Lena Meyer-Landrut

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lena Meyer-Landrut
Lena Meyer-Landrut at PC after 2010 Eurovision 2.jpg
Meyer-Landrut trong buổi họp báo sau khi chiến thắng Eurovision Song Contest 2010, tháng 5 năm 2010
Thông tin nghệ sĩ
Nghệ danh Lena
Sinh 23 tháng 5, 1991 (26 tuổi)
Nguyên quán Hanover, Đức
Thể loại Pop
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ
Năm hoạt động 2010–nay
Hãng đĩa USFO, Universal Music Germany
Website www.lena-meyer-landrut.com

Lena Meyer-Landrut (sinh 23 tháng 5 năm 1991),[1] còn được biết đến với nghệ danh Lena (phát âm [ˈleːna]), là một nữ ca sĩ - nhạc sĩ người Đức. Cô đại diện cho Đức tại Eurovision Song Contest 2010Oslo, Na Uy, và chiến thắng cuộc thi với ca khúc Satellite, nhận 246 điểm trong đêm chung kết vào ngày 29 tháng 5.[2][3] Với ba ca khúc từ đêm chung kết của cuộc thi quốc gia Unser Star für Oslo, Lena đã lập kỷ lục trên bảng xếp hạng của nước mình với ba bài hát xuất hiện trong lần đầu tiên ngay trong Top 5 của bảng xếp hạng đĩa đơn ở Đức.[4] Satellite đứng đầu tại Đức, và đã 3 lần nhận được Đĩa Vàng.[5][6] Vào tháng 5/2010, Lena phát hành album đầu tay, My Cassette Player, ra mắt tại vị trí quán quân tại bảng xếp hạng album ở Đức và nhận được 5 Đĩa Vàng với hơn 500.000 bản, trong khi đĩa đơn Satellite phát hành trước đó nhận được 2 Đĩa Bạch Kim.[7] Lena cũng đại diện cho Đức tham gia Eurovision lần thứ hai liên tiếp tại Düsseldorf năm 2011 với ca khúc Taken by a Stranger.

Thời trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Lena Meyer-Landrut tên đầy đủ là Lena Johanna Therese Meyer-Landrut, sinh năm 1991, tại Hanover, Đức.[8] Cô là cháu gái của Andreas Meyer-Landrut, một nhà ngoại giao người Đức gốc Estonia, làm Đại sứ Tây Đức tại Moskva, Liên Xô từ 1980 tới 1983 và 1987 tới 1989;[9] đồng thời, cô cũng là cháu của Hanna Karatsony von Hodos, một quý tộc người Hungary. Cô là con một trong gia đình.[9] Cô bắt đầu học khiêu vũ từ năm 5 tuổi; ban đầu là học ba lê, sau đó là các loại hình múa hiện đại khác, bao gồm cả hip-hopjazz.[10] Lena bắt đầu thích ca hát và có tham gia một số vai diễn nhỏ trên phim truyền hình Đức, tuy nhiên cô chưa từng trải qua một lớp học diễn xuất hay luyện thanh nào.[11] Tháng 6 năm 2010, cô tốt nghiệp trường trung học công lập IGS Roderbruch Hannover, và nhận được bằng tú tài của mình.[12]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

2010: Unser Star für OsloMy Cassette Player[sửa | sửa mã nguồn]

Lena quyết định tham gia cuộc thi tài năng Unser Star für Oslo (Our Star for Oslo), một chương trình truyền hình mới được tổ chức nhằm tuyển chọn thí sinh người Đức tham gia cuộc thi Eurovision Song Contest 2010 được tổ chức tại Oslo, thủ đô Na Uy.[11] Cuộc thi được tổ chức bởi đài truyền hình quốc gia ARD, nhà đài tư nhân ProSieben, và nhà sản xuất âm nhạc Stefan Raab, người từng dự thi Eurovision. Lena và 20 thí sinh khác đã xuất sắc vượt qua vòng dự tuyển với hơn 4500 người để được tham gia chương trình. Khi được hỏi về động lực để tham gia cuộc thi, cô nói: "Tôi muốn kiểm tra khả năng của mình. Tôi muốn thấy rõ những gì mình cảm nhận được, và tôi muốn nghe những người có kiến thức sẽ nói gì về nó, cá nhân tôi không thể tự mình đánh giá bản thân."[13]

Sau màn trình diễn đầu tiên với ca khúc "My Same" của nữ ca sĩ người Anh Adele, Lena đã nhận được nhiều lời khen ngợi từ ban giám khảo của chương trình và ngay lập tức được nhiều người yêu mến.[11] Ngay tuần sau, ca khúc My Same của Adele nhanh chóng lọt vào vị trí thứ 61 trên BXH đĩa đơn của Đức.[14] Lena lọt vào chung kết của cuộc thi Unser Star für Oslo, cô chủ yếu trình bày các bài hát ít được biết đến của các nghệ sĩ quốc tế như The Bird and the Bee, Kate Nash, Paolo Nutini và Lisa Mitchell. Trong 8 ca khúc cô trình bày trước đó, 5 ca khúc gốc đã lọt vào BXH của Đức, trong đó ca khúc "Foundations" của Kate Nash còn đạt được vị trí cao nhất của nó từ trước tới nay.[15][16][17][18] Trong đêm chung kết ngày 12/3/2010, Lena hát 3 ca khúc được sáng tác đặc biệt dành cho cuộc thi, là "Bee", "Satellite" và "Love Me". Thông qua tin nhắn bình chọn khán giả đã chọn "Satellite", viết bởi nhạc sĩ người Mĩ Julie Frost và Dane John Gordon, để trở thành ca khúc dùng để tham gia Eurovision trong trường hợp cô chiến thắng. Ở vòng bình chọn thứ hai, Lena đã được chọn làm thí sinh người Đức tham gia Eurovision Song Contest lần thứ 55, sau khi đánh bại thí sinh còn lại, Jennifer Braun.[19] MV của "Satellite" nhanh chóng được quay ngay trong đêm chung kết và được ra mắt trên hệ thống truyền hình Đức 4 ngày sau đó.[20]

Lena tại New City Hall, Hanover sau khi chiến thắng Unser Star für Oslo, tháng 3/2010
Các ca khúc Lena Meyer-Landrut trình bày trong Unser Star für Oslo
Tuần Ca khúc Ca sĩ gốc
Tuần 1 "My Same" Adele
Tuần 3* Diamond Dave" The Bird and the Bee
Tuần 4 "Foundations" Kate Nash
Tuần 5 "New Shoes" Paolo Nutini
Tuần 6
(tứ kết)
"Mouthwash"
"Neopolitan Dreams"
Kate Nash
Lisa Mitchell
Tuần 7
(bán kết)
"Mr. Curiosity"
"The Lovecats"
Jason Mraz
The Cure
Tuần 8
(chung kết)
"Bee"
"Satellite"
"Love Me"
Jennifer Braun / Lena Meyer-Landrut**
Jennifer Braun / Lena Meyer-Landrut**
Lena Meyer-Landrut
*Lena Meyer-Landrut không tham gia tuần 2 của chương trình.
**Jennifer Braun và Lena Meyer-Landrut trình bày các phiên bản khác nhau của "Bee" và "Satellite" trong đêm chung kết.
Bìa Eurovision "Satellite"

Trong suốt chương trình, Lena được rất nhiều yêu mến của khán giả.[21] Một ngày sau khi chiến thắng Unser Star für Oslo, ba ca khúc mới cô vừa trình bày đã lọt vào BXH iTunes của Đức,[22] giúp cô trở thành ca sĩ đầu tiên đạt được kỉ lục đó.[23] "Satellite" bán đạt được hơn 100000 lượt tải về ngay trong tuần đầu phát hành, trở thành bản kĩ thuật số bán chạy nhất tại Đức từ trước tới giờ.[24] Ba ca khúc của cô đều lọt vào Top 5 trong BXH đĩa đơn ở Đức, đạt các vị trí nhất, ba và tư, điều mà chưa từng có ca sĩ nào đạt được kể từ khi BXH âm nhạc Đức được thiết lập vào năm 1959.[4] "Satellite" nhận được Đĩa Vàng ngay sau tuần đầu và Đĩa Bạch Kim sau bốn tuần kể từ khi phát hành.[24][25] Ca khúc liên tục đứng vững tại vị trí cao nhất trong 5 tuần liên tiếp.

Trong khi tham gia Unser Star für Oslo, Lena vẫn đến trường học đều đặn. Đêm thi cuối cùng được tổ chức chỉ một tháng ngay trước khi kì thi cuối cấp bắt đầu.[9] Sau kì thi, cô phát hành album đầu tay, My Cassette Player, vào ngày 07/5/2010.[26] Sản xuất bởi Stefan Raab, album bao gồm các ca khúc "Satellite", "Love Me" và "Bee", hai bản cover và 8 ca khúc mới. Đồng thời Lena cũng là đồng tác giả của 5 ca khúc trong số đó.[27] Album ngay lập tức giành vị trí cao nhất trong BXH album của Đức.[7] Nó cũng giành được vị trí cao nhất tại Áo, và vị trí thứ ba tại Thụy Sĩ.[28][29]

Sau thành công tại Đức, Lena nói rằng cô vẫn theo đuổi sự nghiệp ca hát và diễn xuất, nhưng cũng giải thích: "Tôi không gắn bố cả đời mình với việc ca hát".[30] Cô nói rằng ban đầu cô dự định sẽ học diễn xuất sau khi tốt nghiệp trung học, nhưng bây giờ thì không chắc chắn.[30] Cô cũng cho biết cảm hứng âm nhạc của cô đến từ Adele, Kate Nash, Vanessa Carlton, Clueso ban nhạc rock Wir sind Helden.[31]

Tháng 6/2010, Lena lồng tiếng cho nhân vật Selly trong phiên bản lồng tiếng Đức của bộ phim hoạt hình Sammy's Adventures: The Secret Passage. Trong phiên bản gốc, nhân vật này được lồng tiếng bởi Isabelle Fuhrman.[32]

Eurovision Song Contest 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Lena trong buổi diễn tập trước đêm chung kết Eurovision Song Contest 2010

Theo điều lệ của cuộc thi, Lena được đặc cách tham dự vòng chung kết của Eurovision Song Contest 2010. Do Đức là một trong bốn thành viên lớn nhất của "Liên hiệp Phát sóng châu Âu" - EBU, nên thí sinh nước này không cần phải vượt qua vòng sơ kết. Đồng thời, Đức cũng có quyền ưu tiên chọn thứ tự lên sân khấu của thí sinh nước họ. Nhớ đó, Lena được xếp thứ tự 22 trong số 25 thí sinh. Lena đến Oslo trước đêm chung kết một tuần và diễn tập 5 buổi cho bài hát của cô - "Satellite". Cô là một trong những thí sinh được yêu thích nhất. Nhà cái xếp cô đứng thứ hai sau thí sinh của Azerbaijan, Safura Alizadeh; trong khi Google dự đoán cô sẽ chiến thắng dựa theo số lượt tìm kiếm trên trang web.[33] Theo tờ Aftenposten của Na Uy, cô được giới truyền thông để mắt tới nhiều nhất trong tất cả 25 thí sinh.[34]

Lena tại Oslo, Na Uy

Đêm chung kết được tổ chức vào ngày 29/5/2010 tại Telenor Arena ở Oslo. Xuất hiện gần cuối chương trình, Lena mặc một bộ đầm suông màu đen, trình diễn solo trên một sân khấu chỉ có cô với bốn ca sĩ hát lót. Phần trình bày của cô phá vỡ xu hướng thường thấy của Eurovision, vì nó không có vũ đạo, vũ công nền hay một sân khấu được trang hoàng công phu.[35] "Satellite" nhận được tổng cộng 246 điểm, giúp Đức chiến thắng lần đầu tiên kể từ năm 1982, và cũng là chiến thắng đầu tiên kể từ khi nước Đức tái thống nhất. Về nhì là ca khúc "We Could Be the Same" của ban nhạc maNga đến từ Thổ Nhĩ Kỳ với 76 điểm thấp hơn, mức chênh lệch lớn thứ hai trong lịch sử Eurovision vào thời điểm đó, chỉ sau Alexander Rybak với 169 điểm cao hơn thí sinh đứng thứ hai trong Eurovision Song Contest 2009 (sau đó, kỉ lục của Lena bị Loreen đến từ Thuỵ Điển vượt qua với 113 điểm hơn thí sinh đứng thứ hai trong Eurovision Song Contest 2012). "Satellite" nhận được số điểm cao nhất - 12 điểm, 9 lần và nhận được điểm từ mọi quốc gia, ngoại trừ Moldova, Belarus, Gruzia, IsraelArmenia.[3]

Tờ BBC gọi "Satellite" là "bản hit thể loại pop đương đại đầu tiên đến từ Eurovision trong nhiều thập kỉ", mở ra "một kỉ nguyên của Liên hoan âm nhạc hằng năm".[36] Chiến thắng của Lena là một sự kiện đáng chú ý ở Đức, được theo dõi bởi 15 triệu lượt xem trên truyền hình (chiếm thị phần 49,1% ở Đức).[37] Cô trở về Hanover ngày hôm sau,và được chào đón bởi 40000 fan hâm mộ.[38] Trong tháng 6, "Satellite" giành được vị trí cao nhất suốt một tuần trong BXH đĩa đơn ở Đức, đồng thời cũng giành được No.1 tại Đan Mạch,[39] Phần Lan,[40] Na Uy,[41] Thụy Điển[42]Thụy Sĩ.[43] Ca khúc cũng đứng đầu BXH đĩa đơn European Hot 100,[44] trở thành ca khúc đầu tiên tham dự Eurovision giành được vị trí này.[45]

2011: Unser Song für DeutschlandGood News[sửa | sửa mã nguồn]

Trong cuộc họp báo sau Eurovision 2010, Stefan Raab thông báo rằng Lena Meyer-Landrut sẽ đại diện cho Đức tiếp tục tham gia Eurovision 2011 để bảo vệ danh hiệu của mình.[46] Tới ngày 30/6, ARD mới xác nhận thông tin này.[47] Tháng 12/2010, Thomas Schreiber của ARD nói với cánh phóng viên rằng ca khúc của Lena sẽ được chọn bằng tin nhắn bình chọn thông qua 3 chương trình truyền hình trực tiếp, hai vòng bán kết sẽ được phát sóng trên ProSieben và đêm chung kết phát sóng trên Das Erste (ARD), qua đó cũng xác nhận những thông tin truyền thông trước đó.[48] Theo xác nhận của NDR, hai đêm bán kết sẽ được tổ chức vào 31/01 và 07/02, và đêm chung kết vào ngày 18/02. Mỗi bán kết sẽ có 6 ca khúc, khán giả sẽ chọn ra 6 trong số 12 ca khúc để tham gia đêm chung kết.[49]

Lena trong đêm diễn tại Düsseldorf

Tất cả 12 ca khúc Lena trình bày trong suốt chương trình được thu âm và phát hành trong album thứ hai của cô - Good News vào ngày 08/02/2011. Album nhanh chóng nhận được Đĩa Vàng trong chưa đầy một tuần từ khi phát hành.[50]

Ngày 18/02/2011, trong chung kết của "Unser Song für Deutschland" (Our Song for Deutschland), thông qua tin nhắn bình chọn, ca khúc "Taken by a Stranger" trở thành ca khúc Lena sẽ trình diễn trong đêm chung kết của Eurovision Song Contest 2011 tại Düsseldorf, Đức.[51]

Tháng 4/2011, cô tổ chức tour diễn vòng quanh nước Đức đầu tiên của mình. Tour diễn được tổ chức ở các nhà hát lớn nhất khắp cả nước như Berlin, Hanover, Frankfurt, Dortmund, Leipzig, Hamburg, Munich, StuttgartCologne.[52]

Tháng 5/2011, Lena tham gia Eurovision Song Contest 2011 và bắt đầu hành trình bảo vệ danh hiệu của mình. Cô là quán quân thứ ba tiếp tục tham gia cuộc thi năm sau, và cũng là người đầu tiên như thế trong khoảng 50 năm.[53] Cô cũng xuất hiện trong tiết mục khai mạc chương trình, vài giờ trước khi cô đại diện cho Đức tham dự cuộc thi. Tuy nhiên, với 107 điểm, ca khúc của cô chỉ xếp thứ 10 với 114 điểm thấp hơn ca khúc Running Scared của Ell & Nikki đến từ Azerbaijan.

2012: Stardust[sửa | sửa mã nguồn]

Lena trình bày ca khúc Satellite trong khoảng nghỉ tại bán kết thứ hai của Eurovision Song Contest 2012.

Ngày 24/5, Lena tham gia với vai trò ca sĩ khách mời tại bán kết thứ hai của Eurovision Song Contest 2012 in Baku, Azerbaijan. Cô tham gia chương trình cùng 4 quán quân Eurovision 5 kì gần nhất, bao gồm Marija Šerifović, Dima Bilan, Alexander Rybak, và Ell & Nikki. Lena, Marija, Dima và Alexander trình bày các ca khúc chiến thắng Eurovision của họ trên nền nhạc cụ Azeri truyền thống, còn Ell & Nikki song ca bản cover Waterloo của ABBA, ca khúc từng chiến thắng Eurovision năm 1974.[54]

Ngày 01/8, Lena thông báo qua tài khoản Twitter cô sẽ phát hành đĩa đơn "Stardust", ca khúc đầu tiên trong album mới cùng tên của cô. Đĩa đơn được phát hành vào ngày 21 tháng 9[55] và nhận được chứng nhận Đĩa Vàng sau khi bán được hơn 150.000 bản[56] Album được phát hành vào ngày 12 tháng 10 và giành được No.2 BXH Album Đức trong tuần đầu.[57] Cuối tháng 7, đầu tháng 8, cô tổ chức tour "Lenas Wohnzimmer" (Lena′s Lounge), qua các thành phố Munich, Cologne, HamburgBerlin và trình bài nhiều ca khúc mới.[58]

Tháng 10/2012, cô trình bày ca khúc chủ đề trong phần mở đầu của Sesamstraße, phiên bản Đức hoá của chương trình truyền hình thiếu nhi Sesame Street.[59] Tháng 12/2012, cô cover ca khúc Sjörövar Fabbe (Seeräuber-Opa Fabian) trong Pippi tất dài cho album tổng hợp của Giraffenaffen.

2013: The Voice Kids và dấn thân vào nhiều lĩnh vực mới[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 18/01, Lena thông báo rằng đĩa đơn thứ hai trích từ album của cô sẽ là Neon. MV của ca khúc được quay tại Rathenau-Hallen vào đầu tháng 02 bởi đạo diễn Bode Brodmüller, cũng là người đã đạo diễn cho MV của đĩa đơn đầu tiên - Stardust được viết bởi Rosi Golan trích từ album cùng tên". Ngày 01/3, MV của ca khúc Neon (Lonely People) được ra mắt trên trang chủ của Universal Music. Đĩa đơn được chính thức phát hành vào 15/3. Cùng ngày, MV cũng được tải lên kênh VEVO của Lena trên YouTube. Phiên bản đĩa đơn có một chút khác biệt so với bản chính thức trong album Stardust, được phối lại, tiết tấu nhanh hơn và thêm nhiều vũ đạo.

Ngày 21/3, Lena Meyer-Landrut tham dự ECHO Awards. Cô được đề cử ở hai hạng mục là "Video nhạc Đức xuất sắc nhất" cho MV Stardust và "Nữ ca sĩ Đức xuất sắc nhất". Cô chỉ giành được giải thưởng "Video nhạc Đức xuất sắc nhất" cho đĩa đơn Stardust trích từ album thứ ba và trượt mất giải "Nữ ca sĩ Đức xuất sắc nhất" vào tay nữ ca sĩ Ivy Quainoo.

Lena Meyer-Landrut tại ECHO Awards 2013

Tháng 4, cô tổ chức một club-tour qua 13 thành phố nước Đức, bắt đầu từ Stuttgart ngày 02/4 và kết thúc tại Offenbach ngày 21 cùng tháng. Buổi hòa nhạc cuối cùng được phát sóng trực tiếp trên Internet. Tiêu đề "No One Can Catch Us Tour" được lấy từ lời đề tựa của đĩa đơn thứ năm của cô, Stardust.

Trong tháng 4 và tháng 5, cô tham gia chương trình truyền hình được yêu thích The Voice Kids phiên bản Đức hóa với vai trò huấn luyện viên cùng với hai ca sĩ khác là Tim Bendzko và Henning Wehland.

Ngày 17/5/2013, Mr. Arrow Key, đĩa đơn thứ ba từ album "Stardust" của Lena được phát hành. Đây cũng là đĩa đơn thứ bảy của cô. Ca khúc được viết bởi cô, Linda Carlsson và Sonny Boy Gustafsson; còn bản chính thức trong album được sản xuất bởi Sonny Boy Gustafsson.[60]

Lena cũng tham gia Eurovision Song Contest 2013 với vai trò chủ tịch của ban giám khảo Đức (bao gồm cô, Carolin Niemczyk, Alina Süggeler, Tim Bendzko và Florian Silbereisen); đồng thời, cô cũng là người phát ngôn cho nước Đức, thông báo kết quả bình chọn của nước cô vào đêm chung kết, ngày 18 tháng 5.

Tháng 7 cùng năm, phim hoạt hình sử dụng công nghệ "bắt chuyển động" Tarzan 3D thông báo rằng Lena sẽ lồng tiếng Đức cho nhân vật Jane Porter. Phim được ra mắt trên hệ thống rạp chiếu phim tại Đức vào tháng 02 năm 2014.[61][62] Cùng tháng, cô lồng tiếng cho ba nhân vật trong hai audiobook (sách nói) Giraffenaffen – Wir sind da! (Giraffenaffen – Chúng tôi đây!) và Giraffenaffen – Die Schatzssuche (Giraffenaffen – Săn kho báu), chúng được phát hành vào tháng 10 năm 2013.[63]

Tháng 10, Lena tái hợp với cố vấn của cô trong Eurovision - Stefan Raab, song ca ca khúc "Revolution", một đĩa đơn của ban nhạc "Dicks on Fire" của Raab.[64] Vào tháng 6, ca khúc này đã được sử dụng để quảng cáo cho vòi sen Doosh, được Stefan Raab chế tạo. Trong video, có cảnh Lena tắm vòi sen trong tạo hình nhân vật Lara Croft trong trò chơi điện tử Tomb Raider. Cũng trong năm 2013, Lena trở thành đại sứ L'Oréal cho dòng sản phẩm chăm sóc da và thuốc nhuộm tóc.

2014: The Voice Kids (mùa thứ hai)[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 3 tới tháng 5 năm 2014, Lena trở lại với vai trò huấn luyện viên trong mùa thứ hai của chương trình truyền hình The Voice Kids cùng với Henning Wehland (đến từ ban nhạc Söhne Mannheims) và Johannes Strate (đến từ ban nhạc Revolverheld).[65][66] Đầu năm 2014, Lena bắt tay vào việc thực hiện album thứ tư của mình. Tháng 01 năm 2014, cô tới New York để thảo luận về vấn đề thu âm với nhà sản xuất Bosko.[67]

Tháng 5, cô đến studio Yoad Nevo ở Luân Đôn. Tháng 6, cô làm việc với nữ ca sĩ - nhạc sĩ người Úc Kat Vinter tại Berlin và với nữ ca sĩ - nhạc sĩ người Mĩ gốc Israel Rosi Golan tại Los Angeles. Tại Brighton, cô làm việc với nhóm sản xuất Biffco. Sau đó, cô còn cộng tác với nhiều nhà sản xuất như Afsheen, nhóm Beatgees đến từ Berlin, cũng là nhà sản xuất cho phiên bản remix của ca khúc "Neon (Lonely People)" và sáng tác bài hát thiếu nhi "Schlaft alle" (Sleep all) cho album tổng hợp Giraffenaffen 3, phát hành sau đó vào tháng 11 năm 2014. Cùng tháng, cô tham gia album tổng hợp I Love Disney với một ca khúc về Aladdin "A Whole New World". Vào tháng 7, cô tiết lộ trên Twitter rằng album mới sẽ có tên là Crystal Sky, phát hành vào tháng 5 năm 2015.[68]

2015: Crystal Sky[sửa | sửa mã nguồn]

Từ tháng 02 tới tháng 4 năm 2015, Lena quay trở lại với The Voice Kids mùa thứ ba trong vai trò huấn luyện viên, cùng với Johannes Strate và Mark Forster. Sau bốn concert tại Hamburg, Berlin, Munich và Cologne từ cuối tháng 02 tới đầu tháng 3, cô tiết lộ rằng đĩa đơn đầu tiên Traffic Lights trích từ album Crystal Sky sẽ được ra mắt dưới dạng airplay vào ngày 10 tháng 3 năm 2015. Ca khúc được chấp bút bởi Harry Sommerdahl, Hayley Aitken và Alexander James, do Biffo và Beatgees sản xuất. Traffic Lights được phát hành chính thức vào ngày 01 tháng 5, 2 tuần trước khi album phòng thu thứ tư của côCrystal Sky, được phát hành vào ngày 15 tháng 5 năm 2015.

Góc nhìn của giới truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Lena Meyer-Landrut ghi được nhiều dấu ấn trước giới truyền thông về phong cách âm nhạc đặc biệt của mình.[69] Nó được miêu tả là "lạnh lùng", "nhanh nhạy" và "trực quan".[69] Cô thường từ chối trả lời các câu hỏi về đời tư như gia đình, bạn bè và niềm tin tôn giáo. Cô thường gọi các câu hỏi là "ngu ngốc" hay chỉ trả lời phần nào câu hỏi.[69] Điều này giúp cô nhận nhiều lời khen ngợi cũng như chỉ trích, trong đó có các cáo buộc như là kiêu căng,[70] hay thiếu tôn trọng.[71]

Thái độ của Lena được mô tả là "vô tư",[72] "dễ tính và khiêm tốn".[73] Lena được cho là có "sự cuồng vọng của tuổi trẻ" để "nuôi dưỡng hoài bão của cô" và là tiêu biểu cho "sự chân thật không khoa trương"[72] và "chân thành".[71] Cô mang đến một "nhịp điệu mê đắm" và xoá nhoà "ranh giới giữa tình yêu tuổi trẻ và nỗi day dứt tầm hồn".[74] Giọng hát của cô được nhiều lời ca ngợi[75] và cũng không ít sự chỉ trích.[75] Trong nỗ lực giải thích về sự thành công của Lena Meyer-Landrut, người ta gọi sự xuất hiện của cô là "sự pha trộn của vẻ đẹp, tính chuyên nghiệp và một chút điên cuồng".[76] Cô cũng được ca ngợi về khả năng thể hiện sân khấu của cô[76] và vẻ đẹp quyến rũ.[77]

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Phim và TV show[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Phim Vai Ghi chú
2010 A Turtle's Tale: Sammy's Adventures Shelly Lồng tiếng Đức
2014 Tarzan 3D (2013) Jane Porterr Lồng tiếng Đức

TV show[sửa | sửa mã nguồn]

Năm TV show Vai trò Ghi chú
2011 Bundesvision Song Contest 2011 Dẫn chương trình
2013 The Voice of Germany Huấn luyện viên Phiên bản Nhí
2014
2015

Đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách đĩa nhạc của Lena Meyer-Landrut
Lena Meyer-Landrut at the Echo music award 2013.jpg
Lena Meyer-Landrut tại ECHO Music Awards 2013
Album phòng thu 4
Album video 1
Video âm nhạc 8
Đĩa đơn 8
Album phòng thu
Đĩa đơn

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Maier, Jens. Interview Lena Meyer-Landrut: "An Kampf zu denken, liegt mir nicht". Stern.de. ngày 16 tháng 3 năm 2010. Truy cập 9 tháng 4 năm 2010. (tiếng Đức)
  2. ^ Zeit Online. Eurovision Song Contest: Lena siegt in Oslo. Zeit.de. 30 tháng 5 năm 2010. Acessed 30 tháng 5 năm 2010. (tiếng Đức)
  3. ^ a ă Schacht, Andreas. Germany wins: See full results. Eurovision.tv. 30 tháng 5 năm 2010. Truy cập 30 tháng 5 năm 2010.
  4. ^ a ă Lena Meyer-Landrut schreibt Charts-Geschichte. Spiegel.de. ngày 23 tháng 3 năm 2010. Truy cập 14 tháng 4 năm 2010. (tiếng Đức)
  5. ^ “Positions for Lena Meyer-Landrut in the German singles chart”. musicline.de. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010.  (tiếng Đức)
  6. ^ Bundesverband Musikindustrie. Gold/Platin-Datenbank Musikindustrie.de. Truy cập 6 tháng 5 năm 2010. (tiếng Đức)
  7. ^ a ă PhonoNet GmbH. Chartverfolgung / Lena / Longplay Musicline.de. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. (tiếng Đức)
  8. ^ “Lena Meyer-Landrut: Zwischen Grand Prix und Schulbank”. Ad Hoc News (bằng tiếng Đức). Ngày 12 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  9. ^ a ă â “Andreas Meyer-Landrut”. be.bra verlag (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  10. ^ “About Lena”. eurovision.tv. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  11. ^ a ă â Fraczek, Jennifer (ngày 13 tháng 2 năm 2010). “Kandidatin für Oslo: Wie aus Lena Meyer-Landrut plötzlich ein Star wird”. Die Welt (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  12. ^ Sedelies, Jan (ngày 15 tháng 6 năm 2010). “Lena feiert ihr Abitur”. Hannoversche Allgemeine Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  13. ^ Harders, Antje (tháng 7 năm 2010). “NACHGEFRAGT... bei Nachwuchstalent Lena Meyer-Landrut”. Bunte (bằng tiếng Đức). tr. 110. 
  14. ^ “Chartverfolgung / Adele / Single”. musicline.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010. 
  15. ^ “Chartverfolgung / Kate Nash / Single”. musicline.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010. 
  16. ^ “Chartverfolgung / Paolo Nutini / Single”. musicline.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010. 
  17. ^ “Chartverfolgung / Lisa Mitchell / Single”. musicline.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010. 
  18. ^ “Chartverfolgung / Jason Mraz / Single”. musicline.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 24 tháng 3 năm 2010. 
  19. ^ Klier, Marcus (ngày 12 tháng 3 năm 2010). “Germany sends Lena Meyer-Landrut to the Eurovision Song Contest”. esctoday.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  20. ^ Mantel, Uwe (ngày 16 tháng 3 năm 2010). “Lenas "Satellite" feiert Premiere auf fünf Sendern”. dwdl.de (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  21. ^ Hoff, Hans (ngày 3 tháng 2 năm 2010). “TV-Kritik: Stefan Raab macht ein Wunder möglich”. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  22. ^ Klier, Marcus (ngày 24 tháng 3 năm 2010). “Lena Meyer-Landrut at number 1, 2 and 3 of German itunes charts”. esctoday.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  23. ^ “Lena Meyer-Landrut: größter Download Hit der deutschen Geschichte”. oljo.de (bằng tiếng Đức). Ngày 13 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  24. ^ a ă Klier, Marcus (ngày 23 tháng 3 năm 2010). “Germany: Satellite to be certified gold”. esctoday.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  25. ^ Maier, Jens (ngày 14 tháng 4 năm 2010). “Lena Meyer-Landrut: Satellite wird mit Platin ausgezeichnet”. Stern (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  26. ^ “TV total Oslo spezial”. presseportal.de (bằng tiếng Đức). Ngày 13 tháng 4 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  27. ^ My Cassette Player. USFO for Universal Deutschland (CD booklet and case back cover). Lena. 2010. 
  28. ^ “Discographie Lena Meyer-Landrut”. Hung Medien (bằng tiếng Đức). austriancharts.at. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  29. ^ “Discography Lena Meyer-Landrut”. Hung Medien. swisscharts.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  30. ^ a ă Friedman, Deborah (ngày 13 tháng 4 năm 2010). “Germany sends Eurovision star Lena into orbit (Interview)”. Deutsche Welle. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  31. ^ “Lena Meyer-Landrut”. Wetten, dass..? (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  32. ^ Grimm, Imre (ngày 17 tháng 6 năm 2010). “Die erste Rolle: Lena als Schildkröte”. Hannoversche Allgemeine Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. 
  33. ^ “Europeans vie for pop dominance at song contest”. The Guardian. Ngày 29 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  34. ^ Henriksen, Arve (ngày 26 tháng 5 năm 2010). “Fabian bød opp til sangfest”. Aftenposten (bằng tiếng Norwegian). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  35. ^ Fricker, Karen (ngày 31 tháng 5 năm 2010). “Voters swayed by German singer's fresh and unusual approach”. The Irish Times. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  36. ^ Savage, Mark (ngày 30 tháng 5 năm 2010). “Germany drags Eurovision into the 21st century”. BBC News. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  37. ^ Klier, Marcus (ngày 30 tháng 5 năm 2010). “Germany: 14.69 million people watched the final”. esctoday.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  38. ^ Gäbler, Bernd; Grimm, Imre (ngày 31 tháng 5 năm 2010). “Ein Solo für zwei”. Die Zeit (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  39. ^ “Lena Meyer-Landrut's positions for Denmark”. Danishcharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. 
  40. ^ “Lena Meyer-Landrut's positions for Finland”. Finnishcharts.com. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2010. 
  41. ^ “Lena Meyer-Landrut's positions for Norway”. Norwegiancharts.com. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  42. ^ “Lena Meyer-Landrut's positions for Sweden”. Swedishcharts.com. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  43. ^ “Lena Meyer-Landrut's positions for Switzerland”. Hung Medien. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2010. 
  44. ^ “European Hot 100 Singles: Week of ngày 19 tháng 6 năm 2010”. Billboard.com. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2010. 
  45. ^ Siim, Jarmo (ngày 12 tháng 6 năm 2010). “Lena's Satellite becomes most selling single in Europe”. eurovision.tv. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  46. ^ Bakker, Sietse (ngày 30 tháng 6 năm 2010). “Final of Eurovision 2011 set for 14 May, Lena returns!”. EBU. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010. 
  47. ^ “ESC-Finale 2011 findet am 14. Mai statt”. Eurovision.de (bằng tiếng Đức). Ngày 30 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. 
  48. ^ “Auf der ESC-Baustelle (Video)” (bằng tiếng Đức). NDR. Truy cập ngày 6 tháng 12 năm 2010. 
  49. ^ “Unser Song für Deutschland” (bằng tiếng Đức). NDR. Ngày 16 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  50. ^ “Lena gegen Lena: 3,25 Millionen Menschen sehen das Finale”. Stern (bằng tiếng Đức). Ngày 19 tháng 2 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  51. ^ Marcus, Klier (ngày 18 tháng 2 năm 2011). “Lena to perform Taken by a stranger in Düsseldorf”. esctoday.com. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  52. ^ “Lena Meyer-Landrut: Tour-Start in Berlin”. B.Z. (bằng tiếng Đức). Ngày 30 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  53. ^ Neumann, Patrick (ngày 31 tháng 5 năm 2010). “Darum sollte Lena nicht wieder antreten”. Die Welt (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  54. ^ Roxburgh, Gordon (ngày 24 tháng 5 năm 2012). “Second Semi-final: We have our ten qualifiers”. eurovision.tv. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  55. ^ Single announcement via Twitter (German)
  56. ^ Lena Stardust Certification
  57. ^ “Lena – Stardust (VÖ: 21. September 2012)”. hr3 (bằng tiếng Đức). Ngày 9 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2012. 
  58. ^ Wellinger, Renzo (ngày 31 tháng 7 năm 2012). “Lena stellt neue Songs in München vor”. Musikmarkt (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2012. 
  59. ^ “Alles neu bei der Sesamstraße”. Sesamstraße (bằng tiếng Đức). Ngày 24 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2012. 
  60. ^ “Mr. Arrow key will be the next single”. Ngày 18 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2013. 
  61. ^ “Der Dschungelkönig in 3D Bald kommt Tarzan in 3D ins Kino”. TV Movie (bằng tiếng Đức). Ngày 8 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 9 tháng 7 năm 2013. 
  62. ^ “Animations-Abenteuer "Tarzan 3D" kommt erst im Februar 2014 in die Kinos”. Hitfilms (bằng tiếng Đức). Ngày 29 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2013. 
  63. ^ “Facebook announcement by the publisher Oetinger Media”. Oettinger Media (bằng tiếng Đức). Ngày 31 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2013. 
  64. ^ “Lena Collaborates with Dicks on Fire for New Single "Revolution". wiwibloggs.com. Ngày 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2013. 
  65. ^ “The Voice Kids” (PDF). ProSiebenSat.1 Media. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2014. 
  66. ^ Steck, Melanie (ngày 12 tháng 1 năm 2014). “Strate ersetzt Bendzko in der neuen Staffel”. Berliner Zeitung. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2014. 
  67. ^ “Lena Meyer-Landrut tüftelt an neuem Album”. Ampya. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2014. 
  68. ^ “Lena: "Crystal Sky" - neues Album erscheint im Mai”. Universal International Division (bằng tiếng Đức). Ngày 9 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015. 
  69. ^ a ă â Sedelies, Jan (ngày 25 tháng 5 năm 2010). “Lenas Umgang mit den Medien kommt nicht bei allen gut an”. Hannoversche Allgemeine Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010. 
  70. ^ “Lena ist "zickig und arrogant". vienna.at (bằng tiếng Đức). Ngày 31 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010. 
  71. ^ a ă “Respektlos oder ehrlich? Lenas Auftritt bei Frank Elstner”. rp-online.de (bằng tiếng Đức). Ngày 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 
  72. ^ a ă Feddersen, Jan (ngày 28 tháng 5 năm 2010). “Junge Frau in Oslo, unbekümmert”. Die Tageszeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010. 
  73. ^ Eckardt, Andy (ngày 31 tháng 5 năm 2010). “Singing sensation helps Germans shed 'dull' image”. MSNBC (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010. 
  74. ^ Adams, Will (ngày 4 tháng 5 năm 2010). “Germany's Eurovision 2010 Song: 'Satellite' by Lena Meyer-Landrut”. The Huffington Post. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010. 
  75. ^ a ă “Das Lied wird wieder unter die letzten kommen”. T-Online (bằng tiếng Đức). Ngày 26 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010. 
  76. ^ a ă Hoff, Hans (ngày 30 tháng 5 năm 2010). “Lena Meyer-Landrut: Ein bisschen Wahnsinn”. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 8 tháng 6 năm 2010. 
  77. ^ “SWR3 Poplexikon: Biographie: Lena”. SWR (bằng tiếng Đức). Ngày 31 tháng 1 năm 2012. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2012. 

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tiếng Anh
Tiếng Đức

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
Na Uy Alexander Rybak
với "Fairytale"
Người chiến thắng Eurovision Song Contest
2010
Kế nhiệm:
Azerbaijan Eldar và Nigar với "Running Scared"
Tiền nhiệm:
Oscar và Alex
với "Miss Kiss Kiss Bang"
Đức trong Eurovision Song Contest
2010
Kế nhiệm:
Lena với "Taken by a Stranger"