Hung Up

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
"Hung Up"
Đĩa đơn của Madonna
từ album Confessions on a Dance Floor
Phát hành17 tháng 10 năm 2005
Định dạngNhạc số, đĩa CD
Thu âm2005
Thể loạiDance-pop, house, disco
Thời lượng5:36 (phiên bản album)
3:22 (phiên bản radio)
Hãng đĩaWarner Bros.
Sáng tácMadonna, Stuart Price
Sản xuấtMadonna, Stuart Price
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Love Profusion"
(2004)
"Hung Up"
(2005)
"Sorry"
(2006)

"Hung Up" là một ca khúc của nữ ca sĩ nhạc pop người Mỹ Madonna, do cô đồng sáng tác và sản xuất với Stuart Price cho album phòng thu thứ 10 mang tên Confessions on a Dance Floor. Lúc đầu, ca khúc này được sử dụng trong một vài quảng cáo và sê-ri trên truyền hình, sau được phát hành làm đĩa đơn mở đầu cho album vào ngày 17 tháng 10 năm 2005. "Hung Up" có chứa một đoạn nhạc vốn là đoạn dạo của ca khúc "Gimme! Gimme! Gimme! (A Man After Midnight)" của ban nhạc Thụy Điển ABBA, do vậy Madonna phải trông chờ sự cho phép sử dụng đoạn nhạc từ hai nhạc sĩ của nhóm là Benny AnderssonBjorn Ulvaeus. "Hung Up" trở thành đĩa đơn đầu tiên của Madonna được phát hành trên iTunes. Về khía cạnh âm nhạc, bài hát chịu ảnh hưởng bởi dòng nhạc pop từ thập niên 1980, với phần nhạc nền mang âm thanh của một chiếc đồng hồ đang kêu tích tắc, gợi ra nỗi lo sợ thời gian trôi qua một cách uổng phí. Về ca từ, ca khúc được sang tác theo khuôn mẫu một bản nhạc dance truyền thống nói về một phụ nữ mạnh mẽ và độc lập nhưng đang phải đối mặt với khó khăn trong những mối quan hệ của mình.

Giới chuyên môn đánh giá cao "Hung Up", họ cho rằng bài hát này sẽ giúp Madonna lấy lại được sự nổi tiếng của mình vốn trước đó đã giảm sút theo sau sự phát hành album American Life vào năm 2003. Các nhà phê bình âm nhạc cũng đánh giá đây là bản nhạc dance hay nhất của cô cho tới nay và đưa ra lời so sánh tích cực với một vài ca khúc khác cùng thể loại của cô. Họ cũng khen ngợi sự động bộ hóa rất hiệu quả giữa đoạn nhạc gốc của ABBA với đoạn mới trong "Hung Up". Ca khúc thu được thành công thương mại trên khắp thế giới, đứng đầu bảng xếp hạng của hơn 45 quốc gia, nhờ đó được đưa vào sách Kỷ lục Guinness.[1] Riêng tại Mỹ, "Hung Up" trở thành ca khúc thứ 36 của Madonna lọt vào tốp 10 bảng xếp hạng Billboard Hot 100, một kỷ lục giúp cô ngang hàng với Elvis Presley nhưng sau đó bị chính cô phá vỡ với ca khúc "4 Minutes" năm 2008.[2]

Madonna biểu diễn "Hung Up" trong nhiều lần xuất hiện của cô, trong đó có hai chuyến lưu diễn gần đây là Confessions năm 2006 và Sticky & Sweet năm 2008. Video ca nhạc của ca khúc được dàn dựng nhằm tôn vinh dancing và nam diễn viên John Travolta cùng các bộ phim của ông. Đạo diễn bởi Johan Renck, video clip bắt đầu với cảnh Madonna khoác lên mình một bộ nịt màu hồng rồi nhảy múa một mình trong một phòng múa ba-lê và tại một cảnh khác, cô tới một cửa hàng game nơi cô nhảy cùng cả một vũ đoàn. Điểm xuyết trong video còn có vài cảnh một số vũ công trình diễn kỹ năng nhảy của mình, trong đó có một khu dân cư của người da đen tại Los Angeles, một nhà hàng nhỏ và tại tàu điện ngầm London.

Tổng quan và phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

"Hung Up" được lấy cảm hứng từ dòng nhạc disco trong thập niên 1970, nổi bật trong đó là nhạc của ABBA, Giorgio Moroder và bộ phim Saturday Night Fever (1977).[3] Madonna tưởng tượng ca khúc của cô là một sự giao thoa giữa loại nhạc hay được chơi tại Danceteria, một hộp đêm ở thành phố New York nơi cô thường lui tới trong những ngày đầu, và âm nhạc của ABBA.[4] Ca khúc "Gimme! Gimme! Gimme! (A Man After Midnight)" năm 1979 của họ đặt nền tảng cơ bản cho Madonna và Price khi sáng tác "Hung Up". Hai nhạc sĩ của ABBA là Benny Andersson and và Björn Ulvaeus thường không cho phép bất kỳ ai mượn bất cứ bài hát nào của họ, một ngoại lệ duy nhất là The Fugees, ban nhạc đã mượn ca khúc "The Name of the Game" cho đĩa đơn "Rumble in the Jungle".[5] Để nhận được sự cho phép mượn đoạn dạo của bài "Gimme! Gimme! Gimme!", Madonna phải gửi người đại diện của mình tới Stockholm với một lá thư cầu cạnh ABBA đồng ý cho cô mượn nhạc của họ và cũng để bày tỏ cô yêu âm nhạc của họ nhiều như thế nào.[5] Cô giải thích với BBC, "Họ không bao giờ để bất kỳ ai mượn nhạc của mình. Ơn Chúa họ không nói "không". [...] Họ phải nghĩ về điều này, Benny and Björn. Họ nói "có" ngay lập tức đâu".[5] Hai nhạc sĩ của ABBA đồng ý cho phép Madonna mượn nhạc của họ sau khi đạt được một thỏa thuận về bản quyền cho phép họ có được một lượng cổ phiếu lớn về tiền bản quyền tác giả từ doanh số sau này và tần suất phát sóng của ca khúc mới trên sóng phát thanh.[6] Trong một cược phỏng vấn với The Daily Telegraph trong tháng 10 năm 2005, Andersson nhấn mạnh "Gimme! Gimme! Gimme!" là cốt lõi của "Hung Up" và nói đùa rằng đây là ca khúc của Madonna mà ông ưa thích cho tới bây giờ.[6] Ông cũng nói thêm rằng:

"Chúng tôi có rất nhiều lời đề nghị từ phía các nghệ sĩ muốn được sử dụng ca khúc của ABBA nhưng thường thì chúng tôi nói "không". Đây mới chỉ là lần thứ hai chúng tôi cho phép. Lần này chúng tôi nói "có" sở dĩ vì rất ngưỡng mộ Madonna và vẫn luôn như vậy. Cô ấy rất có chí và đã nổi bật được 21 năm. Điều này đâu có bất lợi."[6]

"Hung Up" được ra mắt trong tháng 9 năm 2005 trong một quảng cáo trên truyền hình cho chiếc điện thoại ROKR tương thích với iTunes của Motorola. Trong quảng cáo này, Madonna và các nghệ sĩ khác chen chúc nhau trong một bốt điện thoại.[7] Ngày 17 tháng 10 năm 2005, ca khúc chính thức được ra mắt trong một cuộc trò chuyện trực tiếp dài 10 phút trên sóng phát thanh giữa Ryan Seacrest và Madonna. Ca khúc cũng được nhiều nhà cung cấp dịch vụ điện thoại sử dụng làm nhạc chuông thịnh hành (master ringtone).[7] Bài hát được dùng trong các tập phim của sê-ri truyền hình CSI: MiamiCSI: NY (một phần của CSI: Crime Scene Investigation, tạm dịch: Điều tra hiện trường tội ác) vào ngày 7 và 9 tháng 11 năm 2005.[7] Trong khi quảng cáo cho album mới Confessions on a Dance Floor, Madonna bật cả ca khúc "Hung Up" và đĩa đơn tiếp theo "Sorry" tại các câu lạc bộ đêm khắp New York, nơi cô đóng vai một DJ phối khí lại hai bài hát.[8] Về quyết định của mình về việc phát hành ca khúc mới trên iTunes, Madonna nói:

"Tôi là một nữ doanh nhân. Ngành công nghiệp âm nhạc đã đổi thay. Có đầy rẫy sự cạnh tranh và thị trường tràn ngập bởi các ấn phẩm mới - cái này mới cái kia mới. Anh phải tham gia lực lượng với những công ty và nhãn hiệu khác. Nếu không làm như vậy thì anh là một thằng đần."[9]

Video ca nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Madonna trong một cảnh quay của Hung up.

Video clip của "Hung Up" được đạo diễn bởi Johan Renck và được quay từ ngày 7 đến 9 tháng 10 năm 2005 tại trung tâm Trocadero, tàu điện ngầm, phố Great Guldford và khu người Hoa tại London, Anh. Trong video này, Madonna đã thực hiện nhiều điệu nhảy điêu luyện và đẹp mắt, mặc dù cô vừa bị gãy mấy chiếc xương sau cú ngã ngựa vài tuần trước đó. Madonna nói: " Khi tôi quay video này, chẳng chiếc xương nào ăn nhập với nhau cả. Nhiều khi chúng làm tôi cảm thấy đau. Chỉ có mấy bài tập trị liệu, thuốc thang và sự quyết tâm của mình mới giúp tôi hoàn thành tốt công việc."[10]

"Hung Up" được đề cử 5 giải MTV Video Music Awards năm 2006 bao gồm các hạng mục Video của năm,Video của nữ nghệ sĩ, Video pop, Video với vũ đạo đẹp nhất và Video có nghệ thuật bố trí thế nhưng không giành được giải nào[11].

  • Đạo diễn: Johan Renck
  • Sản xuất: Lene Bausager, John Winter
  • Đạo diễn hình: Gosta Reiland
  • Biên tập: Johan Söderberg
  • Công ty sản xuất: Black Dog Films

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm và kế nhiệm xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"And She Said..." bởi Lucas Prata
Đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot Dance Airplay
12 tháng 11 năm 2005 – 31 tháng 12 năm 2005
Kế nhiệm:
"Don't Forget About Us" bởi Mariah Carey
Tiền nhiệm:
"Cool" bởi Gwen Stefani
Đĩa đơn quán quân bảng xếp hạng Billboard Hot Dance Club Play
19 tháng 11 năm 2005 – 10 tháng 12 năm 2005
Kế nhiệm:
"I've Got a Life (It's the Only Thing That's Mine)" bởi Eurythmics
Tiền nhiệm:
"You Raise Me Up" bởi Westlife
Danh sách đĩa đơn quán quân UK Singles Chart của Anh
13 tháng 11 năm 2005 – 27 tháng 11 năm 2005
Kế nhiệm:
"Stickwitu" bởi Pussycat Dolls
Tiền nhiệm:
"Gold Digger" bởi Kanye West hợp tác với Jamie Foxx
Đĩa đơn quán quân tại Úc
13 tháng 11 năm 2005 – 20 tháng 11 năm 2005
Kế nhiệm:
"My Humps" bởi Black Eyed Peas
Tiền nhiệm:
"Alive" bởi Melissa O'Neil
Đĩa đơn quán quân tại Canada (lần một)
3 tháng 12 năm 2005 – 17 tháng 12 năm 2005
Kế nhiệm:
"Alive" bởi Melissa O'Neil
Tiền nhiệm:
"Alive" bởi Melissa O'Neil
Đĩa đơn quán quân tại Canada (lần hai)
31 tháng 12 năm 2005 – 18 tháng 3 năm 2006
Kế nhiệm:
"Everyday Is Exactly the Same" bởi Nine Inch Nails

Doanh số và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[60] Bạch kim 70.000^
Bỉ (BEA)[61] Bạch kim 50.000*
Canada (Music Canada)[62] 2× Bạch kim 160.000^
Pháp (SNEP)[63] Vàng 490,000[64]
Đức (BVMI)[65] 3× Vàng 450.000^
Nhật (RIAJ)[66] Bạch kim 250.000^
Thụy Điển (GLF)[67] 3× Bạch kim 60.000^
Thụy Sĩ (IFPI Switzerland)[68] Vàng 20.000^
Anh (BPI)[69] Bạch kim 600.000^
Hoa Kỳ (RIAA)[70] Bạch kim 1,200,000[71]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Danh sách ca khúc và dạng đĩa[sửa | sửa mã nguồn]

Đội ngũ sản xuất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đồng sáng tác và sản xuất - Madonna, Stuart Price
  • Đồng sáng tác đoạn dạo - Benny Andersson, Björn Ulvaeus
  • Bìa đĩa - Giovanni Bianco
  • Ảnh hóa - Lorenzo Irico (Pixelway NYC)
  • Quản lý - Angela Becker, Guy Oseary
  • Hình - Steven Klein
  • Làm tóc và trang điểm - Andy LeCompte

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Glenday, Craig (2007). Guinness Book of World Records 2007 . Bantam Press. ISBN 055358992X. 
  2. ^ Bronson, Fred (22 tháng 12 năm 2005). “Chart Beat: How They Got to 17”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  3. ^ Garfield, Simon (20 tháng 11 năm 2005). “Looks good on the dancefloor”. The Guardian. Guardian News and Media Limited. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  4. ^ Cinquemani, Sal (4 tháng 11 năm 2005). “Madonna – Confessions on a Dance Floor – Review”. Slant Magazine. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  5. ^ a ă â Bones, Susan (18 tháng 10 năm 2005). “Madonna 'begged' Abba for sample”. BBC. BBC News. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009. 
  6. ^ a ă â Hastings, Chris (16 tháng 10 năm 2005). “Thank you for the music! How Madonna's new single will give Abba their greatest-ever hit”. The Daily Telegraph. Telegraph Media Group. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009. 
  7. ^ a ă â Paoletta, Michael (12 tháng 11 năm 2005). “Dancing Queen”. Billboard (bằng tiếng Anh) (New York: Nielsen Business Media, Inc) 117 (46): 64. ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2009. 
  8. ^ Mason, Kerri (27 tháng 10 năm 2005). “Madonna's Young Remixer”. Billboard (bằng tiếng Anh) (New York City: Nielsen Business Media, Inc) 117 (42): 96. ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  9. ^ Paoletta, Michael (7 tháng 11 năm 2005). “Madonna Confesses”. Billboard. Nielsen Business Media, Inc. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  10. ^ "Madonna no longer ‘Hung Up’ on injury". The State.com (28 tháng 2 năm 2006)
  11. ^ Montgomery, James (31 tháng 7 năm 2006). “Shakira, Chili Peppers, Madonna, Panic! Lead List Of Nominees For MTV Video Music Awards”. MTV. MTV Networks Entertainment Group. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  12. ^ “Australian-charts.com — Madonna — Hung Up (Song)”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  13. ^ a ă â b c d đ e ê g h “Ultratop.be — Madonna – Hung Up (Song)”. Ultratop 50. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  14. ^ a ă â b “allmusic (((Madonna > Charts & Awards > Billboard Singles)))”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009. 
  15. ^ “Radio Top100 Oficiální – Madonna Hung Up”. International Federation of the Phonographic Industry. IFPIcr.cz. Ngày 7 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2009. 
  16. ^ Sexton, Paul (ngày 21 tháng 11 năm 2005). “Madonna Dominates U.K. Charts”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  17. ^ Sexton, Paul (ngày 14 tháng 11 năm 2005). “Madonna, Il Divo Lead U.K. Charts”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  18. ^ “Lescharts.com — Madonna — Hung Up (Song)”. Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  19. ^ “Charts.de — Madonna — Hung Up (Suche)” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  20. ^ “Single (track) Top 10 lista: 2005: 45” (bằng tiếng Hungary). Association of Hungarian Record Companies. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2009. 
  21. ^ “Irish Top 50 Singles, Week Ending ngày 10 tháng 11 năm 2005”. Irish Recorded Music Association. Ngày 10 tháng 11 năm 2005. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  22. ^ “Charts.org.nz — Madonna — Hung Up (Song)”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  23. ^ “Romanian Top 100: ngày 16 tháng 11 năm 2005”. Romanian Top 100. Ngày 16 tháng 11 năm 2005. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2013. 
  24. ^ "13 tháng 11 năm 2005 Archive Chart". Scottish Singles Top 40. Official Charts Company. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2015.
  25. ^ “Madonan — Artist — Official Charts”. Official Charts Company. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  26. ^ Hope, Clover (ngày 24 tháng 11 năm 2005). “Brown's 'Run It!' Holds Pace At No. 1”. Billboard. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2009. 
  27. ^ “Madonna Chart History: Adult Pop Songs”. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2015. 
  28. ^ "Madonna - Chart history" Billboard Adult Contemporary của Madonna. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015.
  29. ^ “Hits Neue Jahrtausend Download” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. RTL Channel. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2010. 
  30. ^ “Chart of the decade”. BBC Online. Radio 1. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2009. 
  31. ^ “Billboard Charts – Decade-end Singles – Dance/Club Play Songs”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  32. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Singles 2005”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  33. ^ “Austrian Year-end singles for 2005” (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2010. 
  34. ^ “Belgian Flanders Year-end singles chart for 2005” (bằng tiếng Đức). Ultratop 50. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010. 
  35. ^ “Belgian Wallonia Year-end singles chart for 2005” (bằng tiếng Pháp). Ultratop 50. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  36. ^ “Jaaroverzichten 2005” (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  37. ^ “French Year-end singles chart for 2005” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  38. ^ “German Year-end singles for 2005” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  39. ^ “Mahasz Rádiós TOP 100 2005” (bằng tiếng Hungary). Association of Hungarian Record Companies. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  40. ^ “Irish Year-end singles chart for 2005”. Irish Recorded Music Association. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  41. ^ “Classifiche annuali 2005 FIMI Nielsen, dominano gli artisti italiani” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  42. ^ “Annual Top 50 Singles Chart 2005”. Recording Industry Association of New Zealand. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  43. ^ “Spanish Singles Chart 2005” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  44. ^ “Årslista Singlar – År 2005” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  45. ^ “Swiss Year-end singles chart for 2005”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  46. ^ “UK Best Selling Singles (1999–2009)” (pdf). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  47. ^ “ARIA Charts – End Of Year Charts – Top 100 Singles 2006”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  48. ^ “Austrian Year-end singles for 2006” (bằng tiếng Đức). Ö3 Austria Top 40. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010. 
  49. ^ “Belgian Flanders Year-end singles chart for 2006” (bằng tiếng Đức). Ultratop 50. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2010. 
  50. ^ “Belgian Wallonia Year-end singles chart for 2006” (bằng tiếng Pháp). Ultratop 50. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  51. ^ “Jaaroverzichten 2006” (bằng tiếng Hà Lan). Dutch Top 40. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  52. ^ “German Year-end singles for 2006” (bằng tiếng Đức). Media Control Charts. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  53. ^ “Mahasz Rádiós TOP 100 2006” (bằng tiếng Hungary). Association of Hungarian Record Companies. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  54. ^ “Classifiche: Charts Annunali 2006 FIMI-AC Nielsen” (bằng tiếng Ý). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2011. 
  55. ^ “Spanish Singles Chart 2006” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  56. ^ “Årslista Singlar – År 2006” (bằng tiếng Thụy Điển). Sverigetopplistan. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  57. ^ “Swiss Year-end singles chart for 2006”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2010. 
  58. ^ “UK Top 100 2006” (archive). UK Charts. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2011. 
  59. ^ “Hot 100 Songs 2006”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 30 tháng 4 năm 2011. 
  60. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2005 singles”. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Úc. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  61. ^ “Ultratop − Goud en Platina – 2006”. Ultratop & Hung Medien / hitparade.ch. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  62. ^ “Canada single certifications – Madonna – Hung Up”. Music Canada. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  63. ^ “France single certifications – Madonna – Hung Up” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  64. ^ “Top 100 des singles les plus vendus du 21ème siècle: le récap!”. Charts in France (bằng tiếng Pháp). Ngày 20 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  65. ^ “Gold-/Platin-Datenbank (Madonna; 'Hung Up')” (bằng tiếng Đức). Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  66. ^ Paid music distribution certification for February 2014 (bằng tiếng Nhật). Recording Industry Association of Japan. Tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  67. ^ “Guld- och Platinacertifikat − År 2008” (PDF) (bằng tiếng Thụy Điển). IFPI Thụy Điển. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  68. ^ “The Official Swiss Charts and Music Community: Awards (Madonna; 'Hung Up')”. IFPI Switzerland. Hung Medien. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 
  69. ^ “Britain single certifications – Madonna – Hung Up” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.  Chọn singles trong bảng chọn Format. Chọn Platinum trong nhóm lệnh Certification. Nhập Hung Up vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  70. ^ “American single certifications – Madonna – Hung Up” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  71. ^ Trust, Gary (ngày 30 tháng 4 năm 2010). “Ask Billboard: 'Glee'-ful About Madonna”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]