Budapest

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Budapest
—  Thành phố  —
Thủ đô của Hungary
Budapest főváros
The building of the Hungarian Parliament (10890208584).jpg
Views from Fisherman's Bastion toward south. - Budapest, Hungary. - 62 365² Observador (8262965486).jpgBudapest (agost 2012) - panoramio (49).jpg
Seven chieftains of the Magyars and Statue of Gabriel. Millennium Monument. Budapest 029.jpgHungarian National Theater Budapest.jpgHUN-2015-Budapest-St. Stephen's Basilica.jpg
Széchenyi Chain Bridge in Budapest at night.jpg
Hiệu kỳ của Budapest
Hiệu kỳ
Phù hiệu của Budapest
Huy hiệu
Tên hiệu: Trái tim của châu Âu, Nữ hoàng của Danube, Hòn ngọc của Danube, Thủ đô của Sự tự do, Thủ đô của Spa và Tắm hơi, Thủ đô của Sự kiện
Vị trí của Budapest
Budapest trên bản đồ Hungary
Budapest
Budapest
Budapest trên bản đồ Châu Âu
Budapest
Budapest
Budapest tại Hungary
Quốc gia  Hungary
Vùng Trung Hungary
Sự thống nhất của Buda, PestÓbuda Ngày 17 tháng 11 năm 1873
Thành phố
Chính quyền[1]
 • Kiểu Thị trưởng – Hội đồng
 • Thành phần Quốc hội của Budapest
 • Thị trưởng István Tarlós (Độc lập, được ủng hộ bởi Fidesz)
Diện tích[2]
 • Thành phố 525,2 km2 (2,028 mi2)
 • Đô thị 2.538 km2 (980 mi2)
 • Vùng đô thị 7.626 km2 (2,944 mi2)
Độ cao[4] Thấp nhất (Danube) 96 m
Cao nhất (đồi János) 527 m (315 đến 1.729 ft)
Dân số (2017)[6][7]
 • Thành phố 1.752.704[5]
 • Thứ hạng Thứ nhất (thứ 10 tại EU)
 • Mật độ 3.351/km2 (8,680/mi2)
 • Đô thị 2.947.722[3]
 • Vùng đô thị 3.303.786
Tên cư dân Người Budapest(người Hungary)
GDP/GVA PPP (2016)
 • Tổng 113,1 tỷ đô la Mỹ / 103,8 tỷ euro[8][9]
 • Trên đầu người 64.283 đô la Mỹ / 58.975 euro[10]
GDP/GVA PPP (Metro) (2016)
 • Tổng 141 tỷ đô la Mỹ / 129,4 tỷ euro
 • Trên đầu người 42.678 đô la Mỹ / 39.169 euro
Múi giờ CET (UTC+1)
 • Mùa hè (DST) CEST (UTC+2)
Mã bưu chính 1011–1239
Mã vùng 1
Mã ISO 3166 HU-BU
Thành phố kết nghĩa Berlin, Frankfurt am Main, Fort Worth, Thành phố New York, Tel Aviv, Viên, Sarajevo, Lisboa, Bắc Kinh, Zagreb, Vilnius, Napoli, Kraków, Firenze, Lecce, Istanbul, San Vito al Tagliamento, Warszawa, Mondragone, São Paulo, Dublin, Bangkok, Kiev, Madrid, Damas, Bucharest, Daejeon, Košice, Thành phố Ōsaka, Kielce, Subotica, Târgu Mureș, Lviv, Ankara, Thượng Hải, Odorheiu Secuiesc, Tehran sửa dữ liệu
NUTS HU101
Trang web BudapestInfo Official
Government Official
Di sản thế giới của UNESCO
Tên chính thức Budapest, bao gồm bờ sông Danube, Khu vực Lâu đài BudaĐại lộ Andrássy
Tiêu chí Cultural: ii, iv
Tham khảo 400
Ghi danh 1987 (Kỳ họp 11)
Mở rộng 2002
Diện tích 473.3 ha
Vùng đệm 493.8 ha

Budapest (tiếng Hungary: [ˈbudɒpɛʃt]  (Speaker Icon.svg nghe))[11]thủ đôthành phố đông dân nhất của Hungary, và một trong những thành phố lớn nhất trong Liên minh Châu Âu.[12][13][14] Với dân số ước tính năm 2016 là 1.752.704 phân bố trên một diện tích khoảng 525 kilômét vuông (203 dặm vuông Anh), Budapest cũng là một trong những thành phố lớn có mật độ dân số cao nhất tại EU.[5][15] Budapest vừa là một thành phố và vừa là một hạt, và tạo thành trung tâm của vùng đô thị Budapest, nó có diện tích 7.626 kilômét vuông (2.944 dặm vuông Anh) và dân số 3.303.786, chiếm 33 phần trăm dân số Hungary.[16][17] Vùng đô thị Budapest có GDP 141,0 tỷ đô la Mỹ (129,4 tỷ euro) năm 2016, chiếm 49,6 phần trăm GDP của Hungary.[18][9] GDP trên đầu người của thành phố là 64.283 đô la Mỹ, bằng 148% trung bình của EU tính theo sức mua tương đương.[10] Do đó thành phố này năm trong danh sách 100 thành phố theo GDP trên thế giới[19] và khiến nó trở thành một trong những nền kinh tế khu vực lớn nhất Liên minh Châu Âu.[20]

Budapest là một thành phố toàn cầu dẫn đầu với thế mạnh về thương mại, tài chính, truyền thông, nghệ thuật, thời trang, nghiên cứu, công nghệ, giáo dục và giải trí.[21][22] Nó là một R&Dtrung tâm tài chính dẫn đầu[23] và là thành phố Trung và Đông Âu được xếp hạng cao nhất về Chỉ số 100 Thành phố Sáng tạo,[24][25][26] nó cũng được xếp hạng là nền kinh tế đô thị phát triển nhanh thứ hai tại châu Âu.[27] Thành phố là nơi có sàn giao dịch chứng khoán lớn thứ hai về giá trị vốn hóa thị trường tại Trung và Đông Âu,[28] sàn giao dịch chứng khoán Budapest và quận kinh doanh của nó có trụ sở của những ngân hàng quốc gia lớn nhất và quốc tế và các công ty.[29][30][31] Budapest còn là nơi có văn phòng khu vực chính của nhiều tổ chức quốc tế, bao gồm Liên Hợp QuốcICDT,[32] ngoài gia nó còn có trụ sở của Viện sáng tạo và Công nghệ Châu Âu,[33] cao đẳng Cảnh sát Châu Âu[34] và văn phòng nước ngoài đầu tiên của Cơ quan Thúc đẩy Đầu tư Trung Quốc.[35] Có hơn 40 trường cao đẳng và đại học ở Budapest, bao gồm đại học Eötvös Loránd, đại học Semmelweisđại học Công nghệ và Kinh tế Budapest là những trường trong tốp 500 trên thế giới.[36][37] Mở cửa năm 1896,[38] hệ thống tàu điện ngầm Budapest phục vụ 1,27 triệu hành khách còn hệ thống xe điện Budapest phục vụ 1,08 triệu hành khách mỗi ngày.[39] Budapest được xếp hạng là thành phố Trung và Đông Âu đáng sống nhất theo chỉ số chất lượng cuộc sống của EIU.[40][41][42]

Lịch sử của Budapest bắt đầu với Aquincum, ban đầu là một khu định cư của người Celt,[43][44] đã trở thành kinh đô La Mã của Hạ Pannonia.[43] Người Magyar đã đến lãnh thổ này vào thế kỷ thứ 9[45] vào thế kỷ 9. Khu định cư đầu tiên của họ đã bị cướp bóc bởi quân Mông Cổ giai đoạn năm 1241-42.[46] Thị trấn được tái thiết lập đã trở thành một trong những trung tâm của văn hoá Phục hưng nhân bản[47] vào thế kỷ 15.[48] Sau trận Mohács và 150 năm sau khi thuộc Ottoman,[49] sự phát triển khu vực đã chuyển sang một giai đoạn mới thịnh vượng vào các thế kỷ 18 và 19, và Budapest đã trở thành một thành phố toàn cầu sau khi hợp nhất vào năm 1873.[50] Thành phố cũng đã trở thành thủ đô lớn thứ nhì của Đế quốc Áo-Hung, một cường quốc bị giải thể vào năm 1918. Budapest đã là trung điểm của cách mạng Hungaria năm 1848[note 1], Cộng hoà Xô Viết Hungary năm 1919, chiến dịch Panzerfaust năm 1944, chiến dịch Budapest năm 1945, và cách mạng Hungary năm 1956.

Được xem là một trong những thành phố đẹp nhất ở châu Âu,[51][45][52][53] di sản thế giới UNESCO nằm ở thành phố này gồm hai bờ sông Donau, khu phố lâu đài Buda, đại lộ Andrássy, quảng trường các anh hùngtuyến đường tàu điện ngầm Thiên niên kỷ, tuyến cổ thứ nhì thế giới.[52][54] Các địa điểm nổi bật khác gồm tổng cộng 80 suối địa nhiệt,[55] hệ thống hang động nước nóng lớn nhất thế giới,[56] Hội đường Do Thái giáo Lớn lớn thứ nhì, và toà nhà Quốc hội Hungary.

Từ nguyên học[sửa | sửa mã nguồn]

"Budapest" là sự kết hợp của các thành phố BudaPest, hai thành phố này cùng với Óbuda, thống nhất vào năm 1873.[57] Sự xuất hiện có tài liệu ban đầu về sự kết hợp của tên “Buda-Pest” là năm 1831 trong sách Világ (Thế giới/Ánh sáng) bởi Bá tước István Széchenyi.[58]

Nguồn gốc của tên "Buda" và "Pest" không rõ ràng. "Buda" có thể đến từ:

  • một phái sinh của Bod hoặc Bud, một tên người có gốc Turk, nghĩa là 'cành nhỏ'.[59]
  • một tên người Slav, Buda, dạng ngắn của Budimír, Budivoj.[60]

Tuy nhiên, về mặt ngôn ngữ, một nguồn gốc từ Đức thông qua phái sinh tiếng Slav вода (voda, nước) là không thể, và không chắc chắn rằng một từ Turk thực sự xuất phát từ từ buta ~ buda 'cành, nhánh'.[61]

Theo một truyền thuyết ghi lại trong biên niên sử từ thời Trung Cổ, Buda xuất phát từ tên của người sáng lập của nó, Bleda, anh trai của người cai trị Hunnic Attila.

Có một số giả thuyết về Pest. Có người[62] cho rằng tên này bắt nguồn từ thời La Mã, vì có một pháo đài địa phương (Contra-Aquincum) gọi là Ptolemaios "Pession" ("Πέσσιον", iii.7.§ 2).[63] Một người khác cho rằng Pest bắt nguồn từ từ tiếng Slav cho hang động, пещера, hoặc peștera. Một trích dẫn thứ ba пещ, hay peșt, nhắc đến một hang động nơi hỏa hoạn bị đốt cháy.[64]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Lịch sử ban đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Buda trong thời Trung Cổ, bản khắc gỗ từ Nuremberg Chronicle (1493)

Khu định cư đầu tiên tại lãnh thổ Budapest được xây bởi người Celt[43] trước năm 1 SCN. Sau đó nó bị chiếm bởi người La Mã. Khu định cư La Mã – Aquincum – trở thành thành phố chính của Pannonia Inferior năm 106 SCN.[43] Ban đầu nó là một khu định cư quân sự, và dần dần thành phố phát triển xung quanh đó, khiến nó trở thành trung tâm của cuộc sống thương mại của thành phố. Ngày nay khu vực này tương ứng với quận Óbuda tại Budapest.[65] Người La Mã xây đường, đài vòng, nhà tắm và nhà với sàn được sưởi trong khu quân sự được thành bao quanh này.[66] Thành phố La Mã Aquincum là địa điểm La Mã được bảo tồn tốt nhất tại Hungary. Khu khảo cổ học được biến thành một bảo tàng với các khu vực trong nhà và ngoài trời.[67]

Tộc Magyar dẫn đầu bởi Árpád, bị ép ra khỏi quê hương ban đầu của họ ở phía bắc Bulgaria bởi Tsar Simeon sau Trận Nam Buh, định cư tại vùng lãnh thổ này vào cuối thế kỷ thứ 9 thế chỗ cho những người định cư Bulgaria thành lập ra các thị trấn Buda và Pest,[45][68] và một thế kỷ sau đó chính thức thành lập Vương quốc Hungary.[45] Nghiên cứu đặt nơi cư trú có thể xảy ra của Árpáds là một nơi đầu tiên của quyền lực trung tâm gần những gì sau này trở thành Budapest.[69] Sự xâm lược của người Tatar trong thế kỷ 13 nhanh chóng chứng minh rằng rất khó để xây dựng phòng thủ trên một đồng bằng.[15][45] Vua Béla IV của Hungary do đó ra lệnh xây dựng các bức tường đá gia cố xung quanh các thị trấn[45] và thiết lập cung điện hoàng gia của riêng mình trên đỉnh của những ngọn đồi bảo vệ của Buda. Năm 1361, nó trở thành thủ đô của Hungary.[46][15]

Vai trò văn hóa của Buda đặc biệt quan trọng trong thời kỳ trị vì của Vua Matthias Corvinus. Phục Hưng của Ý có ảnh hưởng lớn đến thành phố. Thư viện của nó, Bibliotheca Corviniana, là bộ sưu tập lịch sử và các công trình khoa học và triết học vĩ đại nhất châu Âu trong thế kỷ 15, và chỉ đứng thứ hai về kích thước sau Thư viện Vatican.[15] Sau sự thành lập của trường đại học Hungary đầu tiên tại Pécs năm 1367 (Đại học Pécs), đại học thứ hai được thành lập tại Óbuda năm 1395 (Đại học Óbuda).[70] Cuốn sách Hungary đầu tiên được in tại Buda năm 1473.[71] Buda có khoảng 5.000 người định cư vào khoảng năm 1500.[72]

Chiếm lại Buda từ Đế quốc Ottoman, 1686 (tranh vẽ thế kỷ 17)

Người Ottoman xâm lược Buda năm 1526, cũng như năm 1529, và cuối cùng chiếm được nó năm 1541.[73] Sự đô hộ của Thổ Nhĩ Kỳ kéo dài hơn 140 năm.[15] Người Ottoman gốc Turk xây dựng nhiều phòng tắm nổi bật trong thành phố.[45] Một số phòng tắm được xây dựng bởi người Turk trong thời gian cai trị của họ vẫn được sử dụng trong 500 năm sau (Nhà tắm RudasNhà tắm Király). Năm 1547 số lượng Kitô hữu giảm xuống còn khoảng 1000, và tới năm 1647 nó giảm xuống chỉ còn khoảng 70.[72] Phần phía tây bị chiếm của quốc gia này trờ thành một phần của Đế quốc Habsburg được gọi là Hungary Hoàng gia.

Năm 1686, hai năm sau cuộc vây hãm Buda không thành công, một chiến dịch mới được bắt đầu để tiến vào chủ đô Hungary. Lần này, quân đội của Liên minh thần thánh lớn gấp đôi, bao gồm hơn 74.000 nghìn người, gồm có lính người Đức, người Croatia, người Hà Lan, người Hungary, người Anh, người Tây Ban Nha, người Séc, người Ý, người Pháp, người Burgundi, người Đan Mạchngười Thụy Điển, cùng với những người châu Âu khác với vai trò tình nguyện viên, pháo thủ và các sĩ quan. Quân Kitô bao vây Buda, và trong một số năm sau đó, tất cả những vùng đất trước đây thuộc về Hungary, trừ vùng gần Timișoara (Temesvár), bị lấy đi khỏi người Turk. Trong Hiệp ước Karlowitz năm 1699, những sự thay đổi về vùng lãnh thổ này được công nhận chính thức để cho thấy sự kết thúc sự cai trị của người Turk, và năm 1718 toàn bộ Vương quốc Hungary được giải phóng khỏi sự đô hộ của Ottoman.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Khí hậu của Budapest nằm ở Khí hậu lục địa ẩm, Dfb/Cfb. Mùa đông lạnh, mùa hè nóng và ẩm. Lượng mưa lớn và giảm dần từ Tây sang Đông. Khí hậu của Budapest có khí hậu lục địa ẩm (Köppen Dfb), với mùa đông khá lạnh và mùa hè ấm theo tiêu chuẩn khí hậu 1971-2000 khi sử dụng đẳng nhiệt 0°C.[74] Mùa đông (tháng 11 đến đầu tháng 3) có thể lạnh và ít ánh nắng. Tuyết rơi khá thường xuyên trong hầu hết các năm, và nhiệt độ buổi tối là −10 °C (14 °F) không phải không phổ biến giữa tháng 12 và tháng 2. Những tháng mùa xuân (tháng 3 và tháng 4) có thời tiết thay đổi, với nhiệt độ trung bình tăng nhanh. Thời tiết vào cuối tháng 3 và tháng 4 thường rất dễ chịu vào ban ngày và trong lành vào ban đêm. Mùa hè dài của Budapest - kéo dài từ tháng 5 đến giữa tháng 9 - ấm áp hoặc rất ấm. Budapest có nhiều ánh nắng mùa hè giống như nhiều khu nghỉ dưỡng Địa Trung Hải. Các cơn mưa lớn bất ngờ cũng xảy ra, đặc biệt là vào tháng Năm và tháng Sáu. Mùa thu ở Budapest (giữa tháng 9 đến cuối tháng 10) được đặc trưng bởi mưa nhỏ và những ngày nắng dài với nhiệt độ vừa phải. Nhiệt độ thường trở nên lạnh hơn vào cuối tháng 10. Mùa xuân và mùa thu thường ôn hòa.

Dữ liệu khí hậu của Budapest, 1971–2000
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 18.1 19.7 25.4 30.2 34.0 39.5 40.7 39.4 35.2 30.8 22.6 19.3 40,7
Trung bình cao °C (°F) 2.9 5.5 10.6 16.4 21.9 24.6 26.7 26.6 21.6 15.4 7.7 4.0 15,3
Trung bình ngày, °C (°F) 0.4 2.3 6.1 12.0 16.6 19.7 21.5 21.2 16.9 11.8 5.4 1.8 11,3
Trung bình thấp, °C (°F) −1.6 0.0 3.5 7.6 12.1 15.1 16.8 16.5 12.8 7.85 2.9 0.0 7,8
Thấp kỉ lục, °C (°F) −25.6 −23.4 −15.1 −4.6 −1.6 3.0 5.9 5.0 −3.1 −9.5 −16.4 −20.8 −25,6
Giáng thủy mm (inch) 37
(1.46)
29
(1.14)
30
(1.18)
42
(1.65)
62
(2.44)
63
(2.48)
45
(1.77)
49
(1.93)
40
(1.57)
39
(1.54)
53
(2.09)
43
(1.69)
532
(20,94)
độ ẩm 79 74 66 59 61 61 59 61 67 72 78 80 68,1
Số ngày giáng thủy TB 7 6 6 6 8 8 7 6 5 5 7 7 78
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 62 93 137 177 234 250 271 255 187 141 69 52 1.988
Nguồn: Hungarian Meteorological Service[75]

Các quận[sửa | sửa mã nguồn]

23 quận của Budapest
Hành chính Dân số Diện tích và mật độ
Quận Tên chính thức Chính thức năm 2013 km² Người/km²
I Várkerület 24,528 3.41 7,233
II Rózsadomb 88,011 36.34 2,426
III Óbuda-Békásmegyer 123,889 39.69 3,117
IV Újpest 99,050 18.82 5,227
V Belváros-Lipótváros 27,342 2.59 10,534
VI Terézváros 43,377 2.38 18,226
VII Erzsébetváros 64,767 2.09 30,989
VIII Józsefváros 85,173 6.85 11,890
IX Ferencváros 63,697 12.53 4,859
X Kőbánya 81,475 32.5 2,414
XI Újbuda 145,510 33.47 4,313
XII Hegyvidék 55,776 26.67 2,109
XIII (không có tên chính thức) 118,320 13.44 8,804
XIV Zugló 123,786 18.15 6,820
XV Rákospalota, Pestújhely, Újpalota 79,779 26.95 2,988
XVI Árpádföld, Cinkota, Mátyásföld,

Sashalom, Rákosszentmihály

68,235 33.52 2,037
XVII Rákosmente 78,537 54.83 1,418
XVIII Pestszentlőrinc-Pestszentimre 94,663 38.61 2,414
XIX Kispest 62,210 9.38 6,551
XX Pesterzsébet 63,887 12.18 5,198
XXI Csepel 76,976 25.75 2,963
XXII Budafok-Tétény 51,071 34.25 1,473
XXIII Soroksár 19,982 40.78 501
Coa Hungary Town Budapest big.svg Thành phố Budapest
1,740,041 525.2 3,314.9
9,937,628 93,030 107.2
Nguồn: Eurostat,[76] HSCO[6]

Hầu hết Budapest ngày nay là kết quả của sự đổi mới tỏng thế kỷ 19, nhưng đại lộ rộng khi đó chỉ bao quanh và chia đôi nhiều khu vực hoạt động cũ hơn được tạo ra bởi nhiều thế kỷ trong sự phát triển của thành phố Budapest. Đô thị rộng lớn của Budapest thường được mô tả bằng cách sử dụng một bộ các tên quận. Đây là một trong hai chỉ định không chính thức, phản ánh tên của các làng đã được nhập vào các khu, hoặc được thay thế các đơn vị hành chính của các quận cũ.[77] Một số tên vẫn được sử dụng theo truyền thống, mỗi tên đề cập tới một vùng với đặc trưng riêng, nhưng không có ranh giới chính thức.[78] Ban đầu, Budapest có 10 quận sau khi thành lập bằng cách thống nhất ba thành phố năm 1873. Kể từ năm 1950, vùng Đại Budapest được chia thành 22 khu (và 23 từ năm 1994). Vào thời điểm đó đã có những thay đổi cả về thứ tự của các quận và về kích cỡ của chúng. Thành phố hiện nay bao gồm 23 quận, 6 ở Buda, 16 ở Pest và 1 trên Đảo Csepel ở giữa chúng. Trung tâm thành phố theo nghĩa rộng hơn bao gồm Quận V, VI, VII, VIII, IX[79]XIII ở phía Pest, và I, II, XIXII ở phía Buda của thành phố.[80]

Quận I là một khu vực nhỏ ở trung tâm Buda, bao gồm lâu đài Buda. Quận II cũng ở Buda, ở phía tât bắc, và Quận III trải dài theo phía rìa bắc của Buda. Muốn tới Quận IV phải đi qua sông Danube để đến Pest (ở phía đông), và cũng ở phía bắc. Với Quận V, một vòng tròn khác bắt đầu, nó nằm ngay ở trung tâm của Pest. Quận VI, VII, VIII và IX là những quận nằm cạnh về phía đông, đi xuống phía nam, lần lượt nằm cạnh nhau. Quận X nằm ở một vòng tròn khác xa hơn cũng ở Pest, nhưng sang lại phía Buda nếu muốn đến Quận XI và XII, đi về phía bắc. Không còn quận nào khác ở vòng tròn này, phải quay lại về phía Pest để đến quận XIII, XIV, XV, XVI, XVII, XVIII, XIX và XX (phần xa nhất của thành phố), gần thành hình bán nguyệt, quay lại về phía nam. Quận XXI là mở rộng của tuyến đường trên về phía một nhánh của Danube, ở đầu phía bắc của đảo dài phía nam Budapest. Quận XXII vẫn ở trên tuyến đó về phía tây nam Buda, và cuối cùng là Quận XXIII ở rìa phía nam của Pest, không theo quy luật chỉ vì nó là một phần của Quận XX tới năm 1994.[81]

Hungary budapest districts.svg

Nhân khẩu học[sửa | sửa mã nguồn]

Budapest so với HungaryEU
Budapest Hungary Liên minh Châu Âu
Tổng dân số 1.740.041 9.937.628 507.890.191
Thay đổi dân số, 2004 tới 2014 +2,7%[82] −1,6%[82] +2,2%[83]
Mật độ dân số 3.314 /km² 107 /km² 116 /km²
GDP trên đầu người PPP 52.770 $[84] 28.965 $[85] 33.084 $[86]
Bằng cử nhân hoặc cao hơn 34,1%[87] 19,0%[87] 27,1%[88]
Người sinh ra ở nước ngoài 7,3%[89] 1,7%[90] 6,3%[91]
Nhóm người định cư nước ngoài lớn nhất[92]
Quốc tịch Dân số (2011)
 Đức 28.818
 România 8.480
 Nga 6.158
 Trung Quốc 4.982
 Slovakia 3.257
 Ba Lan 2.758
 Việt Nam 2.723
 Hy Lạp 2.311
 Thụy Điển 2.000
Lịch sử dân số
Năm Số dân ±%
1784[93] 57.100 —    
1850 206.339 +261.4%
1870 302.086 +46.4%
1880 402.706 +33.3%
1890 560.079 +39.1%
1900 861.434 +53.8%
1910 1.110.453 +28.9%
1920 1.232.026 +10.9%
1930 1.442.869 +17.1%
1940 1.712.791 +18.7%
1950 1.590.316 −7.2%
1960 1.804.606 +13.5%
1970 1.945.083 +7.8%
1980 2.059.226 +5.9%
1990 2.016.681 −2.1%
2001 1.777.921 −11.8%
2011 1.729.040 −2.7%
2017 1.752.704 +1.4%
Dân số 2001 đến 2014[82]
Lãnh thổ hiện tại của Budapest

Budapest là thành phố đông dân nhất Hungarymột trong những thành phố lớn nhất trong Liên minh Châu Âu, với số người định cư tăng dần, ước tính 1.742.000 người năm 2014, với số người di cư vào bên trong nhiều hơn số người di cư ra bên ngoài.[12] Những xu hướng này có thể được nhìn thấy khắp vùng đô thị Budapest, là nơi sống của 3,3 triệu người.[94][95] Con số ngày chiếm 34% dân số Hungary. Năm 2014, thành phố này có mật độ dân số 3.314 người trên kilômét vuông (8.580/dặm vuông), nó là khu tự quản đông dân nhất Hungary. Mật độ dân số của Elisabethtown-Quận VII là 30.989/km² (80.260/dặm vuông), là mật độ dân số cao nhất tại Hungary và là một trong những nơi có mật độ dân số cao nhất thế giới, có thẻ so sánh với mật độ dân số của Manhattan là 25.846/km².[96]

Budapest là "thành phố phát triển năng động" thứ tư theo dân số tại châu Âu,[97] và Euromonitor dự đoán dân số sẽ tăng lên gần 10% giữa năm 2005 và 2030.[98] Mạng lưới Quan sát Châu Âu về Phát triển Lãnh thổ và Sự gắn kết nói rằng dân số Budapest sẽ tăng từ 10% đến 30% chỉ do nhập cư cho tới năm 2050.[99] Một dòng chảy liên tục của người nhập cư trong những năm gần đây đã thúc đẩy tăng trưởng dân số ở Budapest. Lợi ích về năng suất và tỷ trọng dân số hoạt động kinh tế tương đối lớn giải thích tại sao thu nhập gia đình ở Budapest đã tăng đến một mức độ lớn hơn so với các khu vực khác của Hungary. Thu nhập cao hơn ở Budapest được phản ánh trong phần chi tiêu thấp hơn mà cư dân của thành phố phân bổ cho chi tiêu cần thiết như thức ăn và đồ uống không cồn.[94]

Trong cuộc thống kê dân số năm 2011, có 1.729.040 người với 906.782 hộ gia đình sống tại Budapest.[100] Khoảng 1,6 triệu người từ vùng đô thị này có thể ở trong Budapest vào giờ làm việc, cà trung những sự kiện đặc biệt. Sự biến động số lượng người này là do hàng trăm ngàn cư dân ngoại thành đến thành phố với mục đích làm việc, giáo dục, chăm sóc sức khỏe và các sự kiện đặc biệt. Theo sắc tộc có 1.397.851 (80,8%) người Hungary, 19.530 (1,1%) người Di-gan, 18.278 (1,0%) người Đức, 6.189 (0,4%) người Romania, 4.692 (0,3%) người Trung Quốc và 2.581 (0,1%) người Slovakia. 301.943 người (17,5%) không tuyên bố sắc tộc của họ. Tại Hungary mọi người có thể tuyên bố nhiều hơn một sắc tộc, nên tổng số người theo các sắc tộc nhiều hơn tổng dân số.[89][101] Thành phố này là nơi ở một trong những cộng đồng người Do Thái lớn nhất tại châu Âu.[102]

Cũng theo thống kê đó, 1.600.585 người (92,6%) sinh ra tại Hungary, 126.036 người (7,3%) sinh ra bên ngoài Hungary trong khi có 2.419 người (0,1%) không rõ nơi sinh.[89] Mặc dù chỉ 1,7% dân số Hungary năm 2009 là người nước ngoài, 43% trong số họ sống tại Budapest, chiếm 4,4% dân số thành phố (tăng lên từ 2% năm 2001).[90] Gần hai phần ba người nước ngoài sống ở Hungary dưới 40 tuổi. Động lực chính cho nhóm tuổi này sống ở Hungary là việc làm.[90] Theo thống kê dân số năm 2011, 1.712.153 người (99,0%) nói tiếng Hungary, trong đó 1.692.815 người (97,9%) coi nó là ngôn ngữ đầu tiên, trong khi 19.338 người (1,1%) coi nó là ngôn ngữ thứ hai. Các tiếng (nước ngoài) được nói khác là: tiếng Anh (536.855 người nói, 31,0%), tiếng Đức (266.249 người nói, 15.4%), tiếng Pháp (56.208 người nói, 3,3%) và tiếng Nga (54.613 người nói, 3,2%).[89]

Budapest là nơi ở của cộng đồng Công giáo đông dân nhất tại Trung Âu, gồm có 698.521 người (40,4%) năm 2011.[89] Theo cuộc thống kê năm 2011, có 501.117 (29,0%) người theo Công giáo Rôma, 146.756 (8,5%) người theo Thần học Calvin, 30.293 (1,8%) người theo Giáo hội Luther, 16.192 (0,9%) người theo Công giáo Hy Lạp, 7.925 (0,5%) người theo Do Thái giáo và 3.710 (0,2%) người theo Chính thống giáo tại Budapest. 395.964 người (22,9%) không tôn giáo trong khi 585.475 người (33,9%) không công bố tôn giáo.[89] Một báo cáo của Cơ quan Thống kê Trung Hungary cho thấy rằng số lượng người Di-gan tại Budapest tăng từ 2% năm 1990 đến 4,6% năm 2009.[103][90]

Các địa điểm chính và du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Bên trong Café Gerbeaud
Khách sạn Boscolo, quán cà phê tại tầng một, một khách sạn 107 phòng ở trên

Nhà quốc hội kiến trúc Gothic thời Phục Hưng, tòa nhà lớn nhất tại Hungary với chiều dài 268 mét (879 ft), trong đó có Vương miện Thần thánh Hungary. Ẩm thực Hungary và văn hóa cà phê: ví dụ, Gerbeaud Café, và Százéves, Biarritz, Fortuna, Alabárdos, Arany Szarvas, Kárpátia và nhà hàng nổi tiếng thế giới Mátyás Pince. Có các di tích La Mã tại bảo tàng Aquincum, và những dụng cụ lịch sử tại bảo tàng Lâu đài Nagytétény, chỉ là 2 trong số 223 bảo tàng tại Budapest. Một bảo tàng lịch sử khác là House of Terror, bên trong tòa nhà là nơi gặp gỡ của tổng hành dinh Nazi. Đồi Lâu đài, bờ sông Danube và toàn bộ Andrássy út đã được công nhận là di sản văn hóa thế giới UNESCO.

Đồi Lâu đài và Quận Lâu đài; có 3 nhà thờ ở đây, sáu bảo tàng, và một nhóm nhà, đường, quảng trường thú vị. Cung điện hoàng gia trước đây là một trong những biểu tượng của Hungary – và đã là nơi nhiều trận chiến xảy ra kể từ thế kỷ 13. Ngày nay nó chứa hai bảo tàng ấn tượng và Bảo tàng Széchenyi Quốc gia.

Suối khoáng[sửa | sửa mã nguồn]

Một trong những lý do người La Mã quyết định định cư ở khu vực ngay phía tây sông Danube và thành lập thủ đô vùng miền tại Aquincum (bây giờ là một phần của Óbuda, ở phía bắc Budapest) là để họ có thể sử dụng và tận hưởng suối nước nóng. Cũng có những tàn tích có thể thấy ngày nay của rất nhiều nhà tắm được xây trong khoảng thời gian này. Những nhà tắm mới được tây trong thời kỳ Thổ Nhĩ Kỳ (1541–1686) có mục đích để tắm và cũng dùng để chữa bệnh, và một số trong đó vẫn được sử dụng tới ngày nay.[104][105]

Budapest đã có được danh tiếng là một thành phố của suối khoáng trong những năm 1920, sau khi lần đầu nhận ra tiềm năng kinh tế nước nóng trong việc thu hút du khách. Thật vậy, năm 1934, Budapest được chính thức xếp hạng là "Thành phố của suối khoáng". Ngày nay, các phòng tắm chủ yếu được sử dụng thường xuyên bởi thế hệ lớn tuổi, như, với ngoại lệ là vũ trường nước "Magic Bath" và "Cinetrip", những người trẻ tuổi có xu hướng thích bể bơi ngoài trời được mở trong mùa hè.

Việc xây dựng các phòng tắm Király bắt đầu vào năm 1565, và hầu hết các tòa nhà ngày nay có niên đại từ thời kỳ Thổ Nhĩ Kỳ, đáng chú ý nhất là hồ bơi có mái vòm đẹp.

Cơ sở hạ tầng và giao thông vận tải[sửa | sửa mã nguồn]

Sân bay[sửa | sửa mã nguồn]

Phòng chờ chất và hạ cánh giữa ga 2A và 2B, gọi là SkyCourt tại sân bay quốc tế Budapest

Budapest có Sân bay quốc tế Ferenc Liszt Budapest (BUD) (được đặt tên theo Franz Liszt, nhà soạn nhạc Hungary nổi tiếng), một trong những sân bay đông đúc nhất tại Trung và Đông Âu, nằm ở 16 kilômét (9,9 mi) về phía đông nam trung tâm Budapest, tại Quận XVIII. Sân bay này giúp kết nối quốc tế với hầu hết các thành phố lớn tại châu Âu, và cũng kết nối tới Bắc Mỹ, châu PhiTrung Đông. Vì là sân bay đông đúc nhất của Hungary, quản lý gần như tất cả giao thông hàng không của quốc gia. Budapest Liszt Ferenc quản lý khoảng 250 chuyến bay có kế hoạch mỗi ngày năm 2013, và ngày càng nhiều chuyến bay thuê bao. Luân Đôn, Brussels, Frankfurt, Munich, Paris, và Amsterdam lần lượt là những kết nối quốc tế đông đúc nhất, trong khi Toronto, Montreal, Dubai, DohaAlicante là những điểm đến ít chuyến nhất.[106] Ngày nay sân bay là trụ sở của Ryanair, Wizz Air, Budapest Aircraft Service, CityLine Hungary, Farnair HungaryTravel Service Hungary. Sân bay này có thể được tiếp cận bằng các phương tiện giao thông công cộng từ trung tâm bởi tuyến Metro số 3 và sau đó là xe buýt sân bay số 200E.[107]

Là một phần của kế hoạch phát triển chiến lược, 561 triệu euro đã được sử dụng vào việc mở rộng và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng sân bay cho tới tháng 12 năm 2012. Hầu hết những sự phát triển ngày đã được hoàn thiện,[108] những phần được hoãn lại là khu vực hàng hóa mới và cảng mới cho ga 2A và 2B, nhưng những sự phát triển này hiện chỉ để dự phòng, và sẽ được bắt đầu ngay khi lưu lượng của sân bay đạt mức độ thích hợp. SkyCourt, tòa nhà mới nhất có kiến trúc nghệ thuật giữa ga 2A và 2B gồm có 5 tầng. Kiểm tra an toàn của hành khách được chuyển tới đây cùng với khu phân loại hàng hóa mới, khu phòng chờ thương gia mới của Malév và SkyTeam, cũng là phòng chờ thẻ Master đầu tiên tại châu Âu.[109]

Giao thông công cộng[sửa | sửa mã nguồn]

Hệ thống tàu điện ngầm của Budapest trong thành phố và ngoại ô
Tuyến Xanh lục 4, một tuyến tàu điện ngầm không người lái với hệ thống PIDS tại quảng trường Kálvin, di chuyển từ ga tới Tuyến Xanh lam 3

Giao thông công cộng tại Budapest được cung cấp bởi Trung tâm Vận tải Budapest (BKK, Budapesti Közlekedési Központ), một trong những thẩm quyền vận tải lớn nhất tại châu Âu.[110] BKK vận hành 4 tuyến tàu điện ngầm (bao gồm Tuyến 1, đường sắt ngầm đầu tiên tại lục địa châu Âu), 5 tuyến đường sắt ngoại ô, 33 tuyến xe điện, 15 tuyến xe điện bánh hơi, 264 tuyến xe buýt (bao gồm 40 tuyến đêm), 4 tàu thủy, và BuBi, một hệ thống chia sẻ xe đạp thông minh. Trong một ngày trong tuần trung bình, các tuyến của BKK vận tải 3,9 triệu người; năm 2011, nó vận hành tổng cộng 1,4 tỷ hành khách.[111] Năm 2014, 65% lượng người tham gia giao thông tại Budapest sử dụng phương tiện giao thông công cộng và 35% bằng ô tô. Mục tiêu là 80%–20% năm 2030 theo chiến lược của BKK.

Sự phát triển của complex hệ thống giao thông thông minh phức tạp trong thành phố tiến triển nhanh chóng; việc áp dụng đèn giao thông thông minh rất phổ biến, chúng được quản lý bằng GPS và máy tính và tự động ưu tiên các phương tiện giao thông được kết nối GPS, cũng như giao thông được đo và phân tích trên đường và người lái xe được thông báo về thời gian di chuyển và giao thông dự kiến bởi màn hình thông minh (dự án EasyWay).[112] Người sử dụng phương tiện giao thông công cộng ngay lập tức được thông báo về bất cứ thay đổi nào về giao thông công cộng trực tuyến, trên màn hình điện thoại thông minhhệ thống thông tin hành khách (PIDS), người lái xe cũng nhận biết được thay đổi về giao thông và quản lý đường xá trong thời gian thực trực tuyến và trên điện thoại thông minh qua BKK Info.[113][114] Tất cả các phương tiện cũng có thể được theo dõi trực tuyến và trên điện thoại thông minh với hệ thống PIDS Futár,[115] cùng với đó việc đưa ra hệ thống vé tích hợp trực tuyến sẽ hỗ trợ việc đo số lượng hành khách trên mỗi tuyến và quản lý thông minh tần suất dịch vụ.

Đường và đường sắt[sửa | sửa mã nguồn]

Budapest là nơi trung chuyển đường xá quan trọng nhất, với tất cả các xa lộđường sắt chính kết thúc tại phạm vi thành phố. Hệ thống đường trong thành phố được thiết kế theo cách tương tự như của Paris, với một số đường vành đai và các con đường tỏa ra từ trung tâm. Đường vành đai M0 xung quanh Budapest sắp hoàn thành, chỉ có một phần bị thiếu ở phía tây do các tranh chấp địa phương. Hiện tại đường vành đai dài 80 kilômét (50 dặm), và sau khi hoàn thành, nó sẽ có chiều dài là 107 kilômét (66 mi).

Thành phố là một trung tâm giao thông quan trọng vì tất cả các tuyến đường chính của châu Âu và các tuyến đường sắt châu Âu đều dẫn đến Budapest. [116] Sông Danube đã và vẫn là một tuyến đường thủy quan trọng và khu vực này ở trung tâm lưu vực Karpat nằm ở đường giao nhau của các tuyến đường thương mại. [117] Đường sắt chính của Hungary được điều hành bởi Đường sắt Nhà nước Hungary. Có ba ga đường sắt chính ở Budapest, ga Đông Budapest, ga Tây Budapestga Nam Budapest, vận hành cả các dịch vụ đường sắt trong nước và quốc tế. Budapest là một trong những điểm dừng chính của tuyến đường Trung và Đông Âu. [118] Ngoài ra còn có dịch vụ đường sắt đi ngoại ô trong và xung quanh Budapest, ba tuyến được vận hành với tên HÉV.

Cảng, tàu thủy và các loại khác[sửa | sửa mã nguồn]

Sông Danube chảy qua Budapest trên đường từ Đức đến Biển Đen. Con sông có thể dễ dàng điều hướng và vì vậy Budapest trong lịch sử có cảng thương mại lớn tại CsepelÚjpest. Phía Pest cũng là một cảng nổi tiếng với các cảng hàng hải quốc tế cho hàng hóa[119] và cho tàu khách.[120] Trong những tháng mùa hè, một dịch vụ tàu cánh ngầm hoạt động trên sông Danube kết nối thành phố với Viên.

BKK (qua nhà vận hành BKV) cũng cung cấp phương tiện giao thông công cộng với dịch vụ thuyền trong phạm vi của thành phố. Bốn tuyến, được đánh dấu D11-14, kết nối hai bờ với Đảo Margaret và đảo Hajógyári, từ Római fürdő (phía Bắc Buda, đến đảo Óbudai) hoặc Cầu Árpád (phía Pest) đến Cầu Rákóczi, với tổng cộng 15 điểm dừng. Ngoài ra, một số công ty cung cấp các chuyến đi thuyền tham quan và cũng là một phương tiện vừa ở dưới nước vừa ở trên cạn (xe buýt và thuyền) hoạt động liên tục.

Chất lượng nước ở các bến cảng Budapest được cải thiện đáng kể trong những năm gần đây, các cơ sở xử lý xử lý 100% lượng nước thải được tạo ra vào năm 2010. Người Budapest thường xuyên đi kayak, xuồng, mô tô nướcthuyền buồm trên sông Danube, nơi đã liên tục trở thành một địa điểm giải trí lớn cho thành phố.

Các phương tiện giao thông đặc biệt ở Budapest, bên cạnh các tàu điện ngầm, bao gồm đường sắt ngoại ô, xe điện và thuyền. Có một vài loại phương tiện ít phổ biến hơn ở Budapest, giống như xe điện bánh hơi trên một số tuyến trong Pest, Đường sắt leo núi Đồi Lâu đài giữa cầu Dây xích và lâu đài Buda, xe ô tô nhỏ cho thuê ở đảo Margaret, cáp treo ghế, đường sắt răng cưa Budapestđường sắt trẻ em. Ba loại sau cùng chạy giữa những ngọn đồi Buda.

Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Tòa nhà chính của Đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest, nó là Viện Công nghệ lâu đời nhất thế giới, được thành lập năm 1782
Trường Kinh doanh Budapest, trường kinh doanh công lập đầu tiên trên thế giới, được thành lập năm 1857
Nhà chính của Học viện Âm nhạc Liszt Ferenc, được thành lập năm 1875

Budapest là nơi có hơn 35 cơ sở giáo dục bậc cao, nhiều trong số đó là trường đại học. Theo Quy trình Bologna, nhiều bằng cấp được cung cấp được công nhận ở các quốc gia trên khắp châu Âu. Y học, nha khoa, dược phẩm, thú y, và kỹ thuật là một số trong những lĩnh vực phổ biến nhất cho người nước ngoài học tại Budapest. Hầu hết các trường đại học ở Budapest cung cấp các khóa học bằng tiếng Anh, cũng như trong các ngôn ngữ khác như tiếng Đức, tiếng Pháp và tiếng Hà Lan, nhằm vào người nước ngoài. Nhiều sinh viên từ các quốc gia châu Âu khác dành một hoặc hai học kỳ tại Budapest thông qua Chương trình Erasmus.[121]

Đại học tại Budapest
Tên Thành lập Thành phố Loại Học sinh Nhân viên
Trường Kinh doanh Budapest 1857 Budapest Trường kinh doanh Công lập 16.905 987
Đại học Szent István 1787 Budapest Đại học cổ điển Công lập 12.583 1.313
Đại học Công nghệ và Kinh tế Budapest 1782 Budapest Công lập Viện công nghệ 21.171 961
Đại học Corvinus 1920 Budapest Trường kinh doanh công lập 14.522 867
Đại học Eötvös Loránd 1635 Budapest Đại học cổ điển công lập 26.006 1.800
Đại học Mỹ thuật Hungary 1871 Budapest Trường mỹ thuật công lập 652 232
Học viện âm nhạc Liszt Ferenc 1875 Budapest Trường âm nhạc công lập 831 168
Đại học Mỹ thuật và Thiết kế Moholy-Nagy 1870 Budapest Trường mỹ thuật công lập 894 122
Đại học Dịch vụ Công cộng Quốc gia 1808 Budapest Đại học cổ điển công lập 10.800 465
Đại học Óbuda 1879 Budapest Viện công nghệ công lập 12.888 421
Semmelweis University 1769 Budapest Trường y công lập 10.880 1.230
Đại học Thể dục 1925 Budapest Đại học cổ điển Công lập 2.500 220
Học viện Kịch và Phim tại Budapest 1865 Budapest Trường nghệ thuật Công lập 455 111
Đại học Andrássy Budapest 2002 Budapest Đại học cổ điển tư thục 210 51
Aquincum Institute of Technology 2011 Budapest Viện công nghệ tư thục 50 41
Cao đẳng Truyền thông và Kinh doanh Budapest 2001 Budapest Đại học cổ điển tư thục 8.000 350
Đại học Nghiên cứu Do Thái Budapest 1877 Budapest Đại học thần học tư thục 200 60
Đại học Trung Âu 1991 Budapest Đại học cổ điển tư thục 1,380 399
Trường Kinh doanh Quốc tế 1991 Budapest Trường kinh doanh tư thục 800 155
Đại học Nhà thờ Cải cách Károli Gáspár 1855 Budapest Đại học cổ điển tư thục 4.301 342
Đại học Công giáo Pázmány Péter 1635 Budapest Đại học cổ điển tư thục 9.469 736
Đại học thần học Lutheran 1557 Budapest Đại học thần học tư thục 220 36

Quan hệ quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Budapest có khá nhiều thành phố kết nghĩa và cộng tác trên thế giới.[122] Giống như Budapest, nhiều trong số đó là thành phố có tầm ảnh hưởng nhất của các quốc gia, đa số là thủ đô văn hóa, kinh tế, chính trị của quốc gia đó. Thị trưởng của Budapest nói rằng mục đích của việc cải thiện quan hệ với thành phố kết nghĩa là cho phép và thúc đẩy sự trao đổi thông tin và kinh nghiệm, cũng như phối hợp trong việc quản lý thành phố, giáo dục, văn hóa, du lịch, truyền thông, thương mại và kinh doanh.[123]

Thành phố kết nghĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố cộng tác[sửa | sửa mã nguồn]

Một số quận của thành phố cũng kết nghĩa với các thành phố nhỏ và quận của các thành phố lớn khác; xem bài Danh sách quận tại Budapest để biết thêm thông tin.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lúc đó còn là BudaPest riêng biệt
  1. ^ “The Municipality of Budapest (official)”. Municipality of Budapest. 11 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014. 
  2. ^ “Budapest”. 2014 Encyclopædia Britannica, Inc. 11 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014. 
  3. ^ “Functional Urban Areas – Population on 1 January by age groups and sex”. Eurostat. 1 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. 
  4. ^ “Best view in Budapest from the city's highest hilltop”. stay.com – Budapest. 11 tháng 9 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 11 tháng 9 năm 2014. 
  5. ^ a ă “Population by type of settlement – annually”. Hungarian Central Statistical Office. 12 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2016. 
  6. ^ a ă “Gazetteer of Hungary, Hungarian Central Statistical Office, 2012” (PDF). Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2013. 
  7. ^ “Budapest City Review”. Euromonitor International. Tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  8. ^ “English: 39,8% of the country's GDP produced in Budapest. Hungary's GDP PPP in 2017 is $284.266 billion (IMF) x 39,8% = $113.1 billion”. portfolio.hu / Hungarian Central Statistical Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017. 
  9. ^ a ă Ed F. Nozeman; Arno J. Van der Vlist (2014). European Metropolitan Commercial Real Estate Markets. Springer. tr. 169. ISBN 978-3-642-37852-2. 
  10. ^ a ă “English: 39,8% of the country's GDP produced in Budapest. Hungary's GDP PPP in 2017 is $284.266 billion (IMF) x 39,8% = $113.1 billion / Budapest pop. 2016 (1.759.407) = $64,283”. portfolio.hu / Hungarian Central Statistical Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017. 
  11. ^ Anh /ˌbjdəˈpɛst/, /ˌbʊdʔ/, /ʔʃt/, /ˈbjdəpɛst/, /ˈbʊdʔ/, /ʔʃt/
    Mỹ /ˈbdəpɛst/
    Nguồn: Wells, John C. (2008), Longman Pronunciation Dictionary (ấn bản 3), Longman, ISBN 978-1-4058-8118-0 
  12. ^ a ă Bachmann, Helena (18 tháng 3 năm 2002). “Beauty and the Feast”. Time. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. 
  13. ^ Taşan-Kok, Tuna (2004). Budapest, Istanbul and Warsaw: Institutional and spatial change. Eburon Uitgeverij. tr. 41. ISBN 978-90-5972-041-1. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013. 
  14. ^ Meer, Dr Jan van der; Carvalho, Dr Luis; Berg, Professor Leo van den (28 tháng 5 năm 2014). Cities as Engines of Sustainable Competitiveness: European Urban Policy in Practice. Ashgate Publishing, Ltd. ISBN 978-1-4724-2704-5. 
  15. ^ a ă â b c Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Encarta
  16. ^ “About Budapest Transport Association”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) “About Budapest Transport Association”. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 10 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016. 
  17. ^ “telep lista” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) “telep lista” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 25 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2016. 
  18. ^ “English: 49,6% of the country's GDP produced in Budapest metropolitan area, in Central Hungary (Budapest and Pest county). Hungary's GDP PPP in 2017 is $284.266 billion (IMF) x 49,6% = $141.0 billion”. portfolio.hu / Hungarian Central Statistical Office. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2017. 
  19. ^ “ukmediacentre.pwc.com”. PricewaterhouseCoopers. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  20. ^ Istrate, Emilia. “Global MetroMonitor | Brookings Institution”. Brookings.edu. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  21. ^ “Hungary: Emerging Economic Power In Central And Eastern Europe”. Thomas White International. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2017. 
  22. ^ “Globalization and World Cities (GaWC) Research Network, Loughborough University”. www.lboro.ac.uk. 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017. 
  23. ^ “The Global Financial Centres Index 21” (PDF). Long Finance. Tháng 3 năm 2017. 
  24. ^ “Innovation Cities Top 100 Index » Innovation Cities Index & Program – City data training events from 2THINKNOW for USA Canada America Europe Asia Mid-East Australia”. Innovation-cities.com. 1 tháng 9 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011. 
  25. ^ “CEE City Ranking puts capitals under the spotlight | Local and regional publications”. Rolandberger.at. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2011. 
  26. ^ “Doing Business: Budapest, the soul of Central Europe”. International Herald Tribune. 4 tháng 8 năm 2004. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008. 
  27. ^ “Budapest Europe’s Second Fastest-Developing Urban Economy, Study Reveals – The study examines the development of the world's 300 largest urban economies, ranking them according to the pace of development.”. Brookings Institution. 23 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2016. 
  28. ^ “Originally established in 1864, today it is the second most liquid stock market in the Central and Eastern European region, with the total market capitalisation of listed firms standing at approximately US $33.8 billion.”. 
  29. ^ “Regional Headquarters Central and Eastern Europe” (PDF). investinaustria.at. 23 tháng 9 năm 2011. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2014. 
  30. ^ “Magyarországon működő bankok - BankRáció.hu”. www.bankracio.hu. 
  31. ^ “Market Overview – BET shares capitalization: 7,170 billion HUF”. Budapest Stock Exchange. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017. 
  32. ^ “International organizations in Hungary”. Ministry of Foreign Affairs. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2016. 
  33. ^ “EU nations pick Budapest for technology institute”. Sydney Morning Herald. 18 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2014. 
  34. ^ European Union Document Nos. 2013/0812 (COD), ENFOPOL 395 CODEC 2773 PARLNAT 307
  35. ^ “Budapesten nyílik az első kínai befektetési támaszpont külföldön” [First Chinese investment base abroad opens in Budapest]. Heti Világgazdaság (bằng tiếng Hungarian). Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018. 
  36. ^ “Academic Ranking of World Universities 2015”. ShanghaiRanking Consultancy. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015. 
  37. ^ “CWUR 2015 – World University Rankings”. Center for World University Rankings. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2015. 
  38. ^ Electric Railway Society (2003). https://books.google.com/books?id=9DdeAAAAIAAJ&redir_esc=y. Doppler Press. p. 61. Retrieved 29 August 2012.
  39. ^ Mátyás Jangel (tháng 9 năm 2010). “Közszolgáltatási szerződés, utasjogok, a szolgáltatástervezés és ellenőrzés folyamata a kötöttpályás helyi- és elővárosi közforgalmú közlekedésben” [Public service contract, passenger rights, service planning and monitoring process of local and suburban public transport rail] (bằng tiếng Hungarian). BKV Zrt. Közlekedési Igazgatóság [Directorate of Public Office. Transport]. tr. 10 (and 3). Bản gốc (pdf) lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2015.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp) Metro usage per day – Line 1: 120,000; Line 2: 405,000; Line 3: 630,000. (Line 4 began operations in 2014, with a 110,000 ridership estimated by Centre for Budapest Transport (BKK) based on the latest year.)
  40. ^ “Budapest is the most liveable Eastern European city”. Index.hu. 8 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 5 năm 2018. 
  41. ^ “Gazdaság: EIU: Budapest, London és New York között a legjobban élhető városok listáján (Budapest between London and New York on the most liveable cities list)”. HVG.hu. 11 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2018. 
  42. ^ “Budapest is the 50th Most Liveable City in the World”. Tower International. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2017. 
  43. ^ a ă â b “Aquincum”. Encyclopædia Britannica. Encyclopædia Britannica, Inc. 2008. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. 
  44. ^ Sugar, Peter F.; Péter Hanák, Tibor Frank (1990). “Hungary before the Hungarian Conquest”. A History of Hungary. Đại học Indiana Press. tr. 3. ISBN 025320867X. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2008. 
  45. ^ a ă â b c d đ “Budapest”. Travel Channel. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. 
  46. ^ a ă “Budapest”. 1911 Encyclopædia Britannica Eleventh Edition. Truy cập ngày 30 tháng 1 năm 2008. 
  47. ^ Drake, Miriam A. (2003). “Eastern Europe, England and Spain”. Encyclopedia of Library and Information Science. CRC Press. tr. 2498. ISBN 0824720806. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2008. 
  48. ^ Casmir, Fred L. (1995). “Hungarian culture in communication”. Communication in Eastern Europe: The Role of History, Culture, and media in contemporary conflicts. Lawrence Erlbaum Associates. tr. 122. ISBN 0805816259. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2008. 
  49. ^ Molnar, A Concise History of Hungary, Chronology pp. 15
  50. ^ Beaverstock, J. V. (1999). "A Roster of World Cities". Loughborough University. Truy cập ngày ngày 22 tháng 5 năm 2008.
  51. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên TIME
  52. ^ a ă “Nomination of the banks of the Danube and the district of the Buda Castle” (PDF). International Council on Monuments and Sites. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008. 
  53. ^ “Budapest Is Stealing Some of Prague’s Spotlight”. The New York Times. Ngày 3 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2008. 
  54. ^ “World Heritage Committee Inscribes 9 New Sites on the World Heritage List”. Unesco World Heritage Centre. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2008. 
  55. ^ “Hungary's, Budapest's and Balaton's Guide: Budapest's spas: Gellért, Király, Rác, Rudas, Széchenyi, Lukács”. Guideviaggi.net. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2009. 
  56. ^ Published: 10:25AM Wednesday 19 tháng 11 năm 2008 (ngày 19 tháng 11 năm 2008). “Big underground thermal lake unveiled in Budapest, Hungary | WORLD News”. Tvnz.co.nz. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2009. 
  57. ^ Meusburger, Peter; Jöns, Heike biên tập (2001). Transformations in Hungary: Essays in Economy and Society. Springer Verlag. ISBN 3-7908-1412-1. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2014. 
  58. ^ Bácskai Vera: Széchenyi tervei Pest-Buda felemelésére és szépítésére Lưu trữ 15 June 2009 tại Wayback Machine.
  59. ^ "Dictionary of American Family Names"(Volume A–F), by Patrick Hanks, Oxford University Press, 2003, pages 179, 245.
  60. ^ Kiss, Lajos (1978). Földrajzi nevek etimológiai szótára [Etymological Dictionary of Geographic Names]. Budapest: Akadémiai. tr. 131–132. 
  61. ^ Györffy, György (1997). Pest-Buda kialakulása: Budapest története a honfoglalástól az Árpád-kor végi székvárossá alakulásig [The Development of Pest and Buda: History of Budapest from the Great Migration until the End of the Árpád Dynasty]. Budapest: Akadémiai. tr. 62. ISBN 978-963-05-7338-2. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016. 
  62. ^ Schütte, Gudmund (1917). Ptolemy's Maps of Northern Europe. Copenhagen: Royal Danish Geographical Society. tr. 101. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016. 
  63. ^ Smith, William biên tập (2 tháng 3 năm 2006). A Dictionary of Greek and Roman Geography. London: I.B. Tauris. ISBN 978-1-84511-001-7.  Facsim. of ed. published: London: John Murray, 1872.
  64. ^ Adrian Room (2006). Placenames of the World. McFarland. tr. 70. ISBN 978-0-7864-2248-7. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2016. 
  65. ^ “Association of professional tour guides”. Lovely Budapest. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013. 
  66. ^ Sugar, Peter F. (1990). “Hungary before the Hungarian Conquest”. A History of Hungary. Indiana University Press. tr. 5. ISBN 978-0-253-20867-5. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2008. 
  67. ^ “Aquincum - Aquincum Múzeum”. www.aquincum.hu. 
  68. ^ Molnar, A Concise History of Hungary, Chronology pp. 12
  69. ^ Molnar, A Concise of Hungary, p. 14
  70. ^ Sugar, Peter F. (1990). “The Angevine State”. A History of Hungary. Indiana University Press. tr. 48. ISBN 978-0-253-20867-5. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2008. 
  71. ^ Mona, Ilona (1974). “Hungarian Music Publication 1774–1867”. Studia Musicologica Academiae Scientiarum Hungaricae (Akadémiai Kiadó) 16 (1/4): 261–275. JSTOR 901850. doi:10.2307/901850. 
  72. ^ a ă Southeastern Europe under Ottoman rule, 1354–1804, Peter F. Sugar, page 88
  73. ^ UNESCO World Heritage Centre. “Budapest, including the Banks of the Danube, the Buda Castle Quarter and Andrássy Avenue”. unesco.org. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  74. ^ Peel, M. C.; Finlayson, B. L.; McMahon, T. A. “World Map of Köppen-Geiger climate classification”. The University of Melbourne. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2013 – qua WikiMedia commons. 
  75. ^ “Monthly Averages for Budapest, Hungary (based on data from 1970–2010)”. Hungarian Meteorological Service. 
  76. ^ “Eurostat regional yearbook 2011” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  77. ^ “Neighborhoods in Brief”. Frommer's Budapest. 2011. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014. 
  78. ^ “Budapest district by district”. budapestbydistrict.com. 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014. 
  79. ^ “Urbandivercities.eu, Case study Budapest and Budapest's 8th district”. 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014. 
  80. ^ Berényi, Eszter B. (2010), The transformation of historical city districts in inner city of Budapest (PhD dissertation) (PDF), Budapest, truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2014 
  81. ^ After a local referendum, Soroksár became an independent district. (Egy helyi népszavazást követően Soroksár 1994-ben vált önálló kerületté.) (PDF), Budapest, truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2017 
  82. ^ a ă â “Population of Budapest and Hungary from 2001, Hungarian Statistical Office”. HSCO. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  83. ^ “Eurostat, Population on 1 January (EU27 2004 to 2014)”. Eurostat. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  84. ^ “Budapest – HU101 – Employment Institute”. Iz.sk. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2013. 
  85. ^ “IMF World Economic Outlook (Hungary), 2017 April”. IMF. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  86. ^ “IMF World Economic Outlook, 2014 April”. IMF. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  87. ^ a ă “Hungarian Census 2011” (PDF). Hungarian Statistical Office. 2013. tr. 17, table 1.4.1. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  88. ^ “The European Higher Education Area in 2012, page 104 (average of age groups ((33,2+26,5+21,5)/3))” (PDF). European Commission. 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  89. ^ a ă â b c d “Népszámlálás 2011: Területi adatok – Budapest” [Hungarian census 2011: Spatial Data – Budapest] (bằng tiếng Hungary). Central Statistical Office. Table 1.1.1.1. A népesség számának alakulása, népsűrűség, népszaporodás (Total number of population, population density, natural growth), 1.1.4.2 A népesség nyelvismeret és nemek szerint (population by spoken language), 1.1.6.1 A népesség anyanyelv, nemzetiség és nemek szerint (population by mother tongue and ethnicity), 1.1.7.1 A népesség vallás, felekezet és nemek szerint (population by religion), 2.1.2.2 A népesség születési hely, korcsoport és nemek szerint (population by place of birth) 
  90. ^ a ă â b “Budapest's population is increasing (Növekszik Budapest népessége)”. Index.hu. 2010. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2010. 
  91. ^ “Population and Social conditions (31,4 million (6,3%) born outside of the EU)” (PDF). Eurostat. 2011. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  92. ^ “Population by nationality, 2011”. Hungary. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2011. 
  93. ^ Dezső Danyi-Zoltán Dávid: Az első magyarországi népszámlálás (1784–1787) / The first census in Hungary (1784–1787), Hungarian Central Statistical Office, Budapest, 1960, pp. 30
  94. ^ a ă “Budapest City Review”. Euromonitor International. Tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  95. ^ “Members of EMTA”. European Metropolitan Transport Authorities (EMTA). Tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  96. ^ "Population Density" Lưu trữ 10 February 2007 tại Wayback Machine., Geographic Information Systems – GIS of Interest. Accessed 17 May 2007.
  97. ^ “Cities and Green Growth, page 3” (PDF). OECD. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  98. ^ “Eastern Europe in 2030: The future demographic, Population by City” (PDF). Euromonitor. Tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  99. ^ “IMPACT OF MIGRATION ON POPULATION CHANGE, Results from the Demographic and Migratory flows Affecting European Regions and Cities Project” (PDF). European Observation Network for Territorial Development and Cohesion. 2013. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  100. ^ “The housing stock and the housing density”. Hungarian Central Statistical Office. 2014. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2014. 
  101. ^ “Hungarian census 2011 – final data and methodology” (PDF). 
  102. ^ “World Jewish Population”. SimpleToRemember.com – Judaism Online. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2012. 
  103. ^ Zoltán, Dövényi; Zoltán, Kovács (1999). “A szuburbanizáció térbeni-társadalmi jellemzői Budapest környékén (Spatial and societal parameters of the suburbanization in Budapest)” (PDF) (bằng tiếng Hungarian). Földrajzi Értesítő (Geographical Report). Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2013. 
  104. ^ “Mini guide to Budapest's spas”. BBC. 26 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017. 
  105. ^ Fallon, Steve. “A guide to Budapest’s thermal baths”. Lonely Planet. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2017. 
  106. ^ “Air Transat unveils its new Europe program for 2015”. 15 tháng 10 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2014. 
  107. ^ “From the Airport to the City centre by public transport” (PDF). Centre for Budapest Transport. 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  108. ^ “Budapest Airport Property development”. Budapest Airport. 17 tháng 3 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  109. ^ “Budapest Airport unveils Europe's first MasterCard lounge”. Future Travel Experience. 15 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  110. ^ “Centre for Budapest Transport in brief”. Centre for Budapest Transport. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  111. ^ “Annual Report 2011” (PDF). BKV Zrt. Tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  112. ^ “Easyway project – Digital information”. BKK Zrt. 23 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2014. 
  113. ^ “BKK Info online (public transport)”. BKK Zrt. 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014. 
  114. ^ “BKK Info online (roads and road transport)”. BKK Zrt. 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014. 
  115. ^ “BKK Futár PIDS system online”. BKK Zrt. 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014. 
  116. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên budapest.com
  117. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên budpocketguide.com
  118. ^ [http: //www.belmond.com/venice-simplon -orient-express / search_results? station = Budapest “Venice Simplon-Orient-Express Điểm đến”]. Truy cập 23 tháng 9 năm 2014. 
  119. ^ “Budapest Freeport”. danubeports.info. 6 tháng 5 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  120. ^ “Budapest cruise terminal”. cruise-profi.com. 2014. Truy cập ngày 20 tháng 5 năm 2014. 
  121. ^ “Study in Hungary – a guide for international students in Budapest”. Blog for expats & International students in Budapest, Hungary. 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  122. ^ “Budapest – Testvérvárosok” [Budapest – Twin Cities]. Budapest Főváros Önkormányzatának hivatalos oldala [Official site of the Municipality of Budapest] (bằng tiếng Hungarian). Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  123. ^ “Budapest to Sign Sister City Agreement with Beijing”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014. 
  124. ^ “NYC's Sister Cities”. Sister City Program of the City of New York. 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  125. ^ “NYC's Partner Cities”. The City of New York. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2012. 
  126. ^ “Sister City – Budapest”. Official website of New York City. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2008.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  127. ^ “Budapest, Hungary”. fwsistercities.org. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  128. ^ “Sanghaj is Budapest testvérvárosa let”. Origo.hu. Truy cập ngày 29 tháng 8 năm 2013. 
  129. ^ “Sister Cities”. Beijing Municipal Government. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009. 
  130. ^ “Budapest To Sign Twin-City Agreement With Tehran”. Hungary Today. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  131. ^ “Berlin – City Partnerships”. Der Regierende Bürgermeister Berlin. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 9 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  132. ^ “Berlin's international city relations”. Berlin Mayor's Office. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  133. ^ https://www.frankfurt.de/sixcms/detail.php?id=317589&_ffmpar%5b_id_inhalt%5d=54766
  134. ^ “These World Cities Are Filled With History”. 21 tháng 11 năm 2013. 
  135. ^ “Lisboa – Geminações de Cidades e Vilas” [Lisbon – Twinning of Cities and Towns]. Associação Nacional de Municípios Portugueses [National Association of Portuguese Municipalities] (bằng tiếng Portuguese). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013. 
  136. ^ “Acordos de Geminação, de Cooperação e/ou Amizade da Cidade de Lisboa” [Lisbon – Twinning Agreements, Cooperation and Friendship]. Camara Municipal de Lisboa (bằng tiếng Portuguese). Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  137. ^ “Maharashtra Tourism”. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018. Budapest and Nashik to be sister cities as collaboration between Hungary and Maharashtra to have a roadmap ahead for mutual synergies!Shri Jaykumar Rawal, Hon Minister Tourism, Shri Vijay Gautam IAS PS,Shri Aashutosh Rathod JtMD,interacting with the Hungary delegation at Sahyadri 
  138. ^ “Tel Aviv sister cities” (bằng tiếng Hebrew). Tel Aviv-Yafo Municipality. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 2 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2009.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  139. ^ “Intercity and International Cooperation of the City of Zagre b”. 2006–2009 City of Zagreb. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009. 
  140. ^ daenet d.o.o. “Sarajevo Official Web Site : Fraternity cities”. sarajevo.ba. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  141. ^ “City Partnerships and Projects of cooperation”. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014. 
  142. ^ “Partnerská města HMP” [Prague – Twin Cities HMP]. Portál "Zahraniční vztahy" [Portal "Foreign Affairs"] (bằng tiếng Czech). 18 tháng 7 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  143. ^ “Archived copy” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2014.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  144. ^ “Cities: Sister Cities (How many?) (rates, places, America, Los Angeles) – City vs. City – City-Data Forum”. city-data.com. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  145. ^ “Kraków – Miasta Partnerskie” [Kraków -Partnership Cities]. Miejska Platforma Internetowa Magiczny Kraków (bằng tiếng Polish). Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 8 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  146. ^ Sister Cities Week in Bangkok mfa.gov.hu/kulkepviselet
  147. ^ “Dr. Gábor Bagdy, Vice Mayor of Budapest”. gov.hu. 
  148. ^ Daejeon.kr Lưu trữ 19 November 2009 tại Wayback Machine.
  149. ^ Vacca, Maria Luisa. “Comune di Napoli-Gemellaggi” [Naples – Twin Towns]. Comune di Napoli (bằng tiếng Italian). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  150. ^ Burak Sansal. “Sister Cities of Istanbul – All About Istanbul”. greatistanbul.com. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016. 
  151. ^ “Ankara’nın yeni kardeşi Budapeşte”. Hürriyet (bằng tiếng Turkish). 26 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 2 năm 2015. 
  152. ^ “Welcome to Vilnius”. vilnius.com. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2016.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  153. ^ “Twin cities of the City of Kosice”. Magistrát mesta Košice, Tr. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2013. 
  154. ^ “Новини ЛМР” (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2010. 

Danh sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]