Kylie (album)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Kylie
Album phòng thu của Kylie Minogue
Phát hành 4 tháng 7 năm 1988
Thu âm Mùa thu 1987 - Mùa xuân 1988 tại Luân Đôn, Anh
Thể loại
Thời lượng 35:22
Hãng đĩa
Sản xuất Stock Aitken Waterman
Thứ tự album của Kylie Minogue
Kylie
(1988)
Enjoy Yourself
(1989)
Đĩa đơn từ Kylie
  1. "I Should Be So Lucky"
    Phát hành: 29 tháng 12 năm 1987
  2. "Got to Be Certain"
    Phát hành: 2 tháng 5 năm 1988
  3. "The Loco-Motion"
    Phát hành: 25 tháng 8 năm 1988
  4. "Je Ne Sais Pas Pourquoi"
    Phát hành: 17 tháng 10 năm 1988
  5. "It's No Secret"
    Phát hành: 15 tháng 12 năm 1988
  6. "Turn It into Love"
    Phát hành: 21 tháng 12 năm 1988

Kylie là album đầu tay của nữ ca sĩ người Úc Kylie Minogue, được phát hành bởi hãng thu âm PWL vào ngày 4 tháng 7 năm 1988. Kylie được sản xuất bởi Stock, Aitken và Waterman, những người đóng góp 9 trong 10 sáng tác trong album. Phần lớn các sáng tác đều mang thể loại dance-pop, với những ảnh hưởng mạnh mẽ của dòng nhạc teen popbubblegum pop. Album cũng bao gồm một vài bản ballad, trong đó có "Je Ne Sais Pas Pourquoi", "It's No Secret" và "I Miss You". Một số lượng lớn ca khúc trong album lặp lại phong cách teen pop và dance-pop, điển hình là "I Should Be So Lucky" và "The Loco-Motion."

Kylie nhận được những đánh giá trung lập từ các nhà phê bình âm nhạc, khi có ý kiến so sánh phong cách âm nhạc với album cùng tên đầu tay (1983) của Madonna. Album đạt thành công về thương mại trên thế giới, leo lên vị trí quán quân ở Anh, New ZealandNhật Bản cũng như phát hành ba đĩa đơn quán quân tại Úc. Ở Bắc Mỹ, album xếp hạng thấp trên Billboard 200 nhưng vẫn đạt ngưỡng 500.000 bản và được chứng nhận đĩa Vàng. Tại Úc, album được tái bản với tên The Kylie Collection vào năm 1988, kèm theo video VHS và những bản nhạc phối lại bổ sung. Kylie đã 7 lần được chứng nhận Bạch kim tại Anh và tiêu thụ 7 triệu bản toàn thế giới.

Kylie đã phát hành 6 đĩa đơn. Đĩa đơn đầu tay của cô là phiên bản trình diễn lại ca khúc "The Loco-Motion" của Little Eva do Gerry GoffinCarole King sáng tác. Bài hát vươn lên những bảng xếp hạng trên thế giới và đứng đầu tại 8 quốc gia, lọt vào top 10 ở 20 bảng xếp hạng và trở thành một trong những đĩa đơn thành công nhất của Minogue đến nay. Đĩa đơn "I Should Be So Lucky" dẫn đầu vị trí đầu bảng tại 7 quốc gia, trong đó có Úc và Anh và đạt vị trí thứ 28 trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 tại Mỹ.

Bối cảnh thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Kylie Minogue và em gái Dannii Minogue bắt đầu sự nghiệp trên sóng truyền hình Úc từ khi còn nhỏ.[1] Vào năm 1979, Kylie được xuất hiện trong loạt chương trình truyền hình The SullivansSkyways khi chỉ mới 11 tuổi.[2] Năm 1985, Kylie được tuyển vai chính trong loạt phim truyền hình dài tập The Henderson Kids nhưng vai diễn của cô chỉ kéo dài trong một mùa phát sóng.[3] Cảm thấy hứng thú trong việc theo đuổi sự nghiệp âm nhạc, cô từng thực hiện một đoạn băng thu thử cho các nhà sản xuất của chương trình âm nhạc hàng tuần Young Talent Time,[4] nơi Dannii thường xuyên góp mặt.[5] Sau đó, Kylie được tham gia chương trình và được trình diễn lần đầu trước sóng truyền hình vào năm 1985, cho dù cô không được mời gia nhập vào đoàn. Thành công của Dannii phần nào lấn lướt hơn sự nghiệp diễn xuất của Kylie,[1] cho đến khi Kylie được tuyển vai trong loạt chương trình truyền hình dài tập Neighbours vào năm 1986.[6] Cô vào vai Charlene Mitchell, một nữ sinh có tương lai trở thành thợ cơ khí. Trong một tập phim vào năm 1987, khi lấy việc Mitchell thành hôn cùng nhân vật Scott Robinson (do Jason Donovan thủ vai) làm bối cảnh chính, đã có gần 20 triệu khán giả tại Anh Quốc theo dõi, trở thành một trong những tập chương trình truyền hình Úc được theo dõi nhiều nhất trên toàn cầu [7] Trong đêm nhạc từ thiện Fitzroy Football Club cùng dàn diễn viên Neighbours, Minogue có song ca cùng diễn viên John Waters trong bài hát "I Got You Babe" và "The Loco-Motion", rồi sau đó ký kết hợp đồng cùng Mushroom Records vào năm 1987.[8]

Sáng tác, thu âm và phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Sáng tác và thu âm[sửa | sửa mã nguồn]

Lúc Minogue đến Anh Quốc để hợp tác sản xuất album, tác giả Stock, Aitken & Waterman do không biết cô đến mà sáng tác "I Should Be So Lucky" chỉ trong vòng 45 phút khi Minogue chờ bên ngoài phòng thu.[9] Sau khi Minogue trở về Úc để tiếp tục thực hiện Neighbours, Mike Stock phải bay đến Melbourne và xin lỗi cô vì sai sót trong lần thu âm trước, rồi thuyết phục Minogue trở lại Luân Đôn vào đầu năm 1988 và thu âm những ca khúc cho album phòng thu đầu tay của cô.[9]

Kylie là album mang thể loại pop rocknhạc điện tử, với những ảnh hưởng từ dance-pop, eurodanceteen pop.[10] "The Loco-Motion", một bài hát do Gerry GoffinCarole King sáng tác, là bài hát đầu tiên Minogue từng thu âm; cô đến Melbourne để thu âm bài hát nhưng không thể đạt cùng một khóa với phần nhạc nền, nên cô cải thiện giọng hát để có thể đạt đến nốt Mi thứ.[11] "I Should Be So Lucky" được cô thu âm chưa đến một tiếng đồng hồ, với giai điệu dance-pop và các ảnh hưởng từ bubblegum popnew wave. Mike Stock viết lời ca khúc này về những gì mà anh biết về Minogue trước khi được gặp cô, tin rằng dù cô là một ngôi sao tại Úc nhưng lại "gặp vận rủi trong tình yêu".[9] "Got to Be Certain" tuy từng được sử dụng bởi ca sĩ Mandy Smith cho album phòng thu Mandy nhưng phiên bản đó bị hủy và sau đó được đưa cho Kylie, với thể loại dance và được thu âm tại Melbourne vào tháng 4 năm 1988.[12][13][14]

Phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Đĩa đơn đầu tay của cô, "The Loco-Motion" có 7 tuần giữ ngôi quán quân trên bảng xếp hạng Australian Singles Charts và trở thành đĩa đơn bán chạy nhất tại Úc trong thập niên 1980,[15] đồng thời giúp cô nhận giải ARIA Award cho đĩa đơn bán chạy nhất của năm.[16]

Đĩa đơn đầu tiên trích từ album, "I Should Be So Lucky" trở thành đĩa đơn quán quân của Minogue tại Úc và Anh.[17] "Got to Be Certain", đĩa đơn thứ hai, cũng vươn lên vị trí đầu bảng tại Úc và nhận được thành công ở một số quốc gia trên thế giới, leo lên vị trí á quân tại Anh 3 tuần liền cũng như lọt vào top 10 ở Đức và Thụy Sĩ.[18] Minogue đã thu âm lại "Locomotion" vào tháng 4 năm 1988, đổi tên ca khúc thành "The Loco-Motion". Ca khúc đã được phát hành với tư cách là đĩa đơn thứ ba của album và trở thành bài hát thành công nhất tại Anh trình bày bởi một nghệ sĩ nữ.[19] Ở Nam Mỹ, bài hát nằm tại vị trí đầu bảng ở Canada và vị trí thứ ba trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 ở Mỹ.[19][20][21] Đĩa đơn thứ 4, "Je Ne Sais Pas Pourquoi", leo lên vị trí thứ 2 ở Anh.[22] "It's No Secret" sau đó đã trở thành đĩa đơn thứ tư tại Úc, Nam Mỹ và Nhật Bản còn "Turn It into Love" thì được phát hành độc quyền ở Nhật Bản nhưng không được quảng bá hay quay video âm nhạc, dù vậy, ca khúc vẫn dành 10 tuần ở vị trí quán quân trên bảng xếp hạng âm nhạc của quốc gia này.

Tiếp nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn[sửa | sửa mã nguồn]

Đánh giá chuyên môn
Nguồn đánh giá
Nguồn Đánh giá
Allmusic 2.5/5 saoStar full.svgStar half.svgStar empty.svgStar empty.svg [23]
Digital Spy 3/5 saoStar full.svgStar full.svgStar empty.svgStar empty.svg[24]

Kylie nhận được những đánh giá trung lập từ những nhà phê bình âm nhạc. Chris True từ Allmusic cho album 2.5 trên 5 sao, cùng một đánh giá trung lập. Anh cho rằng "Trong khi phần sản xuất [...] mang giá trị hiện đại và giai điệu thì theo chuẩn mực nhạc bubblegum cuối thập kỷ 80 của Stock-Aitken-Waterman, thì album vẫn có những chất lượng dễ mến. Đầu tiên, cô thể hiện được cá tính của mình nhiều hơn Stock kia, et al." Anh đồng thời cũng cho rằng Minogue có thể trở thành một ngôi sao nhạc pop và là "một biểu tượng châu Âu".[23] Digital Spy thì gửi tặng cho album 3 trên 5 sao. Anh cho rằng ca khúc nổi bật đó chính là "I Should Be So Lucky", viết rằng, "những ai chối từ ca khúc cổ điển 'I Should Be So Lucky' rõ ràng đã để cơ tai của mình mềm nhão". Anh đồng thời cũng kết thúc bài đánh giá cùng nhận xét, "Tiêu chuẩn thấp của những bài hát mà nhóm S.A.W. đưa cho Kylie rất hiện đại như kiểu tóc của cô trong ảnh bìa của album vậy, nó như được chạy bằng nhiều cách hay như một ổ bánh mì, nhưng tên lửa nhạc Pop Úc nhỏ bé này đã sẵn sàng thể hiện tính cách của mình và sự tinh túy của những năm 80 quyến rũ trong album để giành được chiến thắng."[24]

Thành công thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Kylie đã xuất hiện trên bảng xếp hạng UK Albums Chart ở vị trí thứ hai ngày 10 tháng 7 năm 1988 rồi vươn lên vị trí đầu bảng 4 tuần liền từ ngày ngày 21 tháng 8 năm 1988 và thêm hai tuần nữa ngày 13 tháng 11 năm 1988.[25] Album cuối cùng đã được chứng nhận đĩa Bạch kim 6 lần vào ngày 5 tháng 1 năm 1989,[26] bán được tổng cộng 1.8 triệu bản vào năm 1988 (đến nay là 2,105,698 bản)[27] và trở thành album bán chạy nhất của năm.[28] Kylie đã trở thành album đầu tiên của một nữ nghệ sĩ bán được hơn 2 triệu bản tại Anh[29] và trở thành album bán chạy thứ 58 mọi thời đại.[30] Tại Úc, album leo vị trí á quân, được chứng nhận đĩa Bạch kim hai lần kể từ khi phát hành.[17] Ngoài ra, album cũng lọt vào top 10 tại Đức,[31] Na Uy,[32] Thụy Sĩ,[33] cùng số bán 143,627 bản tại Thụy Điển. Kylie sau đó tiếp tục leo lên vị trí 53 trên bảng xếp hạng Billboard 200 ở Mỹ.[34] Năm 1989, album đã nhận được chứng nhận đĩa Vàng tại đây[35] và Bạch kim tại Canada.[17] Hiện tại, Kylie đang là album thành công lâu nhất của cô tại New Zealand, nằm tại vị trí thứ nhất, và xuất hiện trên bảng xếp hạng 53 tuần liền.[36]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Tất cả các bài hát được sáng tác và sản xuất bởi Mike Stock, Matt Aitken và Pete Waterman, trừ "The Loco-Motion", sáng tác bởi Gerry GoffinCarole King.

STT Tên bài hát Thời lượng
1. "I Should Be So Lucky"   3:28
2. "The Loco-Motion"   3:17
3. "Je Ne Sais Pas Pourquoi"   4:03
4. "It's No Secret"   4:01
5. "Got to Be Certain"   3:21
6. "Turn It into Love"   3:39
7. "I Miss You"   3:18
8. "I'll Still Be Loving You"   3:52
9. "Look My Way"   3:39
10. "Love at First Sight" (không liên quan đến ca khúc cùng tên năm 2001 của Minogue) 3:11

Những người thực hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách dưới đây lấy từ trang Allmusic:[37]

Định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là những định dạng chính của album Kylie.

Định dạng phát hành Quốc gia Mã hàng Hãng đĩa
Album vinyl tại Úc[38] Úc TVL-93277 Mushroom Records
Album CD tại Anh[39] Vương Quốc Anh HFCD3 PWL
Phiên bản Mỹ[40] Hoa Kỳ GHS24195 Geffen Records
Phiên bản Nhật Bản[41] Nhật Bản 32XB-280 Alfa Records
Album vinyl tại Nhật[42] Nhật Bản ALI-28109 Alfa Records
Album vinyl tại Hàn Quốc[43] Hàn Quốc SWPR-001 PWL

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Hiệp hội Chứng nhận Số bán
Úc ARIA 6× Bạch kim[44] 420,000+
Pháp SNEP Bạch kim[45] 300,000+
Phần Lan IFPI Phần Lan Vàng[46] 25,000
Đức IFPI Đức Vàng[47] 250,000+
Thụy Sĩ IFPI Bạch kim[48] 50,000+
Anh BPI 6× Bạch kim[49] 2,100,000+
Mỹ RIAA Vàng[50] 500,000+

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]


Tiền nhiệm:
Now That's What I Call Music 12 của Nhiều ca sĩ
Money for Nothing của Dire Straits
Album quán quân tại Anh
27 tháng 8 năm 1988 – 23 tháng 9 năm 1988
19 tháng 11 năm 1988 – 2 tháng 12 năm 1988
Kế nhiệm:
Hot City Nights của Nhiều ca sĩ
Now That's What I Call Music XIII của Nhiều ca sĩ

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • The Videos – Phát hành VHS thứ hai của Kylie gồm những video âm nhạc quảng bá từ những đĩa đơn của album.
  • Kylie: The Videos – Phát hành VHS thứ hai của Kylie gồm những video âm nhạc quảng bá từ những đĩa đơn của album.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Bright, Spencer (ngày 9 tháng 11 năm 2007). “Why we love Kylie – By three of the people who know her best”. Daily Mail (London). Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2009. 
  2. ^ Wearring, Miles (ngày 28 tháng 5 năm 2008). “Kylie's life on screen”. Herald Sun. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  3. ^ Wearring, Miles (28 tháng 5 năm 2008). “Kylie's life on screen”. Herald Sun. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  4. ^ Adams, Cameron (ngày 2 tháng 8 năm 2007). “Kylie Minogue – 20 years on”. Herald Sun. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. 
  5. ^ Smith, p. 16
  6. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Goddessofthemoment
  7. ^ Simpson, Aislinn (ngày 27 tháng 5 năm 2008). “Kylie Minogue celebrates 40th birthday”. The Daily Telegraph (London). Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  8. ^ Smith, p. 18
  9. ^ a ă â “Transcript of television documentary Love Is in the Air, episode title "I Should Be So Lucky"”. ABC Television. Ngày 2 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2006. 
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên allmusic
  11. ^ S, Smith. Pg 50.
  12. ^ “Got to Be Certain - Kylie Minogue”. Allmusic. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2012. 
  13. ^ http://www.kylie.com/discography/singles/got-to-be-certain/
  14. ^ http://www.discogs.com/Kylie-Minogue-Got-To-Be-Certain/release/1423840
  15. ^ Maley, Jacqueline (ngày 5 tháng 8 năm 2007). “20 years at the top: she should be so lucky”. The Sydney Morning Herald. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ “1988: 2nd Annual ARIA Awards”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 5 tháng 6 năm 2012. 
  17. ^ a ă â "Chronology". Kylie.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007
  18. ^ "Discography: Got to Be Certain". Kylie.com. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2007.
  19. ^ a ă "Discography: The Loco-Motion". Kylie.com. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
  20. ^ Smith, p. 219
  21. ^ “1989: 3rd Annual ARIA Awards”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  22. ^ "Discography: Je Ne Sais Pas Pourquoi". Kylie.com. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2007.
  23. ^ a ă Allmusic trên AllMusic
  24. ^ a ă Kylie trên Digital Spy
  25. ^ Kylie: Music — Singles. Official Web Site. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2007.
  26. ^ "British sales certificate for 'Kylie'". British Phonographic Industry. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2007.
  27. ^ [1] Retrieved ngày 17 tháng 11 năm 2009.
  28. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên offical
  29. ^ “A Happy Anniversary For Kylie”. Theofficialcharts.com. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 
  30. ^ “Record-Breakers and Trivia - Albums - everyHit.com”. Retrocharts.com. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 
  31. ^ a ă "World Chart Positions". Charts-Surfer.de. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  32. ^ a ă "Discography Kylie Minogue". NorwegianCharts.com. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  33. ^ a ă "Discography Kylie Minogue". SwissCharts.com. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  34. ^ a ă "Kylie Minogue > Charts & Awards > Billboard Albums". Allmusic. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2007.
  35. ^ "Searchable Database". Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2007.
  36. ^ Steffen Hung. “Kylie Minogue - Kylie”. charts.org.nz. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 
  37. ^ "Kylie > Credits". Allmusic. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
  38. ^ Kylie Australian vinyl album. Eil.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
  39. ^ Kylie UK CD. Eil.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
  40. ^ Kylie U.S. CD. Eil.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
  41. ^ Kylie Japanese vinyl album. Eil.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
  42. ^ Kylie Japanese vinyl album. Eil.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
  43. ^ Kylie Korean vinyl album. Eil.com. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2007.
  44. ^ Kent, David (1993). Australian Chart Book 1970–1992 (doc). Australian Chart Book, St Ives, N.S.W. ISBN 0-646-11917-6. 
  45. ^ “Les Certifications (Albums) du SNEP (Bilan par artiste)”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2011. 
  46. ^ “Kulta- ja platinalevyt”. International Federation of the Phonographic Industry (bằng tiếng Phần Lan). Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2010. 
  47. ^ “Gold/Platin Datenbank”. International Federation of the Phonographic Industry. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2011. 
  48. ^ “Search Awards”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2011. 
  49. ^ “Certified Awards - Searchable Database”. British Phonographic Industry. Truy cập ngày 27 tháng 3 năm 2011. 
  50. ^ “RIAA Certification - Gold & Platinum”. Recording Industry Association of America. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011. 
  51. ^ "Discographie Kylie Minogue". AustrianCharts.at. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2008.
  52. ^ カイリー・ミノーグ
  53. ^ Kylie charts.org.nz
  54. ^ “Kylie Minogue - Kylie (album)”. Sverigetopplistan. Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2011. 
  55. ^ “ARIA Charts - End of Year Charts - Top 50 Albums 1988”. Aria.com.au. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 
  56. ^ “UK Singles Top 50 for Year - 1988”. Mostynhouseschool.com. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]