Don't Tell Me (bài hát của Madonna)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Don't Tell Me"
Đĩa đơn của Madonna
từ album Music
Mặt B "Cyber-Raga"
Phát hành 21 tháng 11, 2000[1]
Định dạng CD, maxi, cassette, 7", 12"
Thu âm 2000
Thể loại
Thời lượng 4:40
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất
  • Madonna
  • Mirwais Ahmadzaï
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Music"
(2000)
"Don't Tell Me"
(2000)
"What It Feels Like for a Girl"
(2001)

"Don't Tell Me" là một bài hát của ca sĩ người Mỹ Madonna nằm trong album phòng thu thứ 8 của cô Music (2000). Nó được sáng tác và sản xuất bởi Madonna và Mirwais Ahmadzaï, trong khi Joe Henry hỗ trợ viết lời. "Don't Tell Me" là một bản nhạc danceđồng quê, với sự kết hợp những giai điệu của trip hopfolk. Nó được phát hành như là đĩa đơn thứ hai trích từ album vào ngày 21 tháng 11 năm 2000 bởi Maverick Records. Bài hát cũng được đưa vào nhiều album tổng hợp như GHV2 (2001) và Celebration (2009).

"Don't Tell Me" nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình đương đại, trong đó họ gọi đây là bài hát nổi bật trong album cũng như ca ngợi giọng hát "có hồn" của cô. Madonna cũng nhận nhiều sự so sánh với Sheryl Crow. Đây là một thành công thương mại, khi đạt vị trí số một ở Canada và New Zealand, và lọt vào top 10 ở nhiều nơi như Ý, Na Uy, Tây Ban Nha và Vương quốc Anh. Tại Mỹ, nó đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot Dance Club Songs và lọt vào top 5 trên Billboard Hot 100, thành tích này giúp cô ngang bằng với The Beatles và chỉ đứng sau Elvis Presley trong danh sách nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn top 10 và đạt chứng nhận Vàng nhất lịch sử bảng xếp hạng Billboard. Tính đến nay, "Don't Tell Me" đã bán được 4.5 triệu bản trên toàn thế giới.

Video ca nhạc của "Don't Tell Me" được đạo diễn bởi Jean-Baptiste Mondino, trong đó Madonna hóa thân thành một nữ cao bồi, nhảy múa và chơi trên cát với màn hình chạy phía sau. Nó nhận được hai đề cử tại Giải Video âm nhạc của MTV năm 2001, cũng như đề cử giải Grammy cho Video hình thái ngắn xuất sắc nhất. Madonna biểu diễn "Don't Tell Me" trong chuyến lưu diễn Drowned World Tour (2001) và the Re-Invention World Tour (2004), và trong bản mashup với bài hát của Miley Cyrus "We Can't Stop" khi Madonna xuất hiện trong chương trình MTV Unplugged đặc biệt của Cyrus. Sau khi phát hành, nó đã được hát lại hoặc lấy làm đoạn mẫu tham khảo bởi nhiều nghệ sĩ.

Dạng đĩa & các track[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách phiên bản[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2000–01) Vị trí
cao nhất
Úc (ARIA)[15] 7
Áo (Ö3 Austria Top 40)[16] 12
Bỉ (Ultratop 50 Flanders)[17] 27
Bỉ (Ultratop 50 Wallonia)[16] 15
Canada (Nielsen SoundScan)[18] 1
Đan Mạch (Tracklisten)[19] 15
Eurochart Hot 100 Singles[20] 2
Phần Lan (Suomen virallinen lista)[21] 3
Pháp (SNEP)[22] 16
Đức (Media Control AG)[23] 22
Ireland (IRMA)[24] 15
Ý (FIMI)[25] 2
Hà Lan (Mega Single Top 100)[26] 26
New Zealand (RIANZ)[27] 1
Na Uy (VG-lista)[28] 5
Scotland (Official Charts Company)[29] 5
Spanish Singles Chart[30] 2
Thụy Điển (Sverigetopplistan)[31] 12
Thụy Sĩ (Media Control AG)[23] 10
Anh Quốc (Official Charts Company)[32] 4
Hoa Kỳ Billboard Hot 100[33] 4
Hoa Kỳ Adult Top 40 (Billboard)[34] 4
Hoa Kỳ Dance Club Songs (Billboard)[35] 1
Hoa Kỳ Pop Songs (Billboard)[36] 4

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (2001) Vị trí
Australia ARIA Singles Chart [37] 78
Italian Singles Chart[38] 13
Swiss Singles Chart [39] 89
U.S.Billboard Hot 100[40] 34

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[41] Bạch kim 70.000^
Pháp (SNEP)[42] Bạc 125.000*
Hoa Kỳ (RIAA)[43] Vàng 500,000[44]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Don't Tell Me | Allmusic”. AllMusic. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2014. 
  2. ^ Madonna – Don't Tell Me
  3. ^ Madonna – Don't Tell Me
  4. ^ Madonna – Don't Tell Me
  5. ^ Madonna – Don't Tell Me
  6. ^ Madonna – Don't Tell Me
  7. ^ Madonna – Don't Tell Me
  8. ^ Madonna – Don't Tell Me
  9. ^ Madonna – Don't Tell Me
  10. ^ Madonna – Don't Tell Me
  11. ^ Madonna – Don't Tell Me
  12. ^ Madonna – Don't Tell Me (CD 2)
  13. ^ Madonna – Don't Tell Me (Remixes)
  14. ^ Madonna – Don't Tell Me (The Remixes)
  15. ^ "Australian-charts.com - Madonna - Don't Tell Me". ARIA Top 50 Singles. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  16. ^ a ă "Madonna - Don't Tell Me Austriancharts.at" (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “aut” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  17. ^ "Ultratop.be - Madonna - Don't Tell Me" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  18. ^ “Music - Madonna | Allmusic”. AllMusic. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  19. ^ "Danishcharts.com - Madonna - Don't Tell Me". Tracklisten. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  20. ^ “Hits of the World Continued”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc.) 112 (52): 41. Ngày 23 tháng 12 năm 2000. ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  21. ^ "Finnishcharts.com - Madonna - Don't Tell Me". Suomen virallinen lista. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  22. ^ "Lescharts.com - Madonna - Don't Tell Me" (bằng tiếng Pháp). Les classement single. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  23. ^ a ă "Musicline.de - Chartverfolgung - Madonna - Don't Tell Me" (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. PhonoNet GmbH. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “german” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  24. ^ "Chart Track". Irish Singles Chart. GfK. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2011.
  25. ^ "Italiancharts.com - Madonna - Don't Tell Me". Top Digital Download. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  26. ^ "Dutchcharts.nl - Madonna - Don't Tell Me" (bằng tiếng Hà Lan). Mega Single Top 100. Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  27. ^ "Charts.org.nz - Madonna - Don't Tell Me". Top 40 Singles. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  28. ^ "Norwegiancharts.com - Madonna - Don't Tell Me". VG-lista. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  29. ^ "3 tháng 12 năm 2000 Archive Chart". Scottish Singles Top 40. Official Charts Company. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  30. ^ Salaverri, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 
  31. ^ "Swedishcharts.com - Madonna - Don't Tell Me". Singles Top 60. Hung Medien. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  32. ^ "Madonna: Artist Chart History" UK Singles Chart. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  33. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Hot 100 của Madonna. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  34. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Adult Pop Songs của Madonna.
  35. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Dance Club Songs của Madonna. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  36. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Pop Songs của Madonna. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014.
  37. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Singles 2001”. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  38. ^ “I singoli più venduti del 2000” (bằng tiếng Italian). Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012. 
  39. ^ “Swiss Year”. Truy cập 4 tháng 10 năm 2015. 
  40. ^ “Billboard Top 100 – 2001”. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2011. 
  41. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 1998 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. 
  42. ^ “France single certifications – Madonna – Les Ventes & Les Certifications:” (bằng tiếng Pháp). InfoDisc. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012.  Chọn Madonna và nhấn OK
  43. ^ “American single certifications – Madonna – Don't Tell Me” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2014.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  44. ^ “Madonna on RIAA (Recording Industry Association of America)”. RIAA. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]