Take a Bow (bài hát của Madonna)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Take a Bow"
Đĩa đơn của Madonna
từ album Bedtime Stories
Mặt B "Take a Bow" (InDaSoul Mix)
Phát hành 28 tháng 10, 1994
Định dạng
Thu âm 1994
Thể loại
Thời lượng 5:21
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất
  • Madonna
  • Babyface
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Secret"
(1994)
"Take a Bow"
(1994)
"Bedtime Story"
(1995)

"Take a Bow" là một bài hát của ca sĩ người Mỹ Madonna nằm trong album phòng thu thứ sáu của cô Bedtime Stories. Nó được phát hành như là đĩa đơn thứ hai trích từ album vào ngày 28 tháng 10 năm 1994 bởi Maverick Records. Đây là một bản pop ballad được sáng tác và sản xuất bởi Madonna cùng ca sĩ kiêm nhạc sĩ Babyface. Bài hát cũng xuất hiện trên nhiều album tổng hợp lớn của cô như Something to Remember (1995), GHV2 (2001) và Celebration (2009).

"Take a Bow" nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc đương đại, và là một hit lớn tại Mỹ, trở thành đĩa đơn quán quân thứ 11 của nữ ca sĩ trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100 trong 7 tuần. Đây là lần đầu tiên kể từ "This Used to Be My Playground" (1992) mà Madonna lặp lại thành tích này, cũng như là hit hạng nhất cuối cùng của cô tại Mỹ trong thập niên 90. Trên thị trường quốc tế, nó cũng đạt vị trí số một ở Canada, và lọt vào top 10 ở Ý, Thụy Sĩ và New Zealand. Tuy nhiên ở Anh quốc, bài hát trở thành đĩa đơn đầu tiên trong sự nghiệp của cô không thể lọt vào top 10 sau 9 năm - khi chỉ đạt hạng 16.

Video ca nhạc cho "Take a Bow" do Michael Haussman làm đạo diễn, được ghi hình ở Ronda và trường đấu bò ở Antequera, Tây Ban Nha. Nội dung video mô tả câu chuyện Madonna trong vai người tình bị bỏ quên của một dũng sĩ đấu bò (do dũng sĩ đấu bò ngoài đời thực Emilio Muñoz đóng), và cô khao khát nhận được sự hồi đáp từ anh. Nó đã giành một giải Video âm nhạc của MTV cho Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ. Madonna trình diễn "Take a Bow" với Babyface tại lễ trao giải thưởng Âm nhạc Mỹ năm 1995 và liên hoan San Remo diễn ra ở Ý cùng năm. Tuy nhiên, Madonna chưa từng thể hiện "Take a Bow" trong bất kỳ chuyến lưu diễn thế giới nào, dù cô đã luyện tập bài hát cho Re-Invention World Tour (2004).

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Nội dung bài hát nhắc đến cuộc đời của một diễn viên hài, khi ra sân khấu thì phải đóng kịch, làm cho không khí náo nhiệt, đem lại niềm vui cho mọi người. Nhưng khi màn sân khấu khép lại, thì chỉ còn nỗi cô đơn của diễn viên và không ai để ý đến điều này Cuộc đời này cũng như một cái sân khấu mà mỗi con người đóng một vai diễn trong đó. Người ca sĩ biết rằng, vai diễn của bạn trai với mình cũng đã sắp kết thúc và cô có thể đoán được là anh sẽ làm tan vỡ trái tim cô.

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

"Take a Bow", đĩa đơn thứ hai của album Bedtime Stories đã đem lại nhiều thành công cho Madonna khi đứng đầu bảng xếp hạng quan trọng nhất của Mỹ là Billboard Hot 100 suốt 7 tuần liên tiếp. Đây là khoảng thời gian dài nhất trụ vững ở vị trí quán quân trong số các đĩa đơn của Madonna trên bảng xếp hạng này. Cùng được sáng tác bởi Babyface, "Take a Bow" đã trở thành một trong các đĩa đơn bán chạy nhất năm 1995.

Đánh dấu một bước chuyển hướng quan trọng trong phong cách âm nhạc của Madonna, bài hát này đã được ghi nhận là có kỹ thuật thanh nhạc tốt. Tuy rằng rất thành công ở Mỹ song tại Anh, "Take a Bow" chỉ đạt vị trí #16 và là một trong số rất ít các đĩa đơn của Madonna không lọt vào trong tốp 10.

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Madonna trong vai nhân tình của một dũng sĩ đấu bò Tây Ban Nha trong video ca nhạc của "Take a Bow"

"Take a Bow" được đạo diễn bởi Michael Haussman, quay tại Ronda và trường đấu bò Antequera, Tây Ban Nha kể lại mối tình tan vỡ giữa một cặp tình nhân, được đóng bởi Madonna và diễn viên người Tây Ban Nha Emilio Munoz. Madonna đã chọn bối cảnh Tây Ban Nha vì lúc đó cô đang ra sức thuyết phục đạo diễn cho mình thủ vai Eva Peron trong bộ phim Evita. Xem xong video, nhiều nhà bảo vệ động vật đã bất bình khi các con bò tót đã bị lạm dụng quá mức, thậm chí còn bị đả thương.[1]

Lấy video này làm cảm hứng cho video "SexyBack" của mình, nam ca sĩ nhạc pop Justin Timberlake nhận xét: "Tôi rất thích video "Take a Bow" của Madge. Trong các video khác, Madge hiện lên với hình ảnh của một phụ nữ sôi nổi, cứng rắn. Thế nhưng trong "Take a Bow", trông chị ấy thật yếu đuối và dịu dàng".[2]

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"Creep" bởi TLC
Đĩa đơn quán quân tại Mỹ
25 tháng 2 năm 1995 - 8 tháng 4 năm 1995
Kế nhiệm:
"This Is How We Do It" bởi Montell Jordan

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Madonna as Postmodern Myth. McFarland. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2014. 
  2. ^ Vineyard, Jennifer (ngày 6 tháng 7 năm 2006). 'Back' In Style: Justin Timberlake Mixes Funk, Rock On New Single”. MTV News. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  3. ^ “Madonna”. Truy cập 28 tháng 9 năm 2015. 
  4. ^ a ă â b c d đ “Madonna — Take a Bow (European Charts)”. hitparade.ch. 1994. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  5. ^ “Radio 2 top 30”. 
  6. ^ “Top Singles – Volume 61, No. 5, ngày 6 tháng 3 năm 1995”. RPM. Ngày 6 tháng 3 năm 1995. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012. 
  7. ^ “Top40 week 2 van 1995 (14-01-1995)”. Dutch Top 40. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012. 
  8. ^ Charts-Surfer (1995). “German Singles Chart (Search)”. charts-surfer.de. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  9. ^ “Irish Singles Chart (Search)”. Irish Singles Chart. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  10. ^ “Madonna – Take a Bow” (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  11. ^ "18 tháng 12 năm 1994 Archive Chart". Scottish Singles Top 40. Official Charts Company. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  12. ^ Every Hit (1995). “UK Singles Chart (Search)”. everyhit.com. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  13. ^ a ă â “Billboard Charts”. AllMusic. 1995. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2008. 
  14. ^ “Madonna Chart History: Adult Pop Songs”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  15. ^ “Madonna Chart History: Pop Songs”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  16. ^ “Madonna Chart History: Rhythmic Songs”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  17. ^ “I singoli più venduti del 1994”. Hit Parade Italia. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2012. 
  18. ^ “RPM's Top 100 Singles Of 1995”. RPM. RPM Music Publications Ltd. Ngày 18 tháng 12 năm 1995. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2010. 
  19. ^ “Top 100 Single-Jahrescharts”. GfK Entertainment (bằng tiếng German). offiziellecharts.de. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2015. 
  20. ^ “Swiss Year-End Charts 1995”. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2011. 
  21. ^ “Billboard Top 100 – 1995”. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2010. 
  22. ^ Geoff Mayfield (ngày 25 tháng 12 năm 1999). 1999 The Year in Music Totally '90s: Diary of a Decade – The listing of Top Pop Albums of the '90s & Hot 100 Singles of the '90s. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  23. ^ “American single certifications – Madonna – Take a Bow” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  24. ^ Best-Selling Records of 1995. Billboard Magazine. Ngày 20 tháng 1 năm 1996. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]