Rebel Heart (album của Madonna)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Rebel Heart
Madonna - Rebel Heart (Official Album Cover).png
Bìa phiên bản sang trọng và phiên bản nhạc số
Album phòng thu của Madonna
Phát hành10 tháng 3, 2015 (2015-03-10)
Thu âm2014
Hãng đĩa
Sản xuất
Thứ tự album của Madonna
MDNA World Tour2013
  • Rebel Heart
  • (2015)
Alternative cover
Bìa phiên bản đĩa cứng
Bìa phiên bản đĩa cứng
Đĩa đơn từ Rebel Heart
  1. "Living for Love"
    Phát hành: 20 tháng 12, 2014 (2014-12-20)
  2. "Ghosttown"
    Phát hành: 13 tháng 3, 2015 (2015-03-13)
  3. "Bitch I'm Madonna"
    Phát hành: 15 tháng 6, 2015 (2015-06-15)
  4. "Hold Tight"
    Phát hành: 24 tháng 7, 2015 (2015-07-24)

"Rebel Heart" (tạm dịch: Trái tim nổi loạn) là album phòng thu thứ 13 của ca sĩ người Mỹ Madonna, phát hành ngày 10 tháng 3 năm 2015 bởi Interscope Records. Sau khi kết thúc kỷ nguyên MDNA, Madonna đã nhanh chóng bắt tay thực hiện album trong suốt năm 2014, trong đó đồng sáng tác và sản xuất với nhiều nhạc sĩ như Diplo, AviciiKanye West. Cô đã nhiều lần đăng hình ảnh những buổi thu âm lên tài khoản Instagram cá nhân. Làm việc với một số cộng tác viên trong album, Madonna phải đối mặt với vấn đề giữ vững mối liên kết âm nhạc chặt chẽ cho Rebel Heart, để đa dạng hóa đối tượng người nghe.

Chủ đề của Rebel Heart tượng trưng cho hai diện mạo khác nhau của nữ ca sĩ, lắng nghe trái tim người khác và trở thành kẻ nổi loạn. Về mặt âm nhạc, đây là một bản ghi âm pop kết hợp với một loạt các thể loại của những năm 1990 như: house, trapreggae, cũng như việc sử dụng âm thanh acoustic và dàn hợp xướng phúc âm. Các nghệ sĩ tham gia cộng tác trong album bao gồm rapper Nicki Minaj, Nas, Chance the Rapper, cũng như võ sĩ quyền Anh Mike Tyson.

Album ban đầu dự định phát hành tháng 3 năm 2015, với đĩa đơn đầu tiên được phát hành vào Ngày Valentine. Nhưng sau khi nhiều ca khúc trong album bất ngờ bị rò rỉ, cô đã cho đặt trước album trên iTunes Store vào ngày 20 tháng 12 năm 2014, với 6 bài hát được tung ra chính thức. Cảnh sát đã điều tra và bắt giam một người đàn ông Isarel, người bị buộc tội xâm nhập vào máy tính của Madonna và làm rò rỉ các bài hát. Ảnh bìa cho ấn bản cao cấp của album đã trở nên phổ biến, dẫn đến một trào lưu được tạo ra trên Instagram, Tumblr và Twitter. Để quảng bá cho album, Madonna đã xuất hiện trên một số chương trình và biểu diễn, trong đó có giải Grammy lần thứ 57 và Brit Awards 2015. Tour diễn quảng bá cho album, Rebel Heart Tour, chính thức khai màn vào ngày 29 tháng 8 năm 2015. "Living for Love", "Ghosttown" và "Bitch I'm Madonna" được phát hành như là đĩa đơn từ album.

Rebel Heart đa phần nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình âm nhạc, họ coi đây là nỗ lực đáng khen nhất của cô trong hơn một thập kỷ qua. Album đã có những tiến bộ về mặt âm thanh so với Hard Candy (2008) và MDNA (2012). Nó ra mắt ở vị trí thứ 2 trên bảng xếp hạng Billboard 200 (Mỹ) và Vương quốc Anh, và vị trí số một ở nhiều nước khác nhau trên toàn thế giới, bao gồm các thị trường âm nhạc lớn như Úc, Canada, Đức, Ý, Tây Ban Nha, và Thụy Sĩ, trong khi đạt top 10 tại Pháp, Ireland, Nhật Bản, New Zealand, và Thụy Điển.

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Andrew Hampp của tạp chí Billboard, phiên bản đặt trước có doanh số rất khả quan sau khi được phát hành trên cửa hàng trực tiếp iTunes. Tại Hoa Kỳ, 3 trong số 6 bài hát của phiên bản đặt trước ra mắt trên bảng xếp hạng Billboard Dance/Electronic Songs vào ấn phẩm phát hành ngày 3 tháng 1 năm 2015—"Living for Love", "Bitch I'm Madonna", và "Unapologetic Bitch"—mặc dù những bài hát này chỉ có sẵn trong vòng 2 ngày.[1] Doanh số của 6 bài hát này đã đạt 146.000  lượt tải kĩ thuật số, theo Nielsen SoundScan.[2] Phiên bản đặt trước của album cũng bán được khoảng 50.000 đến 60.000 bản, theo các nhà phân tích ngành công nghiệp thu âm.[1] Rebel Heart ra mắt tại vị trí á quân bảng xếp hạng US Billboard 200 với doanh số đạt 121.000 bản tính đến hết ngày 15 tháng 3 năm 2015; sau album nhạc phim của sê-ri phim Empire.[3] Mặc dù doanh số bán lẻ đứng nhất tuần với 116.000 bản (chiếm 96% tổng doanh số), Rebel Heart vẫn phải đứng sau album nhạc phim khi doanh số chia sẻ nhạc chỉ đạt khoảng từ 1.000 đến 4.000 lượt. Đây album thứ 21 của Madonna lọt vào top 10 của bảng xếp hạng này, nhưng cũng là album phòng thu đầu tiên không ra mắt tại vị trí quán quân kể từ sau album Ray of Light (1998). Điều này có thể do chuyến lưu diễn Rebel Heart có lượng khán giả đặt vé + mua album giảm hơn so với album trước, MDNA đến 10.000 bản; dẫn đến việc tổng doanh số của album trong tuần đầu thụt giảm hơn so với các album trước.[4] Tại Canada, Rebel Heart ra mắt tại vị trí quán quân bảng xếp hạng Canadian Albums Chart doanh số đạt 18.000 bản trong tuần đầu phát hành.[5]

Còn ở Vương quốc Anh, công ty Official Charts Company báo cáo rằng Rebel Heart có doanh số vượt mặt các đối thủ khác với tỉ lệ 3:1 chỉ sau 24 giờ phát hành.[6] Tuy nhiên, In the Lonely Hour của Sam Smith vượt lên vào phút chót, và Rebel Heart ra mắt tại vị trí á quân bảng xếp hạng với doanh số chênh lệch với Sam Smith là 12.000 bản. Qua đó, Rebel Heart trở thành album đầu tiên của Madonna để lỡ vị trí quán quân kể từ sau khi album Bedtime Stories cũng ra mắt tại vị trí này vào năm 1994.[7][8] Album bán được 37.245 bản trong đó có 416 bản là từ các dịch vụ chia sẻ âm nhạc, trở thành album có doanh số trong tuần đầu phát hành thấp nhất của Madonna. Tuy nhiên, Madonna vẫn giữ vững ngôi vị nữ hoàng doanh số album trong tuần đầu phát hành, với tổng số 7,65 triệu bản.[9] Rebel Heart cũng ra mắt tại vị trí quán quân bảng xếp hạng German Albums Chart, trở thành album thứ 12 của cô đạt ngôi quán quân tại thị trường này.[10] Madonna đã vượt qua The BeatlesRobbie Williams để trở thành nghệ sĩ quốc tế có nhiều album quán quân nhất tại Đức, sánh ngang Herbert Grönemeyer với 12 album, chỉ sau Peter MaffayJames Last với 16 album và 13 album.[11] Tại Pháp, album cũng ra mắt tại vị trí quán quân bảng xếp hạng SNEP Albums với doanh số đạt 17.000 bản chỉ trong 3 ngày phát hành.[12][13] Rebel Heart cũng ra mắt tại vị trí này ở Áo, Croatia, Cộng Hòa Séc, Tây Ban Nha và Thụy Điển, cùng với việc lọt vào top 10 ở hầu hết các quốc gia châu Âu.[14][15][16]

Tại Úc, Rebel Heart đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng ARIA Albums Chart, trở thành album thứ 11 của Madonna đạt ngôi quán quân trên thị trường này và đưa cô lên ngang tầm với U2 trong danh sách các nghệ sĩ có nhiều album quán quân nhất tính từ lúc ARIA thành lập năm 1983.[17][18] Album đã giúp cho Madonna có tuần thứ 19 tại vị trí quán quân bảng xếp hạng, đứng thứ 24 trong danh sách các nghệ sĩ có tổng số tuần trụ tại vị trí quán quân nhiều nhất.[19] Tại New Zealand, album ra mắt tại vị trí #7 trên bảng xếp hạng Official New Zealand Music Chart.[20] Tại Nhật Bản, Rebel Heart đạt vị trí #8 trên bảng xếp hạng Oricon Albums Chart với doanh số bán đĩa vật lý trong tuần đầu đạt 7,548 bản, trở thành album thứ 23 của Madonna lọt vào top 10 tại quốc gia này.[21] Album cũng đạt vị trí quán quân bảng xếp hạng Oricon International Albums Chart.[22] Ở Nam Hàn Quốc, Rebel Heart giúp cho Madonna ra mắt tại 2 vị trí liên tiếp trong top 10 của bảng xếp hạng Gaon International Albums Chart, với phiên bản cao cấp đạt ngôi quán quân và phiên bản chuẩn ra mắt tại vị trí #7.[23]

Danh sách ca khúc[sửa | sửa mã nguồn]

Rebel Heart – Phiên bản chuẩn[24]
STT Tên bài hátSáng tác Sản xuất Thời lượng
1. "Living for Love"  
3:38
2. "Devil Pray"  
4:05
3. "Ghosttown"  
4:08
4. "Unapologetic Bitch"  
  • Madonna
  • Pentz
  • Rechtshaid
  • McDonald
  • Gad
  • Madonna
  • Diplo
3:50
5. "Illuminati"  
3:43
6. "Bitch I'm Madonna" (hợp tác với Nicki Minaj)
  • Madonna
  • Pentz
  • Rechtshaid
  • McDonald
  • Gad
3:47
7. "Hold Tight"  
  • Madonna
  • Pentz
  • Gad
  • McDonald
  • Emenike
  3:37
8. "Joan of Arc"  
  • Madonna
  • Gad
  • McDonald
  • Griffin Jr.
  4:01
9. "Iconic" (hợp tác với Chance the RapperMike Tyson)
  4:33
10. "HeartBreakCity"  
  3:33
11. "Body Shop"  
  • Madonna
  • Gad
  • McDonald
  • Griffin Jr.
  • Natche
  • Tucker
  3:39
12. "Holy Water"    4:09
13. "Inside Out"  
  • Madonna
  • Evigan
  • Dean
  4:23
14. "Wash All Over Me"  
  4:00
Tổng thời lượng:
55:06

Xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Áo (IFPI Austria)[73] Vàng 10.000*
Brazil (ABPD)[74] Vàng 20.000*
Pháp (SNEP)[75] Vàng 50,000[76]
Ý (FIMI)[77] Bạch kim 60.000*
Mexico (AMPROFON)[78] Vàng 30.000^
Ba Lan (ZPAV)[79] Vàng 10.000*
Hàn Quốc (GAON) Không có 3,375[68]
Anh (BPI)[80] Bạc 76,490[81]
Mỹ (RIAA) Không có 116,000[82]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng

Lịch sử phát hành[sửa | sửa mã nguồn]

Nước Ngày Định dạng Nhãn Ref.
Vương quốc Anh 20 tháng 12 năm 2014 Tải kĩ thuật số (Đặt album trên iTunes + bài 2–6) [83]
Úc Tải kĩ thuật số (Đặt album trên iTunes + bài 1–6) [84]
Hy Lạp [85]
New Zealand [86]
Hàn Quốc [87]
Thổ Nhĩ Kỳ [88]
Mỹ [89]
Toàn cầu 10 tháng 3 năm 2015
  • CD
  • Tải kĩ thuật số

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Hampp, Andrew (ngày 9 tháng 1 năm 2015). “The Inside Story of How Madonna Turned Her 'Rebel Heart' Leak Into a Global Hit”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2015. 
  2. ^ Coscarelli, Joe (ngày 23 tháng 1 năm 2015). “When Digital Thieves Strike, Artists Act Quickly to Seize Opportunity”. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2015. 
  3. ^ Caulfield, Keith (ngày 18 tháng 3 năm 2015). 'Empire,' Madonna and Luke Bryan Debut in Top Three on Billboard 200”. billboard.com (bằng tiếng Anh). Prometheus Global Media. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  4. ^ Caulfield, Keith (ngày 17 tháng 3 năm 2015). 'Empire' Soundtrack Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart, Madonna Arrives at No. 2”. Billboard. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015. 
  5. ^ Tuch, Paul (ngày 18 tháng 3 năm 2015). “Madonna Scores Number One Top Album Debut”. Nielsen SoundScan. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 19 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  6. ^ Moss, Liv (ngày 10 tháng 3 năm 2015). “Madonna's Rebel Heart takes early lead in albums chart race”. Official Charts Company. Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2015. 
  7. ^ “Sam Smith denies Madonna her 12th number one album”. BBC. Ngày 15 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  8. ^ Moss, Liv (ngày 16 tháng 3 năm 2015). “Sam Smith scores Official Charts Number 1 double”. Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  9. ^ Jones, Alan (ngày 16 tháng 3 năm 2015). “Official Charts Analysis: Sam Smith returns to top Singles and Albums Charts”. Music Week. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  10. ^ a ă "Madonna - Rebel Heart". Charts.de. Media Control. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015.
  11. ^ “Madonna überholt Beatles und Robbie Williams mit "Rebel Heart" (bằng tiếng Đức). T-Online.de (Deutsche Telekom). Ngày 17 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015. 
  12. ^ “Le Top de la semaine: Top Albums” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  13. ^ Goncalves, Julien (ngày 11 tháng 3 năm 2015). “Rebel Heart: Madonna déçoit et entre troisième du Top Albums. Les chiffres!” (bằng tiếng Pháp). Pure Charts in France. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  14. ^ a ă "Top 50 Prodejní". Czech Albums. ČNS IFPI. Note: On the chart page, select 201511 on the field besides the word "Zobrazit", and then click over the word to retrieve the correct chart data. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015.
  15. ^ a ă "Madonna – Rebel Heart". Dutchcharts.nl. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015.
  16. ^ “Official IFPI Charts – Top-75 Albums Sales Chart Εβδομάδα: 10/2015” (bằng tiếng Greek). IFPI Greece. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  17. ^ a ă "Madonna – Rebel Heart". Australiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015.
  18. ^ “30 Years Of The ARIA Charts -- U2, Madonna and Kylie Have Most #1s”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015. 
  19. ^ Ryan, Gavin (ngày 15 tháng 3 năm 2015). “ARIA Albums: Madonna Rebel Heart Is No 1 In Australia”. Noise11.com. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ a ă "Madonna – Rebel Heart". Charts.org.nz. Hung Medien. Truy cập ngày 13 tháng 3 năm 2015.
  21. ^ a ă 23 tháng 3 năm 2015/ "Oricon Top 50 Albums" (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  22. ^ a ă “週間 洋楽アルバムランキング” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Ngày 23 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  23. ^ a ă "South Korea GAON International Albums Chart". Chọn "{{{year}}}" sau đó "2015.03.08~2015.03.14" để xem album cần thiết. Korean Charts. GAON. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015.
  24. ^ “Rebel Heart by Madonna”. iTunes Store. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  25. ^ “Madonna — Rebel Heart (Exklusive Standard Edition inkl. Bonus Track)” (bằng tiếng Đức). Media Markt. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  26. ^ “Rebel Heart by Madonna”. iTunes Store. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2015. 
  27. ^ “Madonna — Rebel Heart (Exklusive Deluxe Edition inkl. Bonus Track)” (bằng tiếng Đức). Media Markt. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2015. 
  28. ^ “Rebel Heart: Madonna” (bằng tiếng Nhật). CD Japan. Truy cập ngày 15 tháng 2 năm 2015. 
  29. ^ “Rebel Heart – Édition Deluxe” (bằng tiếng Pháp). Fnac. Truy cập ngày 28 tháng 1 năm 2015. 
  30. ^ “Rebel Heart: Limited Super Deluxe Edition”. Đức: Amazon.com. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015. 
  31. ^ “Rebel Heart – EP by Madonna”. iTunes Store. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015. 
  32. ^ “CAPIF Rankings Mensual” (Select "April 2015") (bằng tiếng Tây Ban Nha). CAPIF. Truy cập ngày 22 tháng 7 năm 2015. 
  33. ^ "Madonna - Rebel Heart" (bằng tiếng Đức). Austriancharts.at. Hung Medien. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  34. ^ "Madonna – Rebel Heart" (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  35. ^ "Madonna – Rebel Heart" (bằng tiếng Pháp). Ultratop.be. Hung Medien. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  36. ^ “Top CD: 30/03/2015 a 05/04/2015” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). ABPD. Truy cập ngày 26 tháng 4 năm 2015. 
  37. ^ "Madonna Album & Song Chart History" Billboard Canadian Albums Chart cho Madonna. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  38. ^ “Top Kombiniranih – Tjedan 11. 2015.” [Top Combined – Week 11. 2015.] (bằng tiếng Croatia). Hrvatska Diskografska Udruga. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2015. 
  39. ^ "Madonna – Rebel Heart". Danishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015.
  40. ^ "Madonna: Rebel Heart" (bằng tiếng Phần Lan). Musiikkituottajat – IFPI Finland. Truy cập ngày 15 tháng 3 năm 2015.
  41. ^ "Madonna – Rebel Heart". Lescharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  42. ^ “Greek Albums: ngày 28 tháng 3 năm 2015”. IFPI Greece. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  43. ^ "Archívum – Slágerlisták – MAHASZ – Magyar Hangfelvétel-kiadók Szövetsége". Mahasz.hu. LightMedia. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015.
  44. ^ "GFK Chart-Track". Chart-Track.co.uk. GFK Chart-Track. IRMA. Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015.
  45. ^ "Madonna – Rebel Heart". Italiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2015.
  46. ^ a ă “Los Más Vendidos 2015 - Mejor posición” (bằng tiếng Tây Ban Nha). AMPROFON. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2016. 
  47. ^ "Madonna – Rebel Heart". Norwegiancharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015.
  48. ^ "Oficjalna lista sprzedaży :: OLIS - Official Retail Sales Chart" (bằng tiếng Ba Lan). OLiS. Związek Producentów Audio Video. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2015.
  49. ^ "Madonna – Rebel Heart". Portuguesecharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2015.
  50. ^ “Новый альбом Мадонны стартовал со второй строчки в чартах российского” (bằng tiếng Nga). Lenta.ru. Ngày 17 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015. 
  51. ^ 15 tháng 3 năm 2015 "ngày 15 tháng 3 năm 2015 Top 40 Scottish Albums Archive | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2015.
  52. ^ "Madonna – Rebel Heart". Spanishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  53. ^ "Madonna – Rebel Heart". Swedishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  54. ^ "Madonna – Rebel Heart". Swisscharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  55. ^ “Weekly Top 20 – Five Music Chart 2015/03/13 – 2015/03/19” (Select Week 11, Year 2015 from the bottom of the list) (bằng tiếng Trung Quốc). Five Music. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2016. 
  56. ^ "Madonna | Artist | Official Charts". UK Albums Chart. The Official Charts Company. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015.
  57. ^ "Madonna Album & Song Chart History" Billboard 200 cho Madonna. Prometheus Global Media. Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015.
  58. ^ “Jaaroverzichten 2015” (bằng tiếng Hà Lan). Ultratop. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2015. 
  59. ^ “Rapports Annuels 2015” (bằng tiếng Pháp). Ultatop. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2015. 
  60. ^ “2015 Billboard Top Canadian Albums”. Billboard. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015. 
  61. ^ “Top 50 Strana 2015” (bằng tiếng Croatia). Croatian Music Channel. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2016. 
  62. ^ “Dutch Albums Year End 2015”. MegaCharts. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2015. 
  63. ^ “Le Top de l'année: Top Albums Fusionnés – 2015” (bằng tiếng Pháp). Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2016. 
  64. ^ “Top 100 Album-Jahrescharts” (bằng tiếng Đức). GfK Entertainment. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2016. 
  65. ^ “Összesített album- és válogatáslemez-lista - eladási darabszám alapján - 2015” (bằng tiếng Hungary). MAHASZ. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2016. 
  66. ^ “Classifiche 'Top of the Music' 2015 FIMI-GfK” (Click on "Scarica allegato" to download the zipped file containing the year-end chart PDF documents) (bằng tiếng Ý). Federazione Industria Musicale Italiana. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016. 
  67. ^ “Oricon Year end albums 2015” (bằng tiếng Nhật). Oricon. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2016. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  68. ^ a ă “2015년 Album Chart: International Artists” (bằng tiếng Triều Tiên). Gaon Music Chart. Truy cập ngày 12 tháng 1 năm 2016. 
  69. ^ “Jahreshitparade 2015 Alben”. Schweizer Hitparade. Hung Medien. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2015. 
  70. ^ “End of Year Album Chart Top 100 2015”. Official Charts Company. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2016. 
  71. ^ “2015 Billboard 200 Top Albums”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015. 
  72. ^ “2015 Billboard Top Album Sales”. Billboard. Truy cập ngày 9 tháng 12 năm 2015. 
  73. ^ “Austrian album certifications – Madonna – Rebel Heart” (bằng tiếng Đức). IFPI Áo. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2015.  Nhập Madonna vào ô Interpret (Tìm kiếm). Nhập Rebel Heart vào ô Titel (Tựa đề). Chọn album trong khung Format (Định dạng). Nhấn Suchen (Tìm)
  74. ^ “Brasil album certifications – Madonna – Rebel Heart” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2015. 
  75. ^ “France album certifications – Madonna – Rebel Heart” (bằng tiếng Pháp). Syndicat national de l'édition phonographique. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2015. 
  76. ^ “Quels sont les flops musicaux de 2015 ?” (bằng tiếng Pháp). Pure charts in France. Ngày 23 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2015. 
  77. ^ “Italy album certifications – Madonna – Rebel Heart” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2015.  Chọn "2015" trong bảng chọn "Anno". Nhập "Rebel Heart" vào ô "Filtra". Chọn "Album e Compilation" dưới phần "Sezione".
  78. ^ “Certificaciones – Madonna” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Asociación Mexicana de Productores de Fonogramas y Videogramas. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2015. 
  79. ^ “Poland album certifications – Madonna – Rebel Heart” (bằng tiếng Ba Lan). ZPAV. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2015. 
  80. ^ “Britain album certifications – Madonna – Rebel Heart” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2015.  Chọn albums trong bảng chọn Format. Chọn Silver trong nhóm lệnh Certification. Nhập Rebel Heart vào khung "Search BPI Awards" rồi nhấn Enter
  81. ^ Jones, Alan (ngày 22 tháng 6 năm 2015). “Official Charts Analysis: Muse's Drones hover at No.1 for second week”. Music Week. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2015. (cần đăng ký mua (trợ giúp)). 
  82. ^ 'Empire' Soundtrack Debuts at No. 1 on Billboard 200 Chart, Madonna Arrives at No. 2” (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 17 tháng 3 năm 2015. 
  83. ^ “Rebel Heart – Madonna”. UK: iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  84. ^ “Rebel Heart – Madonna”. AU: iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  85. ^ “Rebel Heart – Madonna”. GR: iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  86. ^ “Rebel Heart – Madonna”. NZ: iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  87. ^ “Rebel Heart – Madonna”. ZA: iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  88. ^ “Rebel Heart – Madonna”. TR: iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2014. 
  89. ^ “Rebel Heart – Madonna”. US: iTunes Store. Apple Inc. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]