Danh sách đĩa đơn của Madonna

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Danh sách đĩa nhạc của Madonna
Madonna - Rebel Heart Tour Cologne 2 (22851518577) (cropped).jpg
Madonna biểu diễn trong Rebel Heart Tour vào tháng 11 năm 2015
Đĩa đơn 83
Đĩa đơn quảng bá 13
Xuất hiện khác 14

Ca sĩ người Mỹ Madonna đã phát hành 83 đĩa đơn, 13 đĩa đơn quảng bá và 14 bài hát khác. Năm 1982, Madonna ký kết hợp đồng thu âm với Sire Records, một nhãn hiệu sở hữu bởi Warner Bros. Records, đồng thời phát hành hai đĩa đơn trước khi tung ra album khởi nghiệp cùng tên.[1] Đĩa đơn đầu tiên của bà xếp hạng trên Billboard Hot 100 là "Holiday", đứng hạng 16.[2] Năm 1984, Madonna phát hành "Like a Virgin", đạt vị trí quán quân tại Canada, Úc và duy trì vị trí này trong 6 tuần liên tiếp tại Mỹ.[3] Album Like a Virgin còn có thêm 3 đĩa đơn lọt vào top 5 tại Mỹ là "Material Girl", "Angel" và "Dress You Up".[4] Năm 1985, Madonna phát hành đĩa đơn quán quân thứ hai tại Mỹ, "Crazy for You" và đĩa đầu bảng đầu tiên tại Vương quốc Liên hiệp Anh, "Into the Groove". Cả hai đĩa này đều trích từ album nhạc phim.[5][6] Album phòng thu thứ 3 True Blue (1986) có thêm 3 đĩa đơn quán quân tại Mỹ, lần lượt là "Live to Tell", "Papa Don't Preach" và "Open Your Heart". Hai đĩa đơn còn lại là "True Blue" và "La Isla Bonita" đều lọt vào top 5.[7] Năm 1987, bà gặt hái thêm một đĩa đầu bảng mang tên "Who's That Girl".[8][9] Năm 1989, Madonna phát hành đĩa đơn đầu bảng Hot 100 thứ 7, "Like a Prayer" trích từ album cùng tên, giúp bà là nữ ca sĩ có nhiều bài hát quán quân trong thập niên 1980 (bên cạnh Whitney Houston).[10]

Năm 1990, Madonna phát hành "Vogue" trích từ album nhạc phim I'm Breathless, đứng đầu bảng xếp hạng tại các thị trường lớn.[11] Ca khúc quán quân thứ 9 và 10 của cô tại Mỹ là "Justify My Love" và bản ballad "This Used to Be My Playground", lần lượt phát hành vào năm 1990 và 1992.[12][13] Album phòng thu thứ 5, Erotica (1992) chỉ có đĩa đơn cùng tên và "Deeper and Deeper" lọt vào top 10.[14] Năm 1995, Madonna phát hành album thứ 6 Bedtime Stories, xuất hiện 2 đĩa đơn top 5 Hoa Kỳ "Take a Bow" và "Secret". "Take a Bow" là đĩa đơn trụ hạng quán quân lâu nhất của bà tại Hot 100, trong khi "Secret" giúp Madonna là nghệ sĩ duy nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh có 35 đĩa đơn liên tiếp lọt vào top 10.[15] Mở đầu cho album thứ bảy Ray of Light (1998), "Frozen" là đĩa đơn đầu tiên của Madonna đạt vị trí quán quân tại Vương quốc Liên hiệp Anh ngay trong tuần đầu tiên xếp hạng. Đây cũng là bài hát số một đầu tiên của nữ ca sĩ tại lãnh thổ này kể từ năm 1990, đánh dấu sự trở lại thành công của bà.[16] Bài hát cùng tên lọt vào top 10 tại một số quốc gia như Mỹ, Anh, Canada, Úc và Ý.[17]

Năm 2000, Madonna phát hành đĩa đơn quán quân cuối cùng tại Mỹ, "Music" trích từ album cùng tên.[18] Năm 2003, bà ra mắt album thứ 9 mang tên American Life, với các đĩa đơn của album không thu được thành công thương mại tại Mỹ. Năm 2005, Madonna phát hành "Hung Up", đĩa đơn đầu tiên trích từ album thứ 10 Confessions on a Dance Floor, là bài hát thành công nhất tính trên phạm vi toàn cầu của bà. Đĩa đơn đứng đầu bảng xếp hạng của hơn 45 quốc gia và được sách Kỷ lục Thế giới Guinness (2007) ghi nhận là bài hát đứng quán quân ở nhiều quốc gia hơn bất kỳ bài hát nào khác.[19] Với việc "Hung Up" được chứng nhận đĩa Bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp Thu âm Hoa Kỳ (RIAA), Madonna vượt qua ban nhạc The Beatles với kỷ lục về số lượng đĩa đơn Vàng tại Mỹ.[20] Đĩa đơn thứ hai, "Sorry" là bài hát đầu bảng thứ 12 của Madonna tại nước Anh.[21] "4 Minutes", đĩa đơn hợp tác cùng Justin TimberlakeTimbaland từ album Hard Candy (2008), đạt hạng 3 tại Billboard Hot 100, giúp Madonna phá vỡ kỷ lục của Elvis Presley về danh hiệu nghệ sĩ sở hữu nhiều bài hát top 10 nhất trong lịch sử của bảng xếp hạng này.[22] Bà mở rộng kỷ lục này với "Give Me All Your Luvin'", đĩa đơn từ album phòng thu MDNA (2012).[23] Khi "Ghosttown" từ album phòng thu Rebel Heart (2015) dẫn đầu Billboard Dance Club Songs, Madonna trở thành nghệ sĩ có nhiều bài hát quán quân nhất trong một bảng xếp hạng Billboard còn hoạt động, phá vỡ kỷ lục 44 bài hát của George Strait trên Hot Country Songs.[24]

Madonna là nghệ sĩ có lượng đĩa đơn bán ra nhiều nhất thập niên 2000 tại Hoa Kỳ.[25] Bà là nghệ sĩ đơn ca xếp hạng cao nhất trong danh sách "Billboard Hot 100 All-Time Top Artists" và là nữ nghệ sĩ có nhiều đĩa đơn quán quân nhất tại Vương quốc Liên hiệp Anh.[26][27] Madonna có 157 đĩa đơn quán quân trên tất cả bảng xếp hạng Billboard, nhiều hơn bất kỳ nghệ sĩ nào khác.[28] Tính đến tháng 2 năm 2008, bà đã bán hơn 115 triệu đĩa đơn trên toàn cầu.[29][30]

Đĩa đơn[sửa | sửa mã nguồn]

Thập niên 1980[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
[31]
Club
Mỹ

[31]
Úc
[32]
Canada
[31]
Pháp
[33]
Đức
[34]
Ý
[35]
T.B.
Nha

[36]
Thụy Sĩ
[37]
L.H.
Anh

[38]
"Everybody" 1982 [a] 3 Madonna
"Burning Up" 1983 3[b] 13
"Holiday" 16 1 4 32 37 9 22 18 2[c]
  • L.H.Anh: 795.000[41]
"Lucky Star" 1984 4 36[d] 8 14
  • L.H.Anh: 117.470[44]
"Borderline" 10 4 12 25 23 2
  • L.H.Anh: 310.000[45]
"Like a Virgin" 1 1 1 1 8 4 16 9 3
  • Mỹ: 1.900.000[47]
  • L.H.Anh: 780.000[48]
Like a Virgin
"Material Girl" 2 1 4 4 47 13 18 10 15 3
  • L.H.Anh: 405.000[45]
  • L.H.Anh: Bạc[42]
"Crazy for You" 1985 1 1 1 47 26 12 17 16 2[e]
  • Mỹ: 2.000.000[50]
  • L.H.Anh: 670.000[45]
Vision Quest
"Angel" 5 1 1 5 31 2 17 5
  • L.H.Anh: 205.000[45]
Like a Virgin
"Into the Groove" [f] 2 3 1 1 2 1
  • Pháp: 533.000[52]
  • L.H.Anh: 877.500[48]
"Dress You Up" 5 3 5 10 18 20 16 11 20 5
  • L.H.Anh: 210.000[45]
  • L.H.Anh: Bạc[42]
"Gambler" 10 33 25 3 23 4
  • L.H.Anh: 295.000[45]
  • L.H.Anh: Bạc[42]
Vision Quest
"Live to Tell" 1986 1 7 1 6 12 1 4 2
  • Pháp: 241.000[54]
  • L.H.Anh: 280.000[45]
True Blue
"Papa Don't Preach" 1 4 1 1 3 2 1 4 2 1
  • Pháp: 456.000[54]
  • L.H.Anh: 645.000[48]
"True Blue" 3 6 5 1 6 6 4 12 6 1
  • Pháp: 360.000[54]
  • L.H.Anh: 545.000[48]
"Open Your Heart" 1 1 16 8 24 17 6 11 4
  • L.H.Anh: 195.000[45]
  • L.H.Anh: Bạc[42]
"La Isla Bonita" 1987 4 10 6 1 1 1 18 8 1 1
  • Pháp: 771.000[52]
  • L.H.Anh: 435.000[45]
"Who's That Girl" 1 44 7 1 2 2 1 6 2 1
  • Pháp: 417.000[52]
  • L.H.Anh: 380.000[45]
Who's That Girl
"Causing a Commotion" 2 1 7 2 14 4 21 9 4
  • L.H.Anh: 230.000[45]
"The Look of Love" 23 34 20 9
  • L.H.Anh: 121.439[44]
"Spotlight"[g] 1988 You Can Dance
"Like a Prayer" 1989 1 1 1 1 2 2 1 1 1 1
  • Thế giới: 5.000.000[58]
  • Mỹ: 2.443.000[59]
  • Pháp: 478.000[60]
  • L.H.Anh: 613.300[48]
Like a Prayer
"Express Yourself" 2 1 5 1 7 3 1 3 1 5
  • L.H.Anh: 200.000[45]
"Cherish" 2 4 1 21 16 3 10 10 3
"Oh Father" 20 59 14 26 6 16[h]
  • L.H.Anh: 58.730[44]
"Dear Jessie" 51 20 19 17 16 5
  • L.H.Anh: 255.000[45]
  • L.H.Anh: Bạc[42]
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở quốc gia đó.

Thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
[31]
Club
Mỹ

[31]
Úc
[32]
Canada
[31]
Pháp
[33]
Đức
[34]
Ý
[35]
T.B.
Nha

[36]
Thụy Sĩ
[37]
L.H.
Anh

[38]
"Keep It Together" 1990 8 1 1[i] 8 16 Like a Prayer
"Vogue" 1 1 1 9 4 1 1 2 1
  • Thế giới: 6.000.000[64]
  • Mỹ: 2.311.000[59]
  • Pháp: 220.000[54]
  • L.H.Anh: 535.100[48]
I'm Breathless
"Hanky Panky" 10 6 18 21 4 13 15 2
  • L.H.Anh: 210.000[45]
"Justify My Love" 1 1 4 1 17 10 2 3 3 2
  • L.H.Anh: 235.000[45]
The Immaculate Collection
"Rescue Me" 1991 9 6 15 7 21 21 12 11 3
  • L.H.Anh: 134.764[44]
"This Used to Be My Playground" 1992 1 9 1 7 6 1 6 6 3
  • L.H.Anh: 275.000[45]
Không có album
"Erotica" 3 1 4 13 23 13 1 4 8 3 Erotica
"Deeper and Deeper" 7 1 11 2 17 26 1 23 6
  • L.H.Anh: 136.854[44]
"Bad Girl" 1993 36 32 20 44 47 3 25 10
  • L.H.Anh: 74.915[44]
"Fever" 1 51 31 12 6
  • L.H.Anh: 86.077[44]
"Rain" 14 2 5 2 26 9 11 7
  • L.H.Anh: 130.771[44]
"Bye Bye Baby" 15 7 28
"I'll Remember" 1994 2 7 1 40 49 1 17 7
  • Mỹ: 500.000[66]
  • L.H.Anh: 100.090[44]
With Honors
"Secret" 3 1 5 1 2 29 3 4 1 5
  • Pháp: 255.000[54]
  • L.H.Anh: 117.957[44]
Bedtime Stories
"Take a Bow" 1 15 1 25 18 2 8 16
  • Mỹ: 500.000[67]
  • L.H.Anh: 102.739[44]
"Bedtime Story" 1995 42 1 5 46 8 4
  • L.H.Anh: 97.428[44]
"Human Nature" 46 2 17 64 50 10 17 8
  • L.H.Anh: 80.685[44]
"You'll See" 6 9 2 24 15 5 8 5
  • L.H.Anh: 305.000[45]
Something to Remember
"One More Chance" 1996 35 2 11
  • L.H.Anh: 56.851[44]
"Love Don't Live Here Anymore" 78 16 27 24 48
"You Must Love Me" 18 11 11 41 78 4 43 10
  • L.H.Anh: 90.428[44]
Evita
"Don't Cry for Me Argentina" 1997 8 1 9 14 1 3 2 1 4 3
  • Pháp: 447.000[52]
  • L.H.Anh: 340.000[45]
"Another Suitcase in Another Hall" 4 7
  • L.H.Anh: 75.233[44]
"Frozen" 1998 2 1 5 2 2 2 1 1 2 1 Ray of Light
"Ray of Light" 5 1 6 3 18 28 2 1 32 2
  • Mỹ: 793.000[59]
  • L.H.Anh: 275.000[45]
"Drowned World (Substitute for Love)" 16 18 42 39 5 1 31 10
"The Power of Good-Bye" 11 33 6 21 4 8 2 8 6
  • L.H.Anh: 180.000[45]
"Nothing Really Matters" 1999 93 1 15 6 48 38 7 1 26 7
  • L.H.Anh: 128.137[44]
  • L.H.Anh: Bạc[42]
"Beautiful Stranger" 19 1 5 1 17 13 1 4 6 2
  • Pháp: 137.000[54]
  • L.H.Anh: 534.800[48]
Austin Powers: The Spy Who Shagged Me
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở quốc gia đó.

Thập niên 2000[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
[31]
Club
Mỹ

[31]
Úc
[32]
Canada
[31]
Pháp
[33]
Đức
[34]
Ý
[35]
T.B.
Nha

[36]
Thụy Sĩ
[37]
L.H.
Anh

[38]
"American Pie" 2000 29 1 1 1 8 1 1 1 1 1
  • Pháp: 183.000[54]
The Next Best Thing
"Music" 1 1 1 1 8 2 1 1 1 1
  • Mỹ: 1.217.000[59]
  • Pháp: 238.000[52]
  • L.H.Anh: 415.000[77]
  • Mỹ: Bạch kim[46]
  • Úc: 2× Bạch kim[78]
  • Đức: Vàng[56]
  • Thụy Sĩ: Vàng[79]
  • L.H.Anh: Vàng[42]
Music
"Don't Tell Me" 4 1 7 1 16 22 1 2 10 4
  • Pháp: 203.000[54]
  • L.H.Anh: 185.000[45]
"What It Feels Like for a Girl" 2001 23 1 6 2 40 16 2 1 11 7
  • L.H.Anh: 86.771[44]
"Die Another Day" 2002 8 1 5 1 15 4 1 1 1 3
  • Pháp: 110.000[54]
  • L.H.Anh: 175.000[45]
Die Another Day
"American Life" 2003 37 1 7 1 10 10 1 2 1 2
  • Pháp: 190.000[54]
  • L.H.Anh: 72.260[44]
American Life
"Hollywood" 1 16 5 22 21 3 2 2 2
  • L.H.Anh: 59.633[44]
"Me Against the Music"
(Britney Spears hợp tác với Madonna)
35 1 1 2 11 5 2 1 4 2
  • L.H.Anh: 240.000[45]
  • Úc: Bạch kim[81]
In the Zone
"Nothing Fails" 1 [j] 7 34 36 7 1 41 11[k] American Life
"Love Profusion" [l] 1 25 3 25 5 1 31
  • L.H.Anh: 41.025[44]
"Hung Up" 2005 7 1 1 1 1 1 1 1 1 1
  • Thế giới: 9.000.000[84]
  • Mỹ: 1.200.000[59]
  • Pháp: 490.000[85]
  • L.H.Anh: 625.600[48]
  • Mỹ: Bạch kim[46]
  • Úc: Bạch kim[86]
  • Canada: 2× Bạch kim[65]
  • Pháp: Vàng[87]
  • Đức: 3× Vàng[56]
  • Thụy Sĩ: Bạch kim[88]
  • L.H.Anh: Bạch kim[42]
Confessions on a Dance Floor
"Sorry" 2006 58 1 4 2 5 5 1 1 4 1
"Get Together" [m] 1 13 4 23 25 2 1 16 7
  • L.H.Anh: 67.163[44]
"Jump" [n] 1 29 23 1 3 21 9
  • L.H.Anh: 52.038[44]
"Hey You" 2007 57 36 55 187 Không có album
"4 Minutes"
(hợp tác với Justin TimberlakeTimbaland)
2008 3 1 1 1 2 1 1 1 1 1
  • Mỹ: 3.000.000[91]
  • Canada: 137.000[92]
  • Pháp: 240.000[93]
  • L.H.Anh: 530.000[94]
Hard Candy
"Give It 2 Me" 57 1 23 8 5 8 3 1 4 7
  • Ý: Bạch kim[98]
"Miles Away" 2 23 54 11 26 1 32 39
"Celebration" 2009 71 1 40 5 2 5 1 17 4 3
  • Ý: Bạch kim[98]
  • Thụy Sĩ: Bạch kim[88]
Celebration
"Revolver"
(hợp tác với Lil Wayne)
4 47 25 16 39 130
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở quốc gia đó.

Thập niên 2010[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Doanh số Chứng nhận Album
Mỹ
[31]
Club
Mỹ

[31]
Úc
[32]
Canada
[31]
Pháp
[33]
Đức
[34]
Ý
[35]
T.B.
Nha

[36]
Thụy Sĩ
[37]
L.H.
Anh

[38]
"Give Me All Your Luvin'"
(hợp tác với Nicki MinajM.I.A.)
2012 10 1 25 1 3 8 2 2 6 37 MDNA
"Girl Gone Wild" [o] 1 93 42 13 4 7 29 73
"Masterpiece" 68[p]
"Turn Up the Radio" 1 30 175
"Living for Love" 2014 [q] 1 92 50 40 30 21 49 26 Rebel Heart
"Ghosttown" 2015 1 34 34 20 41 39 117
"Bitch I'm Madonna"
(hợp tác với Nicki Minaj)
84 1 58 90 49
"Hold Tight" 92 [r] 37
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở quốc gia đó.

Đĩa đơn quảng bá[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
Club
Mỹ

[31]
"You Can Dance (LP Cuts)" 1987 1 You Can Dance
"Now I'm Following You"[s] 1990 I'm Breathless
"Erotic"[t] 1992 Không có album
"I Want You"[u] 1995 Something to Remember
"Buenos Aires" (Remix) 1997 3 Evita
"Sky Fits Heaven" (Sasha and Victor Calderone's Remix) 1998 41 Ray of Light
"Impressive Instant" (Peter Rauhofer's Drowned World Dub) 2001 1 Music
"GHV2 Megamix" 5 GHV2
"Into the Hollywood Groove"
(with Missy Elliott)[v]
2003 Remixed & Revisited
"Nobody Knows Me" (Remix) 4 American Life
"Imagine" (Live)[w] 2005 I'm Going to Tell You a Secret
"Mother and Father" (P. Rauhofer Remix) 9 American Life
"Broken"[x] 2012 Không có album
"Superstar"[y] MDNA
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở quốc gia đó.

Xuất hiện khác[sửa | sửa mã nguồn]

Tựa đề Năm Vị trí xếp hạng cao nhất Album
Club
Mỹ

[31]
Canada
[31]
Phần Lan
[113]
Pháp
[33]
Ý
[35]
T.B.
Nha

[36]
Thụy Sĩ
[37]
L.H.
Anh

[38]
"Physical Attraction"[z] 1983 3 Madonna
"Over and Over" 1986 49 Like a Virgin
"Little Star"[aa] 1998 6 Ray of Light
"Love Profusion"[ab] 2004 41 American Life
"Sing"
(Annie Lennox hợp tác với Madonna)[ac]
2007 18 161 Songs of Mass Destruction
"Beat Goes On"
(hợp tác với Kanye West)
2008 82 15 189 Hard Candy
"It's So Cool" 2009 8 20 107 Celebration
"Gang Bang" 2012 93 MDNA
"Devil Pray" 2014 62 43 50 59 Rebel Heart
"Unapologetic Bitch" 91
"Illuminati" 92
"Joan of Arc" 2015 76 27
"Iconic"
(hợp tác với Chance the RapperMike Tyson)
114 30
"Living for Love" (Remixes)[ad] 93 Không có album
"—" Không có mặt trên bảng xếp hạng hoặc không được phát hành ở quốc gia đó.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú giải[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ "Everybody" không có mặt trong bảng xếp hạng Billboard Hot 100 nhưng đạt hạng 7 tại Bubbling Under Hot 100 Singles.[39]
  2. ^ "Burning Up" có mặt trong bảng xếp hạng Hot Dance Club Play dưới dạng đĩa đơn hai mặt, với bài hát "Physical Attraction" ở mặt B.[40]
  3. ^ "Holiday" được phát hành tại Anh ba lần: 17 tháng 1 năm 1984 (đạt hạng 6), phát hành lại ngày 30 tháng 7 năm 1985 (đạt hạng 2) và phát hành lần cuối vào ngày 4 tháng 6 năm 1991 cùng với đĩa EP The Holiday Collection (đạt hạng 5).[38]
  4. ^ "Lucky Star" xếp hạng trong bảng Hot Dance Club Play dưới dạng đĩa đơn hai mặt cùng với "Holiday".[43]
  5. ^ "Crazy for You" được phát hành lại tại Anh dưới dạng bản remix ngày 24 tháng 2 năm 1991. Đây là đĩa đơn thứ hai trích từ album The Immaculate Collection. Cả hai đĩa đơn đều đạt hạng hai.[38]
  6. ^ "Into the Groove" không được phát hành thương mại tại Mỹ và không xuất hiện trong phiên bản tại Mỹ của Like a Virgin. Bài hát chỉ phát hành dưới dạng mặt B của bài hát "Angel" tại Mỹ, Canada và Úc. Do đó không được xếp hạng trong Billboard Hot 100 cũng như Hot 100 Singles Sales. Ca khúc này xếp hạng trong bảng Hot Dance Club Play và tại Úc dưới dạng bài hát mặt A của "Angel".[51]
  7. ^ "Spotlight" chỉ phát hành thương mại ở Nhật Bản, đạt hạng 68 trên Oricon Singles Chart.[57]
  8. ^ "Oh Father" được phát hành tại Anh (và toàn bộ lãnh thổ châu Âu) ngày 27 tháng 12 năm 1995 dưới dạng đĩa đơn thứ hai của album Something to Remember.[38]
  9. ^ "Keep It Together" được phát hành dưới dạng đĩa hai mặt (mặt A) tại Úc cùng với "Vogue". Ban đầu "Vogue" dự định được chọn làm mặt B, nhưng sau đó hãng đĩa Warner đã quyết định phát hành bài hát này dưới dạng đĩa đơn độc lập sau khi nhận ra khả năng thành công của bài hát.[63]
  10. ^ "Nothing Fails" được tính là một EP tại Úc nên chỉ xếp hạng trong bảng ARIA Albums Chart. EP này đạt hạng 6 trên ARIA Dance Albums vào tháng 12 năm 2003.[82]
  11. ^ "Nothing Fails" và "Love Profusion" phát hành dưới dạng mặt A kép tại Vương quốc Liên hiệp Anh. "Love Profusion" xuất hiện ở mặt A, còn "Nothing Fails" phát hành dưới dạng đĩa đơn mặt A kép.[83]
  12. ^ "Love Profusion" ban đầu phát hành tại Úc, Ý và Anh ngày 21 tháng 11 năm 2003, sau đó mới là thị trường Bắc Mỹ và Pháp ngày 16 tháng 3 năm 2004.[82]
  13. ^ "Get Together" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng có mặt trong bảng Bubbling Under Hot 100 ở hạng 6. "Get Together" còn đạt hạng 84 trong bảng xếp hạng Pop 100.[90]
  14. ^ "Jump" không xếp hạng trên Billboard Hot 100 nhưng có mặt trong bảng Bubbling Under Hot 100 ở hạng 5.[90]
  15. ^ "Girl Gone Wild" không có mặt tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100 nhưng có mặt trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 tại vị trí thứ 6.[102]
  16. ^ "Masterpiece" chỉ phát hành tại Vương quốc Liên hiệp Anh.[103]
  17. ^ "Living for Love" không có mặt tại bảng xếp hạng Billboard Hot 100 nhưng có mặt trên bảng xếp hạng Bubbling Under Hot 100 tại vị trí thứ 8.[31]
  18. ^ "Hold Tight" phát hành độc quyền tại các trạm phát thanh Ý.[104]
  19. ^ Ban đầu được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba của album I'm Breathless nhưng sau đó bị hủy bỏ do phát hành album tổng hợp The Immaculate Collection.[105]
  20. ^ Đĩa CD quảng bá cùng với sự xuất bản của cuốn sách Sex (1992). Phiên bản này hoàn thành vào cuối quá trình thu âm Erotica, có chứa nhiều lời ca bổ sung so với phiên bản trong album. Đoạn lời này cũng được sử dụng trong những bản phối của William Orbit trong đĩa đơn "Erotica".[106]
  21. ^ Ban đầu được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ ba của album Evita, các bản phối lại của bài hát cũng được thực hiện nhưng việc phát hành cuối cùng bị hủy bỏ.[107]
  22. ^ Phiên bản phối khí của hai bài hát "Into the Groove" và "Hollywood" hợp tác với Missy Elliott. Đây là một phần trong chiến dịch quảng bá thời trang cho hãng bán lẻ GAP và các đĩa nhạc được tặng cho khách hàng.[108]
  23. ^ Madonna trình diễn bài hát của John Lennon tại Buổi hòa nhạc Tsunami Aid: Concert for Hope vào tháng 1 năm 2005. Màn trình diễn phát hành ở dạng tải kỹ thuật số trên trang mạng Sony Connect vào ngày sau buổi hòa nhạc. Doanh thu từ lượng tải về được quyên góp cho Tổ chức từ thiện Hội chữ thập đỏ Hoa Kỳ.[109]
  24. ^ Bài hát xuất hiện trong thời gian thu âm cho album Celebration. Cộng đồng người hâm mộ chính thức của Madonna được tặng một đĩa than 12" đặc biệt của bài hát này, với đồ họa đặc biệt.[110]
  25. ^ Được phát hành vào ngày 3 tháng 12, 2012 tại Brazil làm CD miễn phí cho phiên bản đặc biệt của tờ báo Brazil Folha de S. Paulo. Bìa của đĩa đơn do nghệ sĩ graffiti người Brazil Simone Sapienza thực hiện, người chiến thắng cuộc thi Keep Walking Project do Johnnie Walker tài trợ.[111][112]
  26. ^ "Physical Attraction" xếp hạng trên Billboard Hot Dance Club Play tại vị trí thứ 3 cùng với đĩa đơn, "Burning Up".
  27. ^ "Little Star" xếp hạng trên UK Singles Chart tại vị trí thứ 6 cùng với đĩa đơn "The Power of Good-Bye".
  28. ^ Một bản phối lại của "Love Profusion" dẫn đầu Dance Club Songs, nhưng đĩa đơn chính thức chỉ đạt hạng 41.
  29. ^ Trình bày bởi Annie Lennox trong album Songs of Mass Destruction. Madonna xuất hiện trong một đoạn và hát bè với 22 nghệ sĩ khác.[114]
  30. ^ "Living for Love" đạt hạng 21 ở Tây Ban Nha, một phiên bản phối lại của bài hát này xếp hạng riêng ở vị trí thứ 93.[36]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Caulfield, Keith (18 tháng 3 năm 2009). “Madonna Plans New Tracks For Hits Collection”. Billboard. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2009. 
  2. ^ Rooksby 2004, tr. 11–13
  3. ^ Morton 2002, tr. 765
  4. ^ Rooksby 2004, tr. 16
  5. ^ Bronson 2003, tr. 606
  6. ^ Metz & Benson 1999, tr. 299
  7. ^ Rooksby 2004, tr. 21
  8. ^ Bronson 2003, tr. 764
  9. ^ DeKnock, Jan (22 tháng 8 năm 1987). “Madonna Soars to Top of the Charts for the Sixth Time”. Chicago Tribune. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2009. 
  10. ^ Cross 2007, tr. 58
  11. ^ Taraborrelli 2002, tr. 183
  12. ^ Rich, Joshua (20 tháng 11 năm 1998). “Madonna Banned”. Entertainment Weekly. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  13. ^ Grein, Paul (8 tháng 8 năm 1992). “Hot 100 Is Madonna's Playground”. Billboard. tr. 86. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  14. ^ Metz & Benson 1999, tr. 18
  15. ^ Bronson, Fred (25 tháng 2 năm 1995). “Madonna 'Takes A Bow' At No. 1”. Billboard. tr. 154. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  16. ^ Metz & Benson 1999, tr. 167
  17. ^ Fouz-Hernández & Jarman-Ivens 2004, tr. 93
  18. ^ Bronson, Fred (7 tháng 9 năm 2000). “Madonna Hits No. 1 For 12th Time”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  19. ^ Glenday 2007, tr. 187
  20. ^ Bell, Craig (9 tháng 10 năm 2002). “Madonna Ties Fab Four On Singles Honor Roll”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  21. ^ Sexton, Paul (26 tháng 2 năm 2006). “Madonna, Jack Johnson Take Lead On U.K. Charts”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  22. ^ Hasty, Katie (2 tháng 4 năm 2008). “Mariah, Madonna Make Billboard Chart History”. Billboard. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2008. 
  23. ^ Trust, Gary (15 tháng 2 năm 2012). “Madonna Scores Record-Extending 38th Hot 100 Top 10”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2013. 
  24. ^ McIntyre, Hugh (17 tháng 5 năm 2015). “Madonna Has Now Charted More Number One Singles Than Any Other Artist”. Forbes. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2015. 
  25. ^ “Billboard Charts – Decade-end Artists – Singles Sales Artists”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 3 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2010. 
  26. ^ “Billboard Hot 100 Chart 50th Anniversary”. Billboard. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2009. 
  27. ^ “The One And Only... The Musical Superstars”. BBC. Truy cập ngày 9 tháng 6 năm 2008. 
  28. ^ Trust, Gary (6 tháng 11 năm 2012). “Madonna Celebrates 30th Anniversary On Billboard Charts”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2013. 
  29. ^ Hastings, Chris (28 tháng 8 năm 2005). “Madonna uses secret nightclub 'focus groups' to pick songs for new album”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 25 tháng 2 năm 2013. 
  30. ^ Deutsche Presse-Agentur (DPA) (27 tháng 2 năm 2008). “El nuevo disco de Madonna se llamará 'Hardy Candy' y saldrá a la venta a finales de abril”. El Mundo (bằng tiếng Tây Ban Nha và Đức) (Unidad Editorial). Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013. 
  31. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n Vị trí xếp hạng đĩa đơn cao nhất của Madonna trên Billboard Hot 100, Dance Club Songs và The Canadian Charts từ năm 2000–nay: xem nguồn AllMusic và Billboard. Với vị trí xếp hạng đĩa đơn cao nhất của Madonna từ năm 1983–99, trên RPM Singles Chart của Canada: xem nguồn RPM.
  32. ^ a ă â b Xếp hạng Úc:
    • Top 100 (Kent Music Report) trước ngày 19 tháng 6 năm 1988: Kent, David (1993). Australian Chart Book 1970–1992 . St Ives, N.S.W.: Australian Chart Book. tr. 188. ISBN 0-646-11917-6.  N.B. The Kent Report Chart được ARIA cấp phép từ giữa năm 1983 tới 19 tháng 6 năm 1988.
    • Top 50 (ARIA Chart) sau ngày 26 tháng 6 năm 1988: “Madonna Discography: Australia”. Australian-charts.com at Hung Medien. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2010. 
    • Top 100 (ARIA Chart) từ tháng 1 năm 1990 đến tháng 12 năm 2010: Ryan, Gavin (2011). Australia's Music Charts 1988-2010. Mt. Martha, VIC, Australia: Moonlight Publishing. 
    • "Girl Gone Wild" (ARIA Chart): “ARIA Charts: The ARIA Report week commencing 9th April 2012 - Issue #1154” (PDF). Australian Recording Industry Association Ltd. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2015. 
  33. ^ a ă â b c “Madonna Discography: France”. Lescharts.com at Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  34. ^ a ă â b “Madonna Discography: Germany”. GfK Entertainment. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2009. 
  35. ^ a ă â b c Vị trí xếp hạng đĩa đơn cao nhất của Madonna tại Ý, từ năm 1983–99: xem nguồn Hitparadeitalia. Vị trí xếp hạng đĩa đơn cao nhất của Madonna tại Ý, sau năm 2000: xem nguồn Hung Medien.
  36. ^ a ă â b c d Xếp hạng tại Tây Ban Nha:
  37. ^ a ă â b c “Madonna Discography: Switzerland”. Hitparade.ch at Hung Medien. Truy cập ngày 2 tháng 6 năm 2009. 
  38. ^ a ă â b c d đ e Xếp hạng tại Vương quốc Liên hiệp Anh:
  39. ^ Taraborrelli 2002, tr. 77
  40. ^ Grant & Neupert 2003, tr. 9
  41. ^ Myers, Justin (7 tháng 2 năm 2014). “Official Charts Flashback: 30 years of Holiday, Madonna’s first Top 10 hit”. Official Charts Company. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  42. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x y aa ab ac ad “Britain single certifications – Madonna” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009.  Nhập Madonna vào ô Keywords. Chọn Artist trong khung Search by. Chọn Single trong khung By Format. Nhấn Search
  43. ^ Rooksby 2004, tr. 10
  44. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s Jones, Alan (19 tháng 8 năm 2008). “The immaculate guide to 50 years of Madonna”. Music Week. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2013. 
  45. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư “Madonna: The Official Top 40”. MTV. MTV Networks. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2010. 
  46. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n o ô ơ p q r s t u ư v x “American single certifications – Madonna” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  47. ^ Metz & Benson 1999, tr. 111
  48. ^ a ă â b c d đ e ê Myers, Justin (16 tháng 8 năm 2016). “Open your chart to me... Madonna's Official Top 40 Biggest Selling Singles”. Official Charts Company. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2016. 
  49. ^ a ă â b c Scapolo, Dean (2007). The Complete New Zealand Music Charts: 1966–2006. Wellington: Dean Scapolo and Maurienne House. ISBN 978-1877443-00-8. 
  50. ^ Denisoff, R. Serge; D. Romanowski, William (1991). Risky Business: Rock in Film. Transaction Publishers. tr. 482. ISBN 9781412833370. 
  51. ^ Bronson 2003, tr. 674
  52. ^ a ă â b c Durand, Dominic. “Les Singles en Or”. InfoDisc.fr. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2013. 
  53. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k l m n “InfoDisc: Les Certifications (Singles) du SNEP (Bilan par Artiste) – Search for "Madonna". Syndicat National de l'Édition Phonographique. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  54. ^ a ă â b c d đ e ê g “Les Singles en Argent:” (bằng tiếng Pháp). Infodisc.fr. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  55. ^ a ă â b “ARIA Charts – Accreditations – 2001 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  56. ^ a ă â b c d đ e “Musikindustrie: Gold/Platin Datenbank”. Bundesverband Musikindustrie. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  57. ^ スポットライト (bằng tiếng Nhật). Oricon. 25 tháng 4 năm 1988. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2011. 
  58. ^ Levy, Glen (18 tháng 6 năm 2009). “Top Selling Albums and Singles 1989: "Like A Prayer" by Madonna”. Time. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2010. 
  59. ^ a ă â b c d đ e Trust, Gary (30 tháng 4 năm 2010). “Ask Billboard: 'Glee'-ful About Madonna”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 
  60. ^ “Les Singles en Argent:” (bằng tiếng Pháp). Infodisc.fr. Truy cập ngày 2 tháng 5 năm 2013. 
  61. ^ a ă â b c d đ e ê g h i k Ryan, Gavin (2011). Australia's Music Charts 1988-2010. Mt. Martha, VIC, Australia: Moonlight Publishing. 
  62. ^ “Awards 1989: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  63. ^ Bronson 2004, tr. 757
  64. ^ “Hits of 1990”. MSN. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  65. ^ a ă â b c “Canada single certifications – Madonna”. Music Canada. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  66. ^ “Best-Selling Records of 1994”. Billboard. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  67. ^ “Best-Selling Records of 1995”. Billboard. 31 tháng 12 năm 1994. ISSN 0006-2510. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2014. 
  68. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 1997 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  69. ^ “Awards 1997: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  70. ^ Jeffrey, Don (January 31, 1999) (30 tháng 1 năm 1999). Best-selling Records of 1998. Billboard. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2012. 
  71. ^ “Les Ventes & Les Certifications:” (Select Madonna from the drop list) (bằng tiếng Pháp). Infodisc.fr. Truy cập ngày 29 tháng 6 năm 2012. 
  72. ^ a ă “ARIA Charts – Accreditations – 1998 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  73. ^ “Awards 1998: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  74. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 1999 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  75. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2000 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  76. ^ “Awards 2000: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  77. ^ a ă Myers, Justin (7 tháng 2 năm 2014). “Madonna's Official Number One Singles' Sales Revealed!”. Official Charts Company. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2014. 
  78. ^ Austrian Recording Industry Association (2000). “Australian certification”. aria.com.au. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2008. 
  79. ^ Steffen Hung. “The Official Swiss Charts and Music Community”. Swisscharts.com. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2010. 
  80. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2002 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  81. ^ a ă â b “ARIA Charts – Accreditations – 2003 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2010. 
  82. ^ a ă “ARIA Dance Chart” (PDF). Australian Recording Industry Association. Pandora.nla. 22 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 3 tháng 12 năm 2009. 
  83. ^ “M – My Vitriol”. The Official Charts Company. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2016. 
  84. ^ “Hits of 1990”. MSN. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  85. ^ “Top 100 des singles les plus vendus du 21ème siècle: le récap !”. Charts in France. 19 tháng 9 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2014. 
  86. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2005 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  87. ^ “Annee 2012 - Certifications Au 31/10/2012” (PDF). Syndicat National de l'Édition Phonographique. 31 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2012. 
  88. ^ a ă â “Awards 2005: Neu hinzufügen”. Swiss Music Charts. Truy cập ngày 17 tháng 11 năm 2010. 
  89. ^ Durand, Dominic. “Les Singles les plus Vendus en 2006”. InfoDisc.fr. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  90. ^ a ă Caulfield, Keith (6 tháng 11 năm 2006). “Ask Billboard: Stalled 'Jump'. Billboard. Truy cập ngày 28 tháng 7 năm 2009. 
  91. ^ Grein, Paul (18 tháng 7 năm 2012). “Week Ending July 15, 2012. Songs: Blow Me (One More Hit)”. Yahoo! Music. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2012. 
  92. ^ “The Nielsen Company 2008 Canadian Music Industry Report”. Reuters. 7 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 3 năm 2013. 
  93. ^ Goncalves, Julien (11 tháng 3 năm 2015). "Rebel Heart": Madonna déçoit et entre troisième du Top Albums. Les chiffres!” ["Rebel Heart": Madonna disappoints and enters Top 3 on Top Albums. Sales figures!]. ChartsInFrance.net (bằng tiếng Pháp). Truy cập ngày 11 tháng 3 năm 2015. 
  94. ^ “Justin Timberlake's Official Top 20 biggest songs”. Official Charts Company. 14 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016. 
  95. ^ “ARIA Charts – Accreditations – 2008 Singles”. Australian Recording Industry Association. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  96. ^ “Top 50 Canciones Anual 2008 Canciones” (PDF) (bằng tiếng Tây Ban Nha). Productores de Música de España. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2009. 
  97. ^ Durand, Dominic. “Les Singles les plus Vendus en 2008”. InfoDisc.fr. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  98. ^ a ă â “Certificazoni Downloade FIMI” (PDF). Federation of the Italian Music Industry. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2010. 
  99. ^ Durand, Dominic. “Les Singles les plus Vendus en 2009”. InfoDisc.fr. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  100. ^ Durand, Dominic. “Les Singles les plus Vendus en 2012”. InfoDisc.fr. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013. 
  101. ^ a ă â b “Italy single certifications – Madonna” (bằng tiếng Ý). Liên đoàn Công nghiệp âm nhạc Ý. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2015.  Chọn Online ở mục Sezione. Nhập Madonna vào mục Filtra.
  102. ^ Trust, Gary; Caulfield, Keith (9 tháng 3 năm 2012). “Chart Moves: Billboard – March 9, 2012”. Billboard. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2012. 
  103. ^ “BBC Radio 2 – Record of the Week”. BBC Radio 2. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2014. 
  104. ^ Aldi, Giorgia (23 tháng 7 năm 2015). “Madonna — Hold Tight (Radio Date: 24-07-2015)”. Earone (bằng tiếng Ý). Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2015. 
  105. ^ Clerk 2002, tr. 84
  106. ^ Voller 1999, tr. 117
  107. ^ “Motown Set Honors Marvin Gaye”. Billboard. 14 tháng 10 năm 1995. tr. 76. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2009. 
  108. ^ Strasburg, Jenny (25 tháng 7 năm 2003). “Bands to fit the brand”. San Francisco Chronicle. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2011. 
  109. ^ “Stars lend a hand for tsunami relief”. MSNBC. Associated Press. 18 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2005. 
  110. ^ “2010 Gift – Here It Is!”. Madonna.com. 28 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2011. 
  111. ^ “Single "Superstar", de Madonna, ganha versão remix e sai com capa feita por brasileira”. Folha de S. Paulo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 1 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2012. 
  112. ^ “Leitores da Folha recebem "Superstar", o novo single de Madonna”. Folha de S. Paulo (bằng tiếng Bồ Đào Nha). 3 tháng 12 năm 2012. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2012. 
  113. ^ “Madonna discography”. finnishcharts.com. Hung Medien. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2015. 
  114. ^ Chamberlain, Daryl (5 tháng 10 năm 2007). “Aids fight inspires singer Lennox”. BBC. Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2009. 

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]