Like a Prayer (bài hát)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Like a Prayer"
Đĩa đơn của Madonna
từ album Like a Prayer
Mặt B "Act of Contrition"
Phát hành 3 tháng 3, 1989 (1989-03-03)
Định dạng
Thu âm
Thể loại Pop rock
Thời lượng 5:41
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất
  • Madonna
  • Patrick Leonard
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Spotlight"
(1988)
"Like a Prayer"
(1989)
"Express Yourself"
(1989)

"Like a Prayer" là một bài hát của ca sĩ người Mỹ Madonna nằm trong album phòng thu thứ 4 cùng tên của cô (1989). Nó được phát hành vào ngày 3 tháng 3 năm 1989 như là đĩa đơn đầu tiên trích từ album bởi Sire Records. Được sáng tác và sản xuất bởi Madonna và Patrick Leonard, bài hát thể hiện tư tưởng nghệ thuật và cá nhân trong sáng tác của cô, cũng như mong muốn tiếp cận những đối tượng nghe nhạc trưởng thành.

"Like a Prayer" là một bản pop rock với những yếu tố của nhạc phúc âm. Một dàn hợp xướng cũng tham gia góp giọng nền làm nổi bật giá trị tinh thần của bài hát, và tiếng đàn guitar rock mang tích chất ưu tối và huyền bí. Theo tiết lộ của Madonna, nội dung bài hát được lấy cảm hứng từ Công giáo. Nó có ý nghĩa ám chỉ kép về tình dục và tôn giáo. "Like a Prayer" nhận được nhiều lời tán dương từ các phê bình âm nhạc, và là một thành công thương mại. Đây là đĩa đơn quán quân thứ 7 của Madonna trên Billboard Hot 100, và đứng đầu các bảng xếp hạng tại Úc, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Ireland, Ý, New Zealand, Na Uy, Thụy Điển, Anh và nhiều nước khác.

Video âm nhạc của "Like a Prayer" do Mary Lambert làm đạo diễn, trong đó Madonna được mời làm nhân chứng bởi "Hội những người ủng hộ thuyết cho rằng người da trắng là ưu việt" cho một vụ án giết chết cô gái da trắng. Ở đó, một người đàn ông da màu bị cáo buộc giết người, và Madonna trốn trong một nhà thờ cầu nguyện để có đủ dũng khí làm nhân chứng. Đoạn video mô tả nhiều biểu tượng Công giáo như dấu Thánh, cây thánh giá bị đốt cháy và giấc mơ về việc yêu đương với một vị thánh da màu. Sau khi phát hành, Tòa Thánh Vatican đã lên án chỉ trích video kịch liệt, trong khi nhiều nhóm người xem và tổ chức tôn giáo phản đối việc phát sóng nó. Họ cũng quyết định tẩy chay sản phẩm nước giải khát của hãng Pepsi, vì sử dụng bài hát với mục đích quảng cáo. Tai tiếng này khiến hợp đồng giữa Madonna với Pepsi bị hủy bỏ, và cô vẫn được phép nhận tiền đền bù hợp đồng.

Madonna đã trình diễn bài hát trong 4 chuyến lưu diễn lớn của mình, gần nhất là tại The MDNA Tour (2012). "Like a Prayer" đã được hát lại bởi rất nhiều nghệ sĩ. Bài hát gây sự chú ý lớn bởi những lùm xùm xung quanh video của nó, dẫn đến nhiều cuộc thảo luận giữa các học giả phim ảnh và âm nhạc về sau. Cùng với album cùng tên, "Like a Prayer" đánh dấu một bước ngoặt lớn trong sự nghiệp của Madonna, khi cô bắt đầu được nhìn nhận là một nữ doanh nhân thành công. Bài hát đứng vị trí thứ 300 trong danh sách "500 bài hát hay nhất mọi thời đại" của tạp chí âm nhạc Rolling Stone.

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"She Drives Me Crazy" của Fine Young Cannibals
Đĩa đơn quán quân tại Mỹ
22 tháng 4, 1989 - 6 tháng 5, 1989
Kế nhiệm:
"I'll Be There for You" của Bon Jovi
Tiền nhiệm:
"Too Many Broken Hearts" của Jason Donovan
Đĩa đơn quán quân tại Liên hiệp Anh
19 tháng 3, 1989 - 2 tháng 4, 1989
Kế nhiệm:
"Eternal Flame" của The Bangles
Tiền nhiệm:
"Something's Gotten Hold of My Heart" của Marc Almond & Gene Pitney
Đĩa đơn quán quân tại châu Âu
25 tháng 3, 1989 - 10 tháng 6, 1989
Kế nhiệm:
"The Look" của Roxette
Tiền nhiệm:
"She Drives Me Crazy" của Fine Young Cannibals
Đĩa đơn quán quân tại New Zealand
7 tháng 4, 1989 - 14 tháng 4, 1989
Kế nhiệm:
"Wild Thing" của Tone Loc

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[32] Bạch kim 70.000^
Pháp (SNEP)[33] Bạc 478,000[34]
Đức (BVMI)[35] Vàng 250.000^
Hà Lan (NVPI)[27] Bạch kim 100.000^
Tây Ban Nha (PROMUSICAE)[18] Vàng 25,000^
Thụy Điển (GLF)[36] Bạch kim 50.000x
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[37] Vàng 25.000x
Anh (BPI)[38] Vàng 593,300[39]
Hoa Kỳ (RIAA)[40] Bạch kim 1.000.000^

^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Like a Prayer (US 7-inch Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1989. PROMO 348. 
  2. ^ Like a Prayer (Japanese 3-inch Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1989. 10SW-21. 
  3. ^ Like a Prayer (US 12-inch Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1989. 124790. 
  4. ^ Like a Prayer (UK 12-inch Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1989. 5441. 
  5. ^ Remixed Prayers -mini album- (Japanese CD Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1989. 09P3-6147. 
  6. ^ “Madonna – Like a Prayer (Song)”. Australian Recording Industry Association. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2010. 
  7. ^ a ă â b c “Madonna – Like a Prayer (song)”. Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  8. ^ “Madonna – Like a Prayer – Song details” (bằng tiếng Dutch). VRT Top 30. Ngày 18 tháng 3 năm 1989. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2010. 
  9. ^ “Top Singles – Volume 50, No. 1, ngày 1 tháng 5 năm 1989”. RPM. RPM Library Archives. Ngày 1 tháng 5 năm 1989. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  10. ^ “De Netherlandse Top 40: 1989, Week 13” (bằng tiếng Dutch). MegaCharts. Radio 538. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  11. ^ a ă “Hits of the World: European Hot 100 Singles”. Billboard 98 (10): 57. Ngày 28 tháng 3 năm 1989. ISSN 0006-2510. 
  12. ^ “Hits of the World: European Hot 100 Singles”. Billboard 98 (23): 67. Ngày 21 tháng 5 năm 1989. ISSN 0006-2510. 
  13. ^ Nyman, Jake (2005). Suomi soi 4: Suuri suomalainen listakirja (bằng tiếng Finnish) (ấn bản 1). Helsinki: Tammi. ISBN 951-31-2503-3. 
  14. ^ “Chartverfulgong > Madonna > Like a Prayer” (bằng tiếng German). Media Control Charts. Musicline.de. Ngày 17 tháng 4 năm 1989. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  15. ^ “The Irish Charts – All there is to know”. Irish Recorded Music Association. Ngày 15 tháng 3 năm 1989. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  16. ^ “Madonna – Like a Prayer” (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  17. ^ “Madonna – Like a Prayer (song)”. Recording Industry Association of New Zealand. Hung Medien. Ngày 24 tháng 3 năm 1989. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2011. 
  18. ^ a ă Salaverri, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 
  19. ^ “Archive Chart – Singles ngày 25 tháng 3 năm 1989”. The Official Charts Company. Ngày 25 tháng 3 năm 1989. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  20. ^ “The Billboard Hot 100: Week Ending ngày 22 tháng 4 năm 1989”. Billboard. Ngày 22 tháng 4 năm 1989. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  21. ^ “Hot Adult Contemporary: Week Ending ngày 13 tháng 5 năm 1989”. Billboard. Ngày 13 tháng 5 năm 1989. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  22. ^ “Hot Dance Music/Club Play: Week Ending ngày 22 tháng 4 năm 1989”. Billboard. Ngày 22 tháng 4 năm 1989. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  23. ^ Billboard – Madonna – Like a Prayer”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2011. 
  24. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 50 Singles 1989”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2011. 
  25. ^ “Alle Rechte Jahreshitparade 1989” (bằng tiếng Dutch). Ö3 Austria Top 40. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  26. ^ “Top 100 Singles of '89”. RPM. RPM Library Archives. Ngày 23 tháng 12 năm 1989. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2011. 
  27. ^ a ă “De Single Top 100 1989 Over” (PDF) (bằng tiếng Dutch). Radio 538. MegaCharts. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2011. 
  28. ^ a ă â “Billboard Year-end Charts”. Billboard 93 (46): 13. Ngày 21 tháng 12 năm 1989. ISSN 0006-2510. 
  29. ^ “Top Annuali Single: 1989” (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  30. ^ “Schweizer Jahreshitparade 1989” (bằng tiếng German). Swiss Music Charts. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2011. 
  31. ^ Myers, Justin (ngày 21 tháng 3 năm 2014). “Official Charts Flashback 1989: Madonna – Like A Prayer”. Official Charts Company. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2014. 
  32. ^ Kent 1993, tr. 230
  33. ^ “France single certifications – Madonna – Like a Prayer” (bằng tiếng Pháp). InfoDisc. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013.  Chọn Madonna và nhấn OK
  34. ^ “Les Singles en Argent:” (bằng tiếng French). Infodisc.fr. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 
  35. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Madonna; 'Like a Prayer')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 
  36. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 1987−1998” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 
  37. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Madonna; 'Like a Prayer')”. Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 
  38. ^ “Britain single certifications – Madonna – Like a Prayer” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013.  Nhập Like a Prayer vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Single trong khung By Format. Nhấn Search
  39. ^ Myers, Justin (ngày 7 tháng 3 năm 2015). “Madonna’s Official Top 40 Biggest Selling Singles”. Official Charts Company. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  40. ^ “American single certifications – Madonna – Like a Prayer” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]