Marvin Gaye

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Marvin Gaye
Marvin Gaye (1973).png
Gaye năm 1973
Sinh Marvin Pentz Gay Jr.[1]
2 tháng 4, 1939(1939-04-02)
Washington, D.C., Mỹ
Mất 1 tháng 4, 1984 (44 tuổi)
Los Angeles, California, Mỹ
Nguyên nhân mất Bị bắn chết bởi súng
Nghề nghiệp Ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất thu âm
Tôn giáo Ngũ Tuần
Phối ngẫu Anna Gordy (1963–1977; li hôn)
Janis Hunter (1977–1981; li hôn)
Con cái 3; including Nona Gaye
Cha mẹ Marvin Gay Sr.
Alberta Gay
Người thân Frankie Gaye (em trai)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại R&B, soul, psychedelic soul, funk, jazz
Nhạc cụ Hát, piano, keyboard, trống, định âm, synthesizer
Năm hoạt động 1959–1984
Hãng đĩa Tamla/Tamla-Motown, Columbia
Hợp tác với Harvey Fuqua, Mary Wells, Kim Weston, Tammi Terrell, Diana Ross, The Funk Brothers
Website www.marvingayepage.net

Marvin Gaye ( /ɡ/;[2] tên khai sinh Marvin Pentz Gay Jr.; 2 tháng 4 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 1984)[1] là ca sĩ, nhạc sĩ nhạc soul và nhà sản xuất thu âm người Mỹ. Gaye khởi nghiệp với việc xây dựng thành công cho hãng Motown thập niên 1960, ban đầu dưới vai trò nghệ sĩ khách mời và sau này là ca sĩ solo với nhiều bản hit như "How Sweet It Is (To Be Loved By You)" và "I Heard It Through the Grapevine", song ca cùng Mary Wells, Kim WestonTammi Terrell và được người hâm mộ gọi là Hoàng tử Motown hay Hoàng tử nhạc soul.

Trong thập niên 1970, Gaye thu âm 2 album chủ đề là What's Going OnLet's Get It On và trở thành một trong những nghệ sĩ đầu tiên chia tay Motown trong thời kỳ thống trị của hãng đĩa này.

Những sản phẩm sau này của Gaye có ảnh hưởng lớn tới R&B đương đại, bao gồm các tiểu thể loại neo-soulquiet storm[3]. Sau thời kỳ bị kiện ở châu Âu vì tội trốn thuế đầu thập niên 1980, Gaye trở lại Mỹ và cho phát hành ca khúc đoạt giải Grammy "Sexual Healing" cùng album Midnight Love.

Ngày 1 tháng 4 năm 1984, chỉ 1 ngày trước sinh nhật lần thứ 45, Gaye bị cha của mình là Marvin Gay Sr. sát hại bằng súng trước cửa nhà ở West Adams, Los Angeles[4][5]. Sau cái chết của anh, rất nhiều giải thưởng và danh hiệu đã được truy tặng để tôn vinh Gaye, bao gồm Giải Grammy Thành tựu trọn đời, Đại sảnh Danh vọng R&BĐại sảnh Danh vọng Rock and Roll[6].

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Phim[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Simmonds 2008, tr. 190–192.
  2. ^ "Gaye". Random House Webster's Unabridged Dictionary.
  3. ^ Weisbard, Eric; Marks, Craig (ngày 10 tháng 10 năm 1995). Spin Alternative Record Guide (Ratings 1–10) (ấn bản 1). New York, NY: Vintage Books. tr. 202–205. ISBN 0-679-75574-8. OCLC 32508105. 
  4. ^ “Marvin Gaye House”. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2012. 
  5. ^ Communications, Emmis (tháng 1 năm 1998). Dial Them For Murder. Los Angeles Magazine. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012. 
  6. ^ “Marvin Gaye Timeline”. The Rock and Roll Hall of Fame. Ngày 21 tháng 1 năm 1987. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2010. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

Tài liệu khác
  • Davis, Sharon (1991). Marvin Gaye: I Heard It Through The Grapevine. Croydon, Surrey: Book marque Ltd. ISBN 1-84018-320-9.
  • Gambaccini, Paul (1987). The Top 100 Rock 'n' Roll Albums of All Time. New York: Harmony Books.
  • Garofalo, Reebee (1997). Rockin' Out: Popular Music in the USA. Allyn & Bacon. ISBN 0-205-13703-2. 
  • Heron, W. Kim (ngày 8 tháng 4 năm 1984). Marvin Gaye: A Life Marked by Complexity. Detroit Free Press.
  • Turner, Steve (1998). Trouble Man: The Life and Death of Marvin Gaye. London: Michael Joseph. ISBN 0-7181-4112-1.
  • Ward, Ed, Geoffrey Stokes and Ken Tucker (1986). Rock of Ages: The Rolling Stone History of Rock and Roll. Rolling Stone Press. ISBN 0-671-54438-1. 
  • White, Adam (1985). The Motown Story. London: Orbis. ISBN 0-85613-626-3.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Marvin Gaye