Like a Virgin (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Like a Virgin"
Đĩa đơn của Madonna
từ album Like a Virgin
Mặt B "Stay"
Phát hành 6 tháng 11, 1984
Định dạng
Thu âm
Thể loại Dance-pop
Thời lượng 3:38
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất Nile Rodgers
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Borderline"
(1984)
"Like a Virgin"
(1984)
"Material Girl"
(1984)
Đoạn nhạc mẫu
trợ giúpthông tin

"Like a Virgin" là một bài hát của ca sĩ người Mỹ Madonna nằm trong album phòng thu thứ hai cùng tên. Nó được phát hành vào ngày 06 tháng 11 năm 1984 bởi hãng Sire Records, như là đĩa đơn đầu tiên trích từ album. Bài hát cũng xuất hiện trong nhiều album tuyệt phẩm của cô như The Immaculate Collection (1990) và Celebration (2009). "Like a Virgin" được sáng tác bởi Billy Steinberg và Tom Kelly và do Nile Rodgers sản xuất; Steinberg nói rằng bài hát được lấy cảm hứng từ những trải nghiệm trong tình yêu của ông. Nó được lựa chọn cho Madonna thể hiện bởi Michael Ostin của hãng đĩa Warner Bros sau khi nghe một bản demo hát bởi Kelly. Tuy nhiên, ban đầu Rodgers cảm thấy rằng bài hát không đủ độ thu hút và không thích hợp cho Madonna, nhưng sau đó ông đã thay đổi ý kiến của mình sau khi những giai điệu đó cứ kẹt trong tâm trí của mình.

Về mặt âm nhạc, "Like a Virgin" là một ca khúc có tiết tấu dance theo định hướng, bao gồm hai đoạn lặp lại. Nội dung bài hát là không rõ ràng và bao gồm nhiều ám chỉ ẩn ý. Về mặt tình dục, lời bài hát có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau cho những người khác nhau. "Like a Virgin" nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình đương đại, trong đó họ thường xuyên gọi nó là một trong những bài hát đỉnh nhất của Madonna. Nó đã trở thành đơn quán quân đầu tiên của cô trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, cũng như đứng đầu tại Úc, Canada, Nhật Bản và nằm trong top 10 ở nhiều thị trường khác.

Trong video của bài hát, Madonna hát trên một con thuyền đáy bằng ở Venice, bên cạnh bối cảnh ở một cung điện trong đó cô mặc một chiếc váy cưới màu trắng. Với video, giới chuyên môn cho rằng hình tượng của Madonna là một người phụ nữ độc lập về tình dục, biểu trưng cho sự xuất hiện của một người đàn ông với mặt nạ sư tử như của Saint Mark, và so sánh sự khêu gợi của nó với sức sống của thành phố Venice. Madonna đã biểu diễn ca khúc trong 6 tour diễn của cô, gần đây nhất là tại Rebel Heart Tour (2015-2016). Kể từ khi phát hành, các màn trình diễn của "Like a Virgin" đều vấp lại nhiều phản ứng mạnh mẽ và ồn ào từ giới truyền thông. Đặc biệt, màn trình diễn của Madonna tại lễ trao giải MTV Video Music Awards lần đầu tiên năm 1984 trở thành biểu tượng của nghệ thuật trình diễn trong lịch sử âm nhạc. Cô trình diễn nó trong trang phục cưới và một chiếc thắt lưng mang hiệu "Boy Toy". Trong lúc biểu diễn, cô ấy lăn vòng trên sàn diễn, để lộ ra phần bít tất dài, và thực hiện một số động tác mang tính khêu gợi.[1]

"Like a Virgin" đã được hát lại bởi một số nghệ sĩ và xuất hiện trong nhiều bộ phim như Reservoir Dogs, Moulin Rouge!Bridget Jones: The Edge of Reason. Bài hát đã được ghi nhận với tầm ảnh hưởng sâu sắc của nó đối với xã hội. Nhóm gia đình đã tìm cách cấm bán đĩa đơn vì họ tin rằng bài hát thúc đẩy quan hệ tình dục mà không có hôn nhân hợp pháp. Mặt khác, tính cách của một người không hổ thẹn tình dục, người phụ nữ bất khuất vô cùng tự tin của Madonna đã được chấp nhận rộng rãi bởi thế hệ trẻ, những người bắt chước phong cách và thời trang của cô. Các học giả ghi nhận "Like a Virgin" là bài hát giúp củng cố vị thế của Madonna như là một biểu tượng văn hóa đại chúng. Năm 2000, "Like a Virgin", được vinh danh bởi tạp chí Rolling StoneMTV, đứng thứ 4 trong danh sách "100 bài hát pop vĩ đại nhất" của họ.[2] Nó được bình chọn đứng thứ 10 trong top 100 bài hát hay nhất của trong 25 năm qua của VH1.[3] Bài hát được liệt kê ở vị trí 95 trên bảng xếp hạng những ca khúc hay nhất mọi thời đại trên Billboard Hot 100.[4] Năm 2003, người hâm mộ Madonna đã được yêu cầu bỏ phiếu "Top 20 đĩa đơn hay nhất trong sự nghiệp của Madonna" bởi tạp chí Q. "Like a Virgin" đã nằm ở vị trí thứ 5 trong danh sách.[5]

Danh sách track và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"Out of Touch" bởi Daryl Hall and John Oates
Đĩa đơn quán quân tại Mỹ
22 tháng 12 năm 1984 - 28 tháng 1 năm 1985
Kế nhiệm:
"I Want to Know What Love Is" bởi Foreigner

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ http://www.instyle.com/instyle/parties/party/0,,20053852_20083005,00.html
  2. ^ “Rolling Stone & MTV: '100 Greatest Pop Songs': 1-50”. Rolling Stone (Jann Wenner) 989 (23): 78. Ngày 7 tháng 1 năm 2001. ISSN 0035-791X. 
  3. ^ Reporter, Associated Press (ngày 12 tháng 6 năm 2003). “VH1's '100 Greatest Songs of the Past 25 Years'. The Sydney Morning Herald (Fairfax Media). Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  4. ^ “Billboard Celebrates the 50th Anniversary of the Hot 100 with All-Time Charts”. Reuters. Ngày 11 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2010. 
  5. ^ Reporter, Staff (ngày 9 tháng 12 năm 2003). “Top 20 Madonna Singles of All-time”. Q magazine (San Francisco: Bauer Media Group) 19 (23). ISSN 0955-4955. 
  6. ^ Like a Virgin (7-inch Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1984. W 9210. 
  7. ^ Like a Virgin (United States 12-inch Maxi Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1984. 20239-0. 
  8. ^ Like a Virgin (Canadian 12-inch Maxi Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1984. 92 02390Q. 
  9. ^ Like a Virgin (Japanese 12-inch Promo Maxi Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1984. PS-258. 
  10. ^ a ă â b c d đ “Madonna - Like a Virgin”. australian-charts.com. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  11. ^ “Eurochart Hot 100 Singles”. Billboard (New York: Nielsen Business Media, Inc) 95 (21): 53. Ngày 23 tháng 2 năm 1985. ISSN 0006-2510. 
  12. ^ “Finnish Singles Chart”. Tháng 12 năm 1984.  Đã bỏ qua tham số không rõ |http://finnishcharts.com/forum.asp?todo= (trợ giúp);
  13. ^ “Chartverfolgung > Madonna > Like a Virgin” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. Musicline.de. Ngày 28 tháng 1 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  14. ^ “Irish Singles Chart – Search for song”. Irish Recorded Music Association. Ngày 15 tháng 12 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  15. ^ “Madonna – Like a Virgin” (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  16. ^ Hit Parade Italia
  17. ^ a ă “ライク・ア・ヴァージ Japanese Singles Chart” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Ngày 11 tháng 2 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  18. ^ South African Singles Chart
  19. ^ UK Singles Chart. everyhit.com
  20. ^ a ă â b “Madonna chart history”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2009. 
  21. ^ Rock On The Net: Madonna
  22. ^ “Jaaroverzichten 1984”. Dutch Top 40. Hung Medien (bằng tiếng Hà Lan). Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  23. ^ “Top Annuali Single: 1985” (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011. 
  24. ^ “Top Pop Albums 1985”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc) 97 (52). Ngày 28 tháng 12 năm 1985. ISSN 0006-2510. 
  25. ^ “Billboard Hot 100 Chart 50th Anniversary”. Billboard.com. Ngày 14 tháng 9 năm 1984. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2012. 
  26. ^ “Britain single certifications – Madonna – Like a Virgin” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.  Nhập Like a Virgin vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Single trong khung By Format. Nhấn Search
  27. ^ Myers, Justin (ngày 7 tháng 3 năm 2015). “Madonna’s Official Top 40 Biggest Selling Singles”. Official Charts Company. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  28. ^ “American single certifications – Madonna – Like a Virgin” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2010.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  29. ^ Metz & Benson 1999, tr. 111

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]