Live to Tell

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Live to Tell"
Đĩa đơn của Madonna
từ album True Blue
Phát hành 26 tháng 3 năm 1986
Định dạng
Thu âm 1985
Thể loại Pop
Thời lượng 5:52
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất
  • Madonna
  • Patrick Leonard
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Gambler"
(1985)
"Live to Tell"
(1986)
"Papa Don't Preach"
(1986)

"Live to Tell" là một bản pop ballad của ca sĩ người Mỹ Madonna. Ban đầu được sáng tác bởi Patrick Leonard cho bộ phim Fire with Fire, ông quyết định giao cho Madonna thể hiện, người sau này đã sử dụng nó cho bộ phim thủ vai chính bởi người chồng sau đó của cô Sean Penn - At Close Range. Nó được sản xuất bởi Leonard và Madonna cho album phòng thu thứ ba của cô True Blue (1986), và sau đó còn xuất hiện dưới dạng phối lại trong album tổng hợp The Immaculate Collection (1990), cũng như bản gốc trong tuyển tập ballad Something to Remember (1995) và tuyển tập hit Celebration (2009).

Nội dung bài hát nói về sự lừa dối, sự thiếu tin cậy và tuổi thơ nhiều tổn thương. Madonna tiết lộ trong một bài phỏng vấn rằng cô đã suy nghĩ về mối quan hệ giữa cô với cha mẹ của mình, khi viết lời bài hát. Video ca nhạc của "Live to Tell", do James Foley làm đạo diễn, cho thấy một diện mạo mới của Madonna, với chất giọng đặc biệt cùng mái tóc vàng gợn sóng, kết hợp trang phục kín đáo và trang điểm tinh tế. Hình ảnh này khiến nhiều người liên tưởng đến nữ minh tinh màn bạc Marilyn Monroe.

Phát hành làm đĩa đơn đầu tiên trích từ album vào ngày 26 tháng 3 năm 1986, bài hát là một thành công thương mại. Đây là đĩa đơn quán quân thứ ba của Madonna trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, và đầu tiên trên Billboard Adult Contemporary. "Live to Tell" nhận được nhiều phản ứng tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc đương đại, trong đó họ thường gọi nó là bản ballad hay nhất trong sự nghiệp của cô. Bài hát phải đối mặt với nhiều tranh cãi khi Madonna biểu diễn nó tại Confessions Tour (2006) với một chiếc vương miện gai và treo trên một cây thánh giá lớn. Việc trình diễn nó tại Sân vận động OlimpicoRome đã bị lên án bởi các nhà lãnh đạo tôn giáo như là một hành động thù địch với Giáo hội Công giáo Rôma.[1]

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

"Live to Tell" được sử dụng trong suốt cảnh cuối của chương trình TV Cold Case tập Churchgoing People vì lời bài hát rất hợp với nội dung tập phim. Câu chuyện trong tập phim này là một phụ nữ mắc chứng tâm thần đã giết người chồng sau khi biết ông ta ngoại tình. Sau đó bà bắt con trai của mình, nhân chứng duy nhất của vụ án giữ bị mật cho tới khi sự thật được sáng tỏ.

Nhiều nhà phê bình và người hâm mộ đã cho rằng bài hát này đánh một dấu mốc trong sự nghiệp Madonna. "Live to Tell" là bản ballad thứ 2 được phát hành dưới dạng đĩa đơn của Madonna, sau "Crazy for You". Không giống với bài hát trước đó là một tình ca, "Live to Tell" lại là một sự suy tư trầm ngâm và tập trung sức mạnh để đối mặt với một biến cố lớn trong cuộc đời. Sau hơn 20 năm ra đời, bài hát này vẫn đứng vững trong lòng người hâm mộ và được coi là một trong những bản ballad hay nhất của Madonna.

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo diễn bởi James Foley, cũng là người đạo diễn bộ phim At Close Range. Trong video clip, Madonna để tóc màu vàng xõa ngang vai, mặc một chiếc váy kín đáo, ngồi trên một chiếc ghế trong một khoảng không gian tối gần như không có ánh sáng. Trông Madonna có phần giản dị và suy tư, khác với hình ảnh năng động có phần nổi loạn của cô trong các video trước như "Lucky Star", "Like a Virgin" hay "Material Girl".

Danh sách bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"Greatest Love of All" của Whitney Houston
Đĩa đơn quán quân tại Mỹ
7 tháng 6 năm 1986
Kế nhiệm:
"On My Own" của Patti LaBelleMichael McDonald

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Madonna's Rome show crosses religious leaders”. CBC News (Canadian Broadcasting Corporation). Ngày 7 tháng 8 năm 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2007. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2009. 
  2. ^ Live to Tell (US 7-inch Single liner notes). Madonna. Sire Records. 1986. 9 28717-7. 
  3. ^ a ă Kent, David (1993). Australian Chart Book 1970–1992. Australian Chart Book, St Ives, N.S.W. ISBN 0-646-11917-6. 
  4. ^ "Ultratop.be - Madonna - Live to Tell" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  5. ^ "Top RPM Singles: Issue 0676." RPM. Library and Archives Canada. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  6. ^ “Europarade”. Hitkrant (bằng tiếng Hà Lan) (Amsterdam: Nationale Hitkrant Productions) 10 (27). Ngày 7 tháng 6 năm 1986. ISSN 0165-4942. 
  7. ^ "Lescharts.com - Madonna - Live to Tell" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  8. ^ "Madonna - Live to Tell". Charts.de (bằng tiếng Đức). Media Control. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  9. ^ "The Irish Charts – Search Results – Live to Tell". Irish Singles Chart. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  10. ^ “Madonna: Live to Tell” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  11. ^ "Nederlandse Top 40 - Madonna search results" (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40. Stichting Nederlandse Top 40. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  12. ^ "Dutchcharts.nl - Madonna - Live to Tell" (bằng tiếng Hà Lan). Mega Single Top 100. Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  13. ^ "Charts.org.nz - Madonna - Live to Tell". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  14. ^ "Norwegiancharts.com - Madonna - Live to Tell". VG-lista. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  15. ^ "Swedishcharts.com - Madonna - Live to Tell". Singles Top 60. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  16. ^ "Madonna - Live to Tell swisscharts.com". Swiss Singles Chart. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  17. ^ "Madonna: Artist Chart History" UK Singles Chart. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  18. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Hot 100 của Madonna. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  19. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Adult Contemporary của Madonna. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.
  20. ^ “The Top Singles of '86”. RPM. RPM Music Publications Ltd. Ngày 27 tháng 12 năm 1986. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2009. 
  21. ^ “Top Annuali Singles: 1986” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  22. ^ “Dutch Year End Single Top 100 1986” (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 100. Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  23. ^ “Swiss Year-End Charts 1986” (bằng tiếng Đức). Swiss Music Charts. Hung Medien. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2011. 
  24. ^ “Top Pop Singles 1986”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 31 tháng 12 năm 1986. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011. 
  25. ^ “Top Adult Contemporary Singles of 1986”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Ngày 31 tháng 12 năm 1986. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 19 tháng 7 năm 2011. 
  26. ^ “France single certifications – Madonna – Live to Tell” (bằng tiếng Pháp). InfoDisc. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.  Chọn Madonna và nhấn OK
  27. ^ “Britain single certifications – Madonna – Live to Tell” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2014.  Nhập Live to Tell vào ô Keywords. Chọn Title trong khung Search by. Chọn Single trong khung By Format. Nhấn Search
  28. ^ “Madonna: The Official Top 40”. MTV News. MTV Networks. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2010. 

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]