Oslo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Oslo
Oslo komm.svg
Quốc gia Na Uy
Hạt Oslo NO-03
Quận Østlandet
Đô thị NO-0301
Trung tâm hành chính Oslo
Thị trưởng (2015) Marianne Borgen
Dạng ngôn ngữ chính thức Bokmål
Diện tích
 - Tổng
 - Đất
 - Phần trăm
Xếp hạng 224
454 km²
426 km²
94 %
Dân số
 - Tổng (2016)
 - Phần trăm
 - Change (10 years)
 - Mật độ
Xếp hạng 1
683.390 (1.717.900 vùng đô thị)
11,40 %
9,2 %
1400/km²
Tên gọi dân cư Oslokvinne (f) /Oslomann (m)[1]
Tọa độ 59°56′B 10°45′Đ / 59.933°B 10.750°Đ / 59.933; 10.750Tọa độ: 59°56′B 10°45′Đ / 59.933°B 10.750°Đ / 59.933; 10.750
www.oslo.kommune.no
Dữ liệu từ thống kê của Na Uy
Oslo nhìn từ Nam Holmenkollen, trực diện Nesodden.
The "trikk": Xe điện của Oslo.
Xe bus của Oslo.
Nhà thờ lớn Oslo.

Oslo (phát âm tiếng Na Uy: [ùʃlu]  (Speaker Icon.svg nghe) hay [ùslu]) là một khu tự quản, thủ đô và cũng là thành phố đông dân nhất Na Uy. Oslo trở thành khu tự quản (formannskapsdistrikt) vào ngày 1 tháng 1, 1838. Tuy nhiên thành phố đã được Vua Harald III của Na Uy thành lập từ năm 1048, thành phố từng bị phá hủy nghiêm trọng do hỏa hoạn vào năm 1624. Thành phố sau đó nằm dưới vương quyền của Vua Christian IV của Đan Mạch-Na Uy. Thành phố được tái thiết tới vị trí gần hơn với Pháo đài Akershus, và được gọi là Christiania (trong một thời gian ngắn cũng gọi là Kristiania). Năm 1925, thành phố lấy lại tên gốc bằng tiếng Na Uy là Oslo.

Oslo là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học và kinh tế của Na Uy. Thành phố cũng là trung tâm của các hoạt động thương mại, ngân hàng, công nghiệp và ngư nghiệp trong cả nước. Oslo là một trung tâm quan trọng của các ngành kinh tế biển và thương mại hàng hải tại châu Âu. Thành phố là nơi đặt trụ sở của nhiều công ty trong lĩnh vực hàng hải, một vài trong số đó nằm trong số các công ty tàu thuyền, môi giới vận chuyển hàng hóa và bảo hiểm lớn nhất thế giới. Oslo là một thành phố đi đầu trong chương trình các thành phố đa dạng văn hóa của Hội đồng châu ÂuỦy ban châu Âu.

Oslo được coi là thành phố toàn cầu và được xếp hạng "Beta" trong các nghiên cứu năm 2008.[2] Trong một vài năm, Oslo từng được liệt trong danh sách các thành phố đắt đỏ nhất thế giới cùng với các thành phố toàn cầu khác như Zurich, Genève, Copenhagen, Paris, và Tokyo.[3] Năm 2009, Oslo đã trở lại vị trí thành phố đắt đỏ nhất thế giới.[4][5] Theo cuộc điều tra của ECA International năm 2011 thì Oslo đã bị đẩy xuống vị trí thứ hai sau Tokyo.[6]

Năm 2010, Vùng thủ đô Oslo có tổng dân số là 1.442.318 người và trong đó 912.046 người[7] sống trong chuỗi đô thị. Dân số Oslo hiện tăng bình quân 1,64% mỗi năm, và là vùng đô thị có tốc độ gia tăng dân số nhanh nhất tại Châu Âu.[8] Sự tăng trưởng dân số xuất phát từ việc nhập cư, còn người Na Uy bản địa hiện đang có dân số giảm.[9] Chỉ tính riêng Oslo, người nhập cư hiện chiếm hơn 25% tổng dân số.[10]

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Oslo chiếm một vòng cung đất ở cực bắc của Oslofjord. Vành đai, gần bán đảo Nesodden đối diện với Oslo, nằm ở phía nam; Trong tất cả các hướng khác Oslo được bao quanh bởi những ngọn đồi và ngọn núi xanh. Có 40 hòn đảo trong giới hạn thành phố, lớn nhất là Malmøya (0.56 km2 hoặc 0.22 sq mi), và điểm số nhiều hơn xung quanh Oslofjord. Oslo có 343 hồ, lớn nhất là Maridalsvannet (3,91 km2 hoặc 1,51 sq mi). Đây cũng là nguồn cung cấp nước uống chính cho Oslo. Mặc dù phía đông Na Uy có một số con sông, nhưng không có dòng chảy nào vào đại dương ở Oslo. Thay vì đó Oslo có hai con sông nhỏ hơn: Akerselva (thoát Maridalsvannet, chảy vào fjord ở Bjørvika), và Alna. Những thác nước ở Akerselva đã mang lại sức mạnh cho một số ngành công nghiệp hiện đại đầu tiên của Na Uy vào những năm 1840. Vào cuối thế kỷ này, dòng sông trở thành biểu tượng của sự phân chia kinh tế và xã hội ổn định và ổn định của thành phố vào một khu East End và West End; Các vùng lân cận của người lao động nằm ở cả hai bên bờ sông, và sự chia rẽ thực tế sau đường Uelands cách Tây xa hơn một chút. Sông Alna chảy qua Groruddalen, khu ngoại ô chính và khu công nghiệp của Oslo. Điểm cao nhất là Kirkeberget, ở 629 m (2.064 ft). Mặc dù dân số của thành phố nhỏ so với hầu hết các thủ đô của châu Âu, nhưng nó chiếm một diện tích đất rộng lớn bất thường, trong đó 2/3 là các khu bảo vệ rừng, đồi núi và hồ. Ranh giới của nó bao gồm nhiều công viên và các khu vực mở, cho nó một sự xuất hiện thoáng mát và màu xanh lá cây.

Địa điểm tham quan chính[sửa | sửa mã nguồn]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Oslo là trung tâm hàng hải lớn ở châu Âu với khoảng 980 công ty và 8.500 người làm trong lĩnh vực hàng hải. một số công ty ở đây thuộc loại công ty đóng tàu, môi giới tàu biển, môi giới bảo hiểm lớn nhất thế giới. Cảng Oslo lớn nhất Na-Uy. GDP của thành phố là NOK268.047 billion (€33.876 tỷ) năm 2003, chiếm 17% GDP của Na-Uy. Vùng đô thị Oslo đóng góp 25% GDP của Na-Uy. GDP đầu người thuộc loại cao nhất châu Âu, NOK391.399 (€49.465) năm 2003, chỉ xếp sau Nội ô London, BrusselsLuxembourg.

Văn hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Các học viện và trường đại học[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử dân số Oslo[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Dân số
1801 9.500
1825 15.400
1855 31.700
1875 76.900
1900 227.900
1925 255.700
1951 434.365
1960 471.511
1970 487.363
1980 454.872
1990 458.364
2000 507.467
2005 529.407

Dân vùng đô thị[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1999: 763.957
  • 2005: 811.688
  • 2006: 825.105

Một vài hình ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Personnemningar til stadnamn i Noreg (tiếng Na Uy)
  2. ^ “The World According to GaWC 2008”. 
  3. ^ “Worldwide Cost of Living survey: A lot of yen”. The Economist (www.economist.com). Ngày 9 tháng 3 năm 2009. 
  4. ^ Boyle, Catherine (ngày 20 tháng 8 năm 2009). “So you think London’s expensive? It isn’t any more”. Times Online (Business.timesonline.co.uk). Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2009. 
  5. ^ Marowits, Ross. “The Canadian Press: Montreal beats Toronto with 12th most purchasing power in world, says UBS study”. Google.com. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2009. [liên kết hỏng]
  6. ^ “Sydney rockets up the list of the world’s most expensive cities”. ECA International. 8 tháng 6 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2011. 
  7. ^ “Population and area, by municipality”. Ssb.no. Ngày 1 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2011. 
  8. ^ “Oslo europamester i vekst - Nyheter - Oslo”. Aftenposten.no. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011. 
  9. ^ “Ola og Kari flytter fra innvandrerne - Nyheter - Oslo”. Aftenposten.no. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2011. 
  10. ^ “Immigration and immigrants”. Ssb.no. Ngày 1 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2009.