Vogue (bài hát của Madonna)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
"Vogue"
Đĩa đơn của Madonna
từ album I'm Breathless
Mặt B "Keep It Together" (Remix)
Phát hành 20 tháng 3, 1990 (1990-03-20)
Định dạng
Thu âm Tháng 12 năm 1989 – Tháng 1 năm 1990
Thể loại
Thời lượng 4:50
Hãng đĩa
Sáng tác
Sản xuất
  • Madonna
  • Shep Pettibone
  • Craig Kostich (điều hành)
Thứ tự đĩa đơn của Madonna
"Keep It Together"
(1990)
"Vogue"
(1990)
"Hanky Panky"
(1990)

"Vogue" là một bài hát của ca sĩ người Mỹ Madonna nằm trong album nhạc phim thứ hai của cô, I'm Breathless (1990). Đây là đĩa đơn đầu tiên trích từ album, phát hành ngày 20 tháng 3 năm 1990 bởi Sire Records. Madonna lấy cảm hứng để tạo nên "Vogue" từ những vũ công của điệu nhảy cùng tên cũng như biên đạo múa Jose Gutierez XtravaganzaLuis Xtravaganza từ cộng đồng Harlem "House Ball", nguồn gốc của hình thức múa, và họ đã giới thiệu nó với cô tại câu lạc bộ Sound Factory ở thành phố New York. Bài hát sau đó còn xuất hiện trong các album tuyệt phẩm của cô, như The Immaculate Collection (1990) và Celebration (2009).

"Vogue" là một bản dance-pop và house với sự kết hợp của nhạc dance những năm 1990. Tuy nhiên, nó lại chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ nhạc disco của thập niên 1970. Bài hát cũng chứa một đoạn rap, trong đó nữ ca sĩ liệt kê những tên tuổi nổi tiếng trong kỷ-nguyên-vàng của Hollywood. Nội dung của "Vogue" nói về việc tận hưởng cuộc sống trên sàn nhảy mà không quan tâm vấn đề ai là ai, trong đó hàm chứa chủ đề của sự thoát ly. Về mặt nghệ thuật, bản nhạc nhận được những đánh giá tích cực từ các nhà phê bình đương đại, được xem là một trong những nét nổi bật trong sự nghiệp của Madonna. Về mặt thương mại, "Vogue" vẫn được xem là một trong những bản hit lớn nhất trong sự nghiệp của cô trên thị trường quốc tế, khi đứng đầu các bảng xếp hạng tại hơn 30 quốc gia, bao gồm Úc, Canada, Nhật Bản, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ. Đây là đĩa đơn bán chạy nhất thế giới năm 1990, bán được hơn 6 triệu bản.

Video ca nhạc cho "Vogue" được đạo diễn David Fincher và quay dưới định dạng đen trắng. Nó được lấy cảm hứng từ phong cách của những năm 1920 và 30. Madonna và những vũ công đã sử dụng vũ điệu vogue để di chuyển theo ý tưởng dàn dựng khác nhau. Video này sau đó được liệt kê là một trong những video xuất sắc nhất mọi thời đại bởi nhiều danh sách phê bình khác nhau và các cuộc thăm dò, cũng như giành được 3 giải thưởng tại MTV Video Music Awards năm 1990 trong tổng số 9 đề cử.

Madonna đã biểu diễn ca khúc trong 5 chuyến lưu diễn của mình, tại lễ trao giải Video âm nhạc của MTV năm 1990, và trong buổi diễn giữa hiệp tại Super Bowl XLVI. Bài hát cũng được hát lại nhiều lần bởi nhiều nghệ sĩ khác nhau, như Chipettes trong album của họ Club Chipmunk: The Dance Mixes; nó cũng xuất hiện trong nhạc phim The Devil Wears Prada, cũng như trong tập phim "The Power of Madonna" của Glee. Các nhạc sĩ và nhà phê bình đã ghi nhận những ảnh hưởng từ video cũng như bài hát trong việc phổ cập nền văn hóa ngầm vào nền văn hóa đại chúng, cũng như cách thức mà nó phát triển thành xu hướng mới, trong đó nhạc dance rất được yêu thích phổ biến rộng rãi.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Vào cuối năm 1989, album Like a Prayer của Madonna đã phát hành 3 bản hit tại Mỹ - bài hát chủ đề, "Express Yourself" và "Cherish"; một đĩa đơn top 5 tại châu Âu "Dear Jessie" và đĩa đơn top 20 "Oh Father". Với mong muốn rằng đĩa đơn mới nhất "Keep It Together" sẽ gặt hái thành công trên các bảng xếp hạng, Madonna và nhà sản xuất Shep Pettibone quyết định sáng tác thêm một bài hát mới để đặt cạnh "Keep It Together" và thành quả cuối cùng chính là "Vogue", lấy cảm hứng từ những vũ công của điệu nhảy cùng tên, biểu diễn trong các câu lạc bộ đồng tính ngầm ở New York, trong đó họ sử dụng một loạt các vũ đaọ phức tạp bằng tay, những tư thế cơ thể và dáng điệu của các ngôi sao Hollywood yêu thích của họ, cũng như những người mẫu trên tạp chí Vogue.

Sau khi được giới thiệu đến ban điều hành của Warner Bros., họ đã nhận thấy tiềm năng lớn của nó, cho rằng bài hát sẽ vô cùng lãng phí nếu chỉ làm bản nhạc mặt B, và họ muốn "Vogue" sẽ được phát hành làm đĩa đơn. Mặc dù bài hát không liên quan đến bộ phim sắp ra mắt của Madona lúc bấy giờ Dick Tracy, nó vẫn được đưa vào album nhạc phim I'm Breathless, trong đó bao gồm những bài hát trích từ bộ phim hoặc lấy cảm hứng từ đó. Madonna phải thay đổi một số phần lời của nó, vì bài hát được liên kết với bộ phim qua nhạc phim.[1]

Nội dung bài hát[sửa | sửa mã nguồn]

"Vogue" là một bản dance-pop kết hợp house với những ảnh hưởng của disco.[2][3][4] Nội dung bài hát có chủ đề về sự thoát ly,[5] và nói về cách mọi người có thể tận hưởng khoảng thời gian bên nhau. Trong đoạn cao trào, "Vogue" có một đoạn rap, trong đó Madonna trích dẫn rất nhiều cái tên nổi tiếng từ "kỷ nguyên vàng" của Hollywood.[6]

Phần rap của bài hát đề cập đến cái tên của 16 ngôi sao từ thập niên 1920 đến 1950. Những cái tên được nhắc đến, đó là: Greta Garbo, Marilyn Monroe, Marlene Dietrich, Joe DiMaggio, Marlon Brando, Jimmy Dean, Grace Kelly, Jean Harlow, Gene Kelly, Fred Astaire, Ginger Rogers, Rita Hayworth, Lauren Bacall, Katharine Hepburn, Lana TurnerBette Davis.

Mười trong số những ngôi sao trên (Davis, Dean, Dietrich, DiMaggio, Garbo, Harlow, Rogers, Turner và 2 Kelly) được hưởng một khoản tiền bản quyền 3,750 đô-la với việc Madonna biểu diễn "Vogue" trong buổi diễn giữa hiệp của Super Bowl XLVI (2012) và những hình ảnh của họ được sử dụng tại đây.[7] Vào thời điểm đó, Bacall là người duy nhất còn sống. Bà qua đời ở tuổi 89 vào năm 2014.[8]

Diễn biến thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Madonna trình diễn "Vogue" tại chuyến lưu diễn The MDNA Tour (2012), trong trang phục áo ngực hình chóp nón nổi tiếng do cô lăng-xê, thiết kế bởi Jean Paul Gaultier

Sau khi phát hành, "Vogue" đạt vị trí số một tại hơn 30 quốc gia toàn cầu, trở thành bản hit lớn nhất của Madonna lúc bấy giờ.[9][10] Đây cũng là đĩa đơn bán chạy nhất thế giới năm 1990 với doanh số hơn 2 triệu bản,[11] và đã bán được hơn 6 triệu bản tính đến nay.[12] Tại Mỹ, với một lượng yêu cầu lớn trên sóng phát thanh cũng như sức tiêu thụ thương mại mạnh nhờ vào sự phổ biến của video âm nhạc, "Vogue" xuất hiện trên Billboard Hot 100 ở vị trí thứ 39, vào tháng 4 năm 1990. Bài hát nhanh chóng chiếm lấy ngôi vị quán quân trong tuần thứ 6, thay thế cho "Nothing Compares 2 U" của Sinéad O'Connor đã giữ thứ hạng này trong 4 tuần. Bài hát cũng đạt hạng nhất trên Hot Dance Club Play trong 2 tuần. Ngày 28 tháng 6 năm 1990, "Vogue" đã được chứng nhận 2 đĩa bạch kim bởi Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Mỹ (RIAA) với việc đạt lượng tiêu thụ 2 triệu bản trên khắp Hoa Kỳ.[13] Đến nay, nó vẫn bán chạy đĩa đơn bản cứng bán chạy nhất của Madonna tại đây. "Vogue" cũng bán được thêm 311.000 lượt tải nhạc số, theo Nielsen SoundScan, kể từ khi hình thức này xuất hiện từ năm 2005.[14]

"Vogue" cũng gắt hái nhiều thành công lớn ở thị trường châu Âu, với việc đứng đầu Eurochart Hot 100 Singles trong 8 tuần liên tiếp. Ở Vương quốc Anh, bài hát đánh bại "The Power" của Snap! khỏi vị trí số một và trụ lại trong 4 tuần, tiếp tục xu hướng những bản nhạc club/pop liên tục nắm giữ hạng nhất. Theo The Official Charts Company, ca khúc này đã bán được 505.000 bản và là đĩa đơn bán chạy thứ 11 của cô tại Anh.[15] Được phát hành như là một đĩa đơn mặt A đôi với "Keep It Together", "Vogue" đứng đầu bảng xếp hạng Kent Music Report của Úc trong 5 tuần.

Giải thưởng và đề cử[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải thưởng Hạng mục Kết quả
1990 Giải Video âm nhạc của MTV Video của năm Đề cử
Video xuất sắc nhất của nữ ca sĩ Đề cử
Video Dance xuất sắc nhất Đề cử
Đạo diễn xuất sắc nhất Đoạt giải
Vũ đạo xuất sắc nhất Đề cử
Chỉ đạo nghệ thuật xuất sắc nhất Đề cử
Biên tập xuất sắc nhất Đoạt giải
Kĩ thuật quay phim xuất sắc nhất Đoạt giải
Bình chọn của người xem Đề cử
Giải thưởng Bình chọn của bạn đọc Rolling Stone Đĩa đơn hay nhất Đoạt giải
Video hay nhất Đoạt giải
1991 Giải thưởng Âm nhạc Mỹ Đĩa đơn Dance được yêu thích nhất Đoạt giải
Đĩa đơn Pop/Rock được yêu thích nhất Đề cử
Giải thưởng Juno Đĩa đơn quốc tế xuất sắc nhất Đoạt giải

Danh sách track và định dạng[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng, lượng tiêu thụ đĩa và chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Xếp hạng tuần[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1990) Vị trí
cao nhất
Australian Singles Chart[16] 1
Austrian Singles Chart[17] 7
Belgian VRT Top 30[18] 1
Canadian RPM Singles Chart[19] 1
Dutch Top 40[17] 2
European Hot 100 Singles[20] 1
Finland (Suomen virallinen lista)[21] 1
French Singles Chart[17] 9
German Singles Chart[22] 4
Irish Singles Chart[23] 2
Italian Singles Chart[24] 1
Japanese International Singles Chart[25] 1
New Zealand Singles Chart[17] 1
Norwegian Singles Chart[17] 1
Spanish Singles Chart[26] 1
Swedish Singles Chart[17] 1
Swiss Singles Chart[17] 1
UK Singles Chart[27] 1
US Billboard Hot 100[28] 1
US Hot Dance Music/Club Play[29] 1
US Hot R&B/Hip-Hop Singles & Tracks[29] 16

Xếp hạng cuối năm[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1990) Vị trí
Australian Singles Chart[30] 3
Canadian Singles Chart[31] 4
German Singles Chart[32] 22
Italian Singles Chart[33] 5
Swiss Singles Chart[34] 12
UK Singles Chart[35] 8
US Billboard Hot 100[36] 5

Xếp hạng thập niên[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng (1990–1999) Vị trí
US Billboard Hot 100[37] 93

Thành công trên các bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Tiền nhiệm:
"The Power" của Snap!
Đĩa đơn quán quân tại Liên hiệp Anh
8 tháng 4, 1990 - 29 tháng 4, 1990 (3 tuần)
Kế nhiệm:
"Killer" của Adamski
Tiền nhiệm:
"Nothing Compares 2 U" của Sinéad O'Connor
Đĩa đơn quán quân tại Mỹ
19 tháng 5, 1990 - 2 tháng 6, 1990 (3 tuần)
Kế nhiệm:
"Hold On" của Wilson Phillips

Chứng nhận[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia Chứng nhận Doanh số
Úc (ARIA)[38] 2× Bạch kim 140.000^
Brazil (ABPD)[39] Vàng 100,000*
Canada (Music Canada)[40] Bạch kim 100,000^
Pháp (SNEP)[41] Bạc 220,000[42]
New Zealand (RMNZ)[43] Vàng 7.500*
Anh (BPI)[44] Vàng 530,600[45]
Hoa Kỳ (RIAA)[46] 2× Bạch kim 2.000.000^
Nhạc số
Hoa Kỳ (RIAA)[47] 311,000[48]

*Chứng nhận dựa theo doanh số tiêu thụ
^Chứng nhận dựa theo doanh số nhập hàng
xChưa rõ ràng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Taraborrelli 2002, tr. 182–183
  2. ^ Jose F. Promis. “Vogue - Madonna - Review”. AllMusic. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2013. 
  3. ^ “Rewinding the Charts: 25 Years Ago, Madonna Was in 'Vogue' Atop the Hot 100”. Billboard. Truy cập 15 tháng 10 năm 2015. 
  4. ^ “Vogue' Producer Shep Pettibone's First Interview in 20 Years: On Making a Madonna Classic & Why He Left Music Behind”. 
  5. ^ Mark Coleman (ngày 14 tháng 6 năm 1990). “I'm Breathless | Album Reviews”. Rolling Stone. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2012. 
  6. ^ “Vogue Madonna”. Genius Lyrics. Truy cập ngày 1 tháng 1 năm 2015. 
  7. ^ Gardner, Eriq (ngày 28 tháng 9 năm 2012). “Lawsuit Aims to Stop Marlon Brando Estate From Suing Madonna Over 'Vogue'. The Hollywood Reporter. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2013. 
  8. ^ Krule, Miriam (ngày 12 tháng 8 năm 2014). “All 16 of the Icons Name-Dropped in Madonna’s "Vogue" Are Now Gone”. Slate. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2014. 
  9. ^ Cover Media (ngày 29 tháng 7 năm 2011). “Madonna: Beth Ditto is great”. Yahoo! News. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2011. 
  10. ^ Lamb, Bill. “Madonna's Top 10 Pop Hits – The Biggest Madonna Songs”. About.com. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2010. 
  11. ^ Holden, Stephen (ngày 5 tháng 8 năm 1990). “Strike the Pose: When Music Is Skin Deep POP VIEW; Video Age Music: Stark Images, Shrill Voices, Skin Deep”. The New York Times. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2012. 
  12. ^ “Hits of 1990”. NineMSN (PBL Media / Microsoft). Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2010. 
  13. ^ “Gold & Platinum Searchable Database - ngày 30 tháng 3 năm 2014”. RIAA. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  14. ^ “ACTUAL ARTICLE TITLE BELONGS HERE!”. Billboard. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2012. 
  15. ^ “Madonna: The Official Top 40”. MTV. MTV Networks. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2010. 
  16. ^ Kent, David (1993). Australian Chart Book 1970–1992. Australian Chart Book, St Ives, N.S.W. ISBN 0-646-11917-6. 
  17. ^ a ă â b c d đ “Madonna – Material Girl (song)” (bằng tiếng German). Ö3 Austria Top 40. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  18. ^ “Madonna - Vogue - Songs details” (bằng tiếng Dutch). Ultratop 50. Hung Medien. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  19. ^ “Top Singles - Volume 52, No. 5, ngày 16 tháng 6 năm 1990”. RPM. Ngày 16 tháng 6 năm 1990. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  20. ^ Eurochart Hot 100”. Music & Media (Amsterdam: European Music Report) 5 (16). Ngày 21 tháng 4 năm 1990. OCLC 29800226. 
  21. ^ Nyman, Jake (2005). Suomi soi 4: Suuri suomalainen listakirja (bằng tiếng Finnish) (ấn bản 1). Helsinki: Tammi. ISBN 951-31-2503-3. 
  22. ^ “Chartverfolgung – Madonna – Vogue” (bằng tiếng German). Media Control Charts. Musicline.de. Ngày 4 tháng 6 năm 1990. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  23. ^ “Irish Singles Chart – Search for song” (bằng tiếng Irish). Irish Recorded Music Association. Ngày 29 tháng 3 năm 1990. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  24. ^ “Madonna: Discografia Italiana” (bằng tiếng Italian). Federation of the Italian Music Industry. 1984–1999. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2010. 
  25. ^ Okamoto, Satoshi (2006). Oricon Single Chart Book: Complete Edition 1968–2005. Roppongi, Tokyo: Oricon Entertainment. ISBN 4-87131-076-0. 
  26. ^ Salaverri, Fernando (tháng 9 năm 2005). Sólo éxitos: año a año, 1959–2002 (ấn bản 1). Spain: Fundación Autor-SGAE. ISBN 84-8048-639-2. 
  27. ^ “Chartstats – Madonna – Vogue”. The Official Charts Company. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  28. ^ “The Billboard Hot 100: Week of ngày 19 tháng 5 năm 1990”. Billboard. Ngày 19 tháng 5 năm 1990. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  29. ^ a ă “Madonna > Charts & Awards > Billboard Singles”. Allmusic. Rovi Corporation. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2011. 
  30. ^ “Australian Singles Chart”. Fortunecity.com. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2012. 
  31. ^ “RPM Top Singles of 1990”. 
  32. ^ “INFINITY CHARTS: German Top 20”. Ki.informatik.uni-wuerzburg.de. Ngày 17 tháng 2 năm 1997. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2014. 
  33. ^ “I singoli più venduti del 1990” (bằng tiếng Italian). 
  34. ^ “Top Swiss Singles 1990”. 
  35. ^ “Top UK Hits of 1990”. 
  36. ^ “Billboard Top 100 – 1990”. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2009. 
  37. ^ Geoff Mayfield (ngày 25 tháng 12 năm 1999). 1999 The Year in Music Totally '90s: Diary of a Decade – The listing of Top Pop Albums of the '90s & Hot 100 Singles of the '90s. Billboard. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2010. 
  38. ^ “Accreditation Awards”. Australian Fun Countdowns. Ngày 7 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  39. ^ “Brasil single certifications – Madonna” (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Associação Brasileira dos Produtores de Discos. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  40. ^ “Canada single certifications – Madonna”. Music Canada. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  41. ^ “France single certifications – Madonna” (bằng tiếng Pháp). InfoDisc.  Chọn Madonna và nhấn OK
  42. ^ “Les Singles en Argent:” (bằng tiếng French). Infodisc.fr. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012. 
  43. ^ Scapolo, Dean (2007). The Complete New Zealand Music Charts 1966–2006 . Maurienne House. ISBN 978-1-877443-00-8. 
  44. ^ “Britain single certifications – Madonna” (bằng tiếng Anh). British Phonographic Industry. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012.  Nhập Madonna vào ô Keywords. Chọn Artist trong khung Search by. Chọn Single trong khung By Format. Nhấn Search
  45. ^ Myers, Justin (ngày 7 tháng 3 năm 2015). “Number 1 today in 1990: Madonna – Vogue”. Official Charts Company. Truy cập ngày 7 tháng 3 năm 2015. 
  46. ^ “American single certifications – Madonna” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ. Truy cập ngày 24 tháng 5 năm 2012.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  47. ^ “American single certifications – Madonna – Vogue” (bằng tiếng Anh). Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ.  Nếu cần, nhấn Advanced Search, dưới mục Format chọn Single rồi nhấn Search
  48. ^ Trust, Gary (ngày 30 tháng 4 năm 2010). “Ask Billboard: 'Glee'-ful About Madonna”. Billboard (Nielsen Business Media, Inc). Truy cập ngày 22 tháng 4 năm 2012. 

Nguồn[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]