắt đầu một mối quan tâm lớn đối với ABBA tại Úc, dẫn đến cả đĩa đơn và album giữ vị trí số 1 trên bảng xếp hạng trong nhiều tháng.

1976-1981[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 3 năm 1976, ban nhạc đã phát hành album tổng hợp Greatest Hits. Nó đã trở thành album số một tại Anh Quốc đầu tiên của họ và cũng lần đầu tiên đưa ABBA vào Top 50 trên bảng xếp hạng album của Hoa Kỳ, cuối cùng đã bán được hơn một triệu bản tại đó. cũng bao gồm trong Greatest Hits là một đĩa đơn mới, "Fernando", đã đạt vị trí số một tại ít nhất mười ba quốc gia trên toàn thế giới, bao gồm Anh Quốc, ĐứcÚc, và đĩa đơn đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới. Ở Úc, bài hát chiếm vị trí cao nhất trong 14 tuần (và ở trong bảng xếp hạng trong 40 tuần), cùng với "Hey Jude" của The Beatles cho vị trí số một chạy dài nhất và biến "Fernando" trở thành một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại ở Úc. Cùng năm đó, nhóm đã nhận được giải thưởng quốc tế đầu tiên, với "Fernando" được chọn là "Bản thu âm phòng thu hay nhất năm 1975". Tại Hoa Kỳ, "Fernando" đã lọt vào Top 10 của bảng xếp hạng 100 đĩa đơn hàng đầu của Cashbox và đứng thứ 13 trên bảng xếp hạng Hot 100 của Billboard. Nó cũng đứng đầu bảng xếp hạng dành cho người lớn của Billboard, đĩa đơn số một ở Mỹ đầu tiên của ABBA trên bất kỳ bảng xếp hạng nào. cùng lúc đó, nhóm phát hành một album tổng hợp có tên The Very Best của ABBA, cũng trở thành album số một ở đó trong khi bản tổng hợp Greatest Hits, lượt xem sau vài tháng đã đưa album lên vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Đức. Album phòng thu thứ tư của nhóm, Destination, một album bán chạy số một ở châu ÂuÚc, thể hiện một mức độ hoàn thành mới trong cả sáng tác và công việc phòng thu, khiến các bài phê bình phát cuồng từ các nhật báo âm nhạc theo định hướng rock của Anh như Melody Maker và New Musical Express, và chủ yếu là đánh giá cao.

"Money, money, money ", đạt vị trí số một ở Đức và Úc, và "Knowing Me, Knowing You", đạt vị trí số một tại các bảng xếp hạng ở Đức sáu tuần liên tiếp cũng như số một tại các bảng xếp hạng ở Anh khác. Cảm giác thực sự là "Dancing Queen", không chỉ đứng đầu các bảng xếp hạng tại các thị trường trung thành ở Anh, ĐứcÚc, mà còn đạt vị trí số một tại Hoa Kỳ. Ở Nam Phi, ABBA đã thành công đáng kinh ngạc với "Fernando", "Dancing Queen" và "Knowing Me, Knowing You l" nằm trong top 20 đĩa đơn bán chạy nhất cho 1976. Năm 1977, Destination được đề cử cho giải BRIT khai mạc ở hạng mục "Album quốc tế hay nhất trong năm". Vào thời điểm này, ABBA đã phổ biến ở Anh Quốc, hầu hết Tây Âu, ÚcNew Zealand. Trong Frida - DVD, Lyngstad giải thích cách cô và Fältskog phát triển thành ca sĩ, khi các bản thu của ABBA ngày càng phức tạp hơn trong những năm qua.

Sự nổi tiếng của ban nhạc ở Hoa Kỳ vẫn ở mức tương đối nhỏ hơn và "Dancing Queen" trở thành bài hát của ABBA duy nhất lọt vào Billboard 100 đứng vững ở đó lâu nhất (tuy nhiên, họ đã có thêm ba đĩa đơn khác và đạt vị trí số một trên các bảng xếp hạng khác của Billboard, bao gồm Billboard Adult Contemporary và Hot Dance Club Play). Tuy nhiên, Destination cuối cùng đã trở thành một bản phát hành đột phá thực sự cho ABBA trên thị trường album ở Hoa Kỳ, nơi nó đạt vị trí thứ 20 trên bảng xếp hạng Billboard 200 và được RIAA chứng nhận vàng.

Vào tháng 1 năm 1977, ABBA bắt đầu chuyến lưu diễn lớn đầu tiên của họ. Tình trạng của nhóm đã thay đổi đáng kể và họ rõ ràng được coi là siêu sao. họ đã mở chuyến lưu diễn được mong đợi ở Oslo, Na Uy vào ngày 28 tháng 1 và gắn liền một cảnh tượng được sản xuất rất sang trọng bao gồm một vài cảnh trong vở nhạc kịch mini tự viết The Girl with the Golden Hair. Buổi hòa nhạc đã thu hút sự chú ý của giới truyền thông từ khắp châu ÂuÚc. Họ tiếp tục chuyến lưu diễn qua Tây Âu, đến thăm thành phố Gothenburg, Copenhagen, Berlin, Cologne, Amsterdam, Antwerp, Essen, HanoverHamburg và kết thúc bằng các buổi biểu diễn tại Anh QuốcManchester, Birmingham, Glasgow và hai buổi hòa nhạc bán chạy tại Hoàng gia Luân Đôn tại Hội trường Albert. vé cho hai chương trình này chỉ có sẵn bằng ứng dụng thư và sau đó được tiết lộ rằng phòng vé đã nhận được 3,5 triệu yêu cầu mua vé, đủ để lấp đầy địa điểm 580 lần. cùng với lời khen ngợi ("ABBA hóa ra thành công đáng kinh ngạc trong việc sao chép hồ sơ của họ", Creem đã viết), đã có những lời phàn nàn rằng "ABBA đã biểu diễn lắt léo ... nhưng với một tính cách không xuất hiện trong tổng số 16 người trên sân khấu" (Melody Maker viết). một trong những buổi hòa nhạc tại Royal Albert Hall đã được quay làm tài liệu tham khảo cho việc quay chuyến lưu diễn ở Úc để trở thành ABBA: The Movie, mặc dù không biết chính xác bao nhiêu buổi hòa nhạc được quay.

Sau chuyến lưu diễn châu Âu, vào tháng 3 năm 1977, ABBA đã biểu diễn 11 ngày tại Úc trước tổng cộng 160.000 người. Buổi hòa nhạc khai mạc tại Sydney Showground vào ngày 3 tháng 3 với khán giả 20.000 người đã bị tàn phá bởi cơn mưa xối xả với việc Lyngstad bị trượt té trên sân khấu ẩm ướt trong buổi hòa nhạc. Tuy nhiên, cả bốn thành viên sau đó sẽ nhớ lại buổi hòa nhạc này là kỷ niệm đáng nhớ nhất trong sự nghiệp của họ. Khi họ đến Melbourne, một buổi tiếp dân thường được tổ chức tại Tòa thị chính Melbourne và ABBA xuất hiện trên ban công để chào đón đám đông nhiệt tình 6.000 người. Tại Melbourne, nhóm đã biểu diễn ba buổi hòa nhạc tại Sidney Myer Music Bowl với 14,500 người, bao gồm cả Thủ tướng Úc Malcolm Fraser và gia đình ông. Tại buổi hòa nhạc đầu tiên ở Melbourne, có thêm 16.000 người đã tập trung bên ngoài khu vực có rào chắn để nghe buổi hòa nhạc. Tại Adelaide, nhóm đã biểu diễn một buổi hòa nhạc tại Sân vận động bóng đá West Lakes trước 20.000 người, với 10.000 người khác lắng nghe bên ngoài. Trong lần đầu tiên trong năm buổi hòa nhạc ở Perth, đã có một vụ đánh bom kinh hoàng với tất cả mọi người phải sơ tán khỏi Trung tâm giải trí. chuyến đi được đi kèm với sự cuồng loạn lớn và sự chú ý của truyền thông chưa từng có ("ABBA của Thụy Điển khuấy động phòng vé trong chuyến lưu diễn Down Under ... và các phương tiện truyền thông của các đối thủ tứ tấu sắp đưa vào tour diễn Hoàng gia Úc sắp tới", Variety viết), và được ghi lại trên phim trong ABBA: The Movie, đạo diễn bởi Lasse Hallstrom. Ngoại hình xinh đẹp của Fältskog từ lâu đã biến cô thành "cô gái pin-up" của ban nhạc, một vai trò mà cô khinh bỉ. Trong chuyến lưu diễn ở Úc, cô đã biểu diễn trong bộ jumpsuit trắng bó sát da, khiến một tờ báo Úc sử dụng tiêu đề "Chương trình tối tăm dưới cùng của Agnetha". Khi được hỏi về điều này tại một cuộc họp báo, cô trả lời: "Không phải họ có mặt ở [[Úc00 sao?"

Vào tháng 12 năm 1977, ABBA tiếp nối Arrival với album thứ năm đầy tham vọng hơn ABBA: The Album, được phát hành trùng với sự ra mắt của ABBA: The Movie. Mặc dù album ít được các nhà phê bình ở Anh Quốc đón nhận, nhưng nó đã tạo ra nhiều bản hit khác trên toàn thế giới: "The Name of the Game" và "Take a Chance on Me", cả hai đều đứng đầu các bảng xếp hạng của Anh, và đứng ở vị trí thứ 12 và thứ ba tương ứng trên bảng xếp hạng Hot 100 của Billboard tại Mỹ. mặc dù "Take a Chance on Me" không đứng đầu các bảng xếp hạng của Mỹ, nhưng nó đã chứng tỏ là đĩa đơn lớn nhất của ABBA lúc đó, bán được nhiều bản hơn "Dancing Queen". [43] Album cũng bao gồm "Thank You for the Music", phần B của "Eagle" ở các quốc gia nơi phần sau được phát hành dưới dạng đĩa đơn, và được phát hành dưới dạng đĩa đơn A ở Anh và Ireland vào năm 1983 ."Thank You for the Music" đã trở thành một trong những bài hát của ABBA được yêu thích và nổi tiếng nhất mà không được phát hành dưới dạng đĩa đơn trong suốt sự nghiệp của nhóm.

Bên ngoài Polar Music Studio

Vào năm 1978, ABBA là một trong những ban nhạc lớn trên thế giới. Họ đã chuyển đổi một rạp chiếu phim trống thành Polar Music Studio, một studio hiện đại ở Stockholm. Phòng thu được sử dụng bởi một số ban nhạc khác; Đáng chú ý là GenesisLed Zeppinin đã được thu âm ở đó. Trong tháng 5, nhóm đã đến Hoa Kỳ cho một chiến dịch quảng cáo, biểu diễn cùng với Andy Gibb trong chương trình truyền hình của Olivia Newton-John. Các buổi ghi âm cho đĩa đơn "Thành phố đêm mùa hè" là một cuộc đấu tranh khó khăn, nhưng khi phát hành bài hát đã trở thành một hit khác cho nhóm. Ca khúc sẽ tạo tiền đề cho sự đột phá của ABBA tại thị trường âm nhạc với album tiếp theo của họ.

Vào ngày 9 tháng 1 năm 1979, nhóm đã biểu diễn "Chiquitita" tại buổi hòa nhạc Music for UNICEF được tổ chức tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc để kỷ niệm Năm thiếu nhi của UNICEF. ABBA đã tặng bản quyền của bản hit toàn cầu này cho UNICEF. Đĩa đơn được phát hành vào tuần sau và đạt vị trí số một tại mười quốc gia.

Vào giữa tháng 1 năm 1979, Ulvaeus và Fältskog tuyên bố họ đã ly hôn. Tin tức gây ra sự quan tâm từ giới truyền thông và dẫn đến suy đoán về tương lai của ban nhạc. ABBA đảm bảo với báo chí và nhóm người hâm mộ của họ rằng họ đang tiếp tục làm việc theo nhóm và việc ly hôn sẽ không ảnh hưởng đến họ. Tuy nhiên, các phương tiện truyền thông tiếp tục đối đầu với họ với điều này trong các cuộc phỏng vấn. Để thoát khỏi vòng xoáy truyền thông và tập trung vào văn bản của họ, Andersson và Ulvaeus đã bí mật đi đến Compass Point Studios ở Nassau, Bahamas, trong hai tuần họ đã chuẩn bị các bài hát cho album tiếp theo của họ.

Album phòng thu thứ sáu của nhóm, Voulez-Vous, được phát hành vào tháng 4 năm 1979, ca khúc chủ đề được thu âm tại Criteria Studios nổi tiếng ở Miami, Florida, với sự hỗ trợ của kỹ sư thu âm Tom Dowd cùng với những người khác. album đứng đầu các bảng xếp hạng trên khắp châu Âu và ở Nhật Bản và Mexico, lọt vào Top 10 ở Canada và Úc và Top 20 ở Hoa Kỳ. không có đĩa đơn nào trong album đạt vị trí số một trên bảng xếp hạng của Anh, nhưng "Chiquitita", "Does Your Mother Know", "Angeleyes" (với "Voulez-Vous", được phát hành dưới dạng bìa A đôi) và "I Have a Dream" là tất cả 5 hit hàng đầu của Anh. Ở Canada, "Tôi có một giấc mơ" đã trở thành số một của ABBA trên bảng xếp hạng RPM dành cho người lớn (sau khi "Fernando" đạt đỉnh cao trước đó). Cũng trong năm 1979, nhóm đã phát hành album tổng hợp thứ hai của họ, Greatest Hits Vol. 2, trong đó có một ca khúc hoàn toàn mới: "Gimme! Gimme! Gimme!.

Vào ngày 13 tháng 9 năm 1979, ABBA bắt đầu ABBA: The Tour at Northlands Coliseum ở Edmonton, Canada, với khoảng 14.000 khán giả. "Tiếng nói của ban nhạc, sự cao cả của Agnetha kết hợp với âm điệu tròn, phong phú của Anni-Frid, thật tuyệt vời ...về mặt kỹ thuật hoàn hảo, giai điệu chính xác và luôn ở trong âm vực hoàn hảo ... Giọng nói nhỏ nhẹ của Anni-Frid và giọng hát cao vút của Agnetha thật tuyệt vời ", tạp chí Edmonton nói.

Trong bốn tuần tiếp theo, họ đã biểu diễn tổng cộng 17 ngày bán hết, 13 ở Hoa Kỳ và bốn ở Canada. buổi hòa nhạc ABBA được lên lịch gần đây nhất tại Hoa KỳWashington, DC đã bị hủy do sự đau khổ về cảm xúc của Fältskog phải chịu trong chuyến bay từ New York đến Boston, khi máy bay riêng của nhóm phải chịu điều kiện thời tiết khắc nghiệt và không thể hạ cánh trong thời gian dài. Họ đã xuất hiện tại Boston Music Hall cho buổi biểu diễn dài 90 phút. Chuyến lưu diễn kết thúc với một chương trình tại Toronto, Canada tại Maple Leaf Gardens trước đám đông có sức chứa 18.000 người. "ABBA trình diễn với sức mạnh và âm lượng đáng ngạc nhiên, nhưng mặc dù chúng to, nhưng chúng cũng rõ ràng, điều đó công bằng với âm thanh giọng hát đặc trưng ... Bất cứ ai chờ đợi năm năm để thấy ABBA đều sẽ hài lòng", Record World viết.

Vào ngày 19 tháng 10 năm 1979, chuyến lưu diễn được nối lại ở Tây Âu, nơi ban nhạc trình diễn 23 đêm đã bán hết vé, trong đó có sáu đêm bán hết tại Sân vận động Wembley của London.

1981-1982[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 1 năm 1981, Ulvaeus kết hôn với Lena Källersjö và người quản lý Stig Anderson đã tổ chức sinh nhật lần thứ 50 của mình bằng một bữa tiệc. Nhân dịp này, ABBA đã ghi lại ca khúc "Hovas Vittne" (một cách chơi chữ theo tên tiếng Thụy Điển cho nơi sinh của Nhân Chứng Giê-hô-va) như một sự tôn vinh đối với anh ta và chỉ phát hành trên 200 bản vinyl đỏ, để phân phát cho khách tham dự bữa tiệc. Đĩa đơn này đã trở thành một bộ sưu tập được tìm kiếm. Vào giữa tháng 2 năm 1981, Andersson và Lyngstad tuyên bố họ đang đệ đơn ly hôn. Thông tin nổi lên rằng cuộc hôn nhân của họ là một cuộc đấu tranh khó khăn trong nhiều năm và Benny đã gặp một người phụ nữ khác, Mona Nörklit, người mà anh kết hôn vào tháng 11 năm 1981.

Andersson và Ulvaeus đã có các buổi sáng tác bài hát vào đầu năm 1981 và các buổi ghi âm bắt đầu vào giữa tháng 3. Vào cuối tháng 4, nhóm đã thu âm một chương trình truyền hình đặc biệt, Dick Cavett Meets ABBA với người dẫn chương trình trò chuyện ở Mỹ Dick Cavett. Khách truy cập, album phòng thu thứ tám và cuối cùng của ABBA, cho thấy sự trưởng thành trong sáng tác và độ sâu của cảm giác thiếu rõ rệt so với các bản thu trước đó nhưng vẫn đặt ban nhạc thẳng đứng trong thể loại nhạc pop, với giai điệuhòa âm bắt tai. Mặc dù không được tiết lộ tại thời điểm phát hành, ca khúc chủ đề của album, theo Ulvaeus, đề cập đến các cuộc họp bí mật chống lại sự chấp thuận của các chính phủ chuyên chế ở các quốc gia do Liên Xô thống trị, trong khi các bài hát khác đề cập đến các mối quan hệ thất bại, mối đe dọa chiến tranh, lão hóa, và mất đi sự hồn nhiên. Bản phát hành duy nhất của album, "One of Us", đã chứng tỏ là bản cuối cùng trong số chín đĩa đơn số một của ABBA tại Đức vào tháng 12 năm 1981; top 5 trên bảng xếp hạng Nam Phi. "One of Us" cũng là Top 3 cuối cùng của ABBA tại Anh, đạt vị trí số 1 trên một số bảng xếp hạng (như Record Mirror).

Mặc dù đứng đầu các bảng xếp hạng album trên hầu hết châu Âu, bao gồm Ireland, AnhĐức, The visitor không thành công về mặt thương mại như các sản phẩm tiền nhiệm, cho thấy sự suy giảm thương mại tại các thị trường trung thành trước đây như Pháp, ÚcNhật Bản. Một ca khúc trong album, "When All Is Said and Done", được phát hành dưới dạng đĩa đơn ở Bắc Mỹ, ÚcNew Zealand, và phù hợp trở thành hit 40 cuối cùng của ABBA tại Hoa Kỳ (ra mắt trên bảng xếp hạng của Mỹ vào ngày 31 tháng 12 năm 1981), đồng thời lọt vào Top 10 đĩa đơn nhạc đương đại dành cho người lớn của Hoa Kỳ và đứng thứ tư trên bảng xếp hạng RPM dành cho người lớn ở Canada. Với câu chuyện hiện đã được công khai về vụ ly hôn của Andersson và Lyngstad, gia tăng sự căng thẳng trong ban nhạc. Cũng được phát hành tại Hoa Kỳ là ca khúc chủ đề của The visitor, đã lọt vào Top 10 trên bảng xếp hạng Billboard Hot Dance Club Play.

Phong cách nghệ thuật[sửa | sửa mã nguồn]

ABBA tại Edmonton, Canada vào năm 1979

ABBA là những người cầu toàn trong phòng thu, làm việc và theo dõi cho đến khi họ hiểu đúng hơn là để họ phải làm lại sau này.

Ban nhạc đã tạo ra một đội hình cơ bản với một tay trống, guitar và người chơi bass, và bổ sung thêm các dàn nhạc và nhạc cụ khác. Các giọng hát sau đó đã được thêm vào, và các phần còn lại của dàn nhạc thường được để lại cho đến cuối cùng.

FältskogLyngstad đóng góp ý tưởng tại sân khấu. AnderssonUlvaeus đã phối khí cho họ các bản nhạc và họ đã đưa ra nhận xét và đề xuất. Theo Fältskog, cô và Lyngstad có tiếng nói cuối cùng về cách định hình lời bài hát.

Thành viên[sửa | sửa mã nguồn]

  • Agnetha Fältskog (sinh năm 1950) bắt đầu sự nghiệp ca hát năm 17 tuổi. Bà đặc biệt nổi tiếng với 2 đĩa Jag Var Sa Kar Utan Dej (bán chạy hơn các đĩa của The Beatles ở Thụy Điển). Bà sở hữu chất giọng cao, trong. Bà là một trong hai ca sĩ chính, là linh hồn của ban nhạc.
  • Björn Ulvaeus (sinh năm 1945) là cựu thành viên của The Hootenanny Singers (ban nhạc nổi tiếng của Thụy Điển). Ông lập gia đình với Agnetha vào năm 1970. Ông là người sáng tác chính của ABBA.
  • Anni-Frid Lyngstad (sinh năm 1945) (tên gọi thân mật là Frida) bắt đầu sự nghiệp ca hát năm 13 tuổi. Bà đã từng đoạt giải trong cuộc thi Eurovision ở Thụy Điển. Bà lập gia đình với Benny vào năm 1978. Khác với Agnetha, bà sở hữu chất giọng trầm và truyền cảm. Bà là một trong hai ca sĩ chính của ban nhạc.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Album phòng thu

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Moskowitz, David V. (31 tháng 10 năm 2015). The 100 Greatest Bands of All Time: A Guide to the Legends Who Rocked the World. GREENWOOD Publishing Group Incorporated. tr. 1. ISBN 1440803390. 
  2. ^ Mike Evans: Rock'n'Roll's Strangest Moments: Extraordinary But True Tales from 45 Years of Rock & Roll History. Pavilion Books, 2014, chapter ABBA again (Sweden, 1974–1981), pp. 169 (excerpt (Google books))
  3. ^ Harrison, Andrew. “Why are ABBA so popular?”. bbc.com. British Broadcasting Corporation (BBC). Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ “Eminem scores seventh consecutive UK Number 1 album”. Official Charts Company. 11 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 9 năm 2016. 
  5. ^ “Abba Win 'Eurovision 50th' Vote”. BBC News. 23 tháng 10 năm 2005. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2006. 
  6. ^ “ABBA Makes Rock and Roll Hall of Fame Los Angeles Times 16 December 2009”. Los Angeles Times. 16 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2010. 
  7. ^ GRAMMY Hall Of Fame Class Of 2015 | GRAMMY.com
  8. ^ Metro.co.uk, Amy Duncan for (26 tháng 10 năm 2016). “Abba confirmed to reunite in 2017 with mysterious Simon Fuller project”. Metro. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2017. 

Tài liệu

  • Palm, Carl Magnus (2001). Bright Lights, Dark Shadows: The Real Story of ABBA. London: Omnibus. ISBN 0-7119-8389-5. 

Đọc thêm

  • ABBA – 5 Years. Billboard, 1979-9-8, pp. 23–46 (online copy (Google))
  • Benny Andersson, Björn Ulvaeus, Judy Craymer: Mamma Mia! How Can I Resist You?: The Inside Story of Mamma Mia! and the Songs of ABBA. Weidenfeld & Nicholson, 2006
  • Carl Magnus Palm. ABBA – The Complete Recording Sessions (1994)
  • Carl Magnus Palm (2000). From "ABBA" to "Mamma Mia!" ISBN 1-85227-864-1
  • Elisabeth Vincentelli: ABBA Treasures: A Celebration of the Ultimate Pop Group. Omnibus Press, 2010, ISBN 9781849386463
  • Oldham, Andrew, Calder, Tony & Irvin, Colin (1995) "ABBA: The Name of the Game", ISBN 0-283-06232-0
  • Potiez, Jean-Marie (2000). ABBA – The Book ISBN 1-85410-928-6
  • Simon Sheridan: The Complete ABBA. Titan Books, 2012, ISBN 9781781164983
  • Anna Henker (ed.), Astrid Heyde (ed.): Abba – Das Lexikon. Northern Europe Institut, Humboldt-University Berlin, 2015 (German)

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]