Bước tới nội dung

Fulham F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Fulham
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Fulham
Biệt danhThe Cottagers
Thành lập1879; 147 năm trước (1879) (với tên gọi Câu lạc bộ bóng đá & cricket St Andrews)
SânCraven Cottage
Sức chứa29.130[1]
Chủ sở hữuShahid Khan[2]
Chủ tịch điều hànhShahid Khan[2]
Người quản lýMarco Silva
Giải đấuGiải bóng đá Ngoại hạng Anh
2024-25Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, thứ 11 trên 20
Websitefulhamfc.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Fulham (tiếng Anh: Fulham Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Fulham, phía tây London, Anh. Câu lạc bộ hiện thi đấu tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh, hạng đấu cao nhất của hệ thống giải bóng đá Anh. Được thành lập vào năm 1879, đội bóng đã chơi các trận sân nhà tại Craven Cottage từ năm 1896. Fulham có các mối kình địch ở Derby Tây Luân Đôn với Chelsea, BrentfordQueens Park Rangers. Câu lạc bộ sử dụng áo trắng và quần đùi đen làm trang phục thi đấu từ năm 1896, và bộ trang phục này đã được duy trì kể từ đó.

Được thành lập vào năm 1879, đây là câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp lâu đời nhất của London. Họ gia nhập Southern League vào năm 1898 và giành hai chức vô địch First Division (1905-06 và 1906-07), cùng với hai chức vô địch Second Division và một chức vô địch Western League. Được bầu vào Second Division của Football League vào năm 1907, Fulham sau đó giành chức vô địch Third Division South mùa giải 1931-32, bốn năm sau khi bị xuống hạng. Họ giành chức vô địch Second Division mùa giải 1948-49, nhưng xuống hạng sau ba mùa giải. Thăng hạng trở lại First Division vào mùa giải 1958-59, phong độ của ngôi sao Johnny Haynes đã giúp Fulham trụ lại ở hạng đấu cao nhất cho đến khi liên tiếp xuống hạng vào năm 1969. Họ thăng hạng ở mùa giải 1970-71 và sau đó lọt vào trận chung kết của Cúp FA mùa giải 1974-75.

Fulham trôi dạt giữa hạng Hai và hạng Tư cho đến khi được Mohamed Al-Fayed tiếp quản vào năm 1997. Sau đó họ giành hai chức vô địch hạng đấu chỉ trong ba mùa giải để lên chơi tại Premier League vào năm 2001. Họ giành UEFA Intertoto Cup năm 2002 và để thua trong trận chung kết năm 2010 của UEFA Europa League. Tuy nhiên, chuỗi 13 mùa giải liên tiếp ở hạng đấu cao nhất khép lại bằng việc xuống hạng vào năm 2014. Kể từ đó, câu lạc bộ di chuyển qua lại giữa hạng Nhất và hạng Hai dưới quyền sở hữu mới của Shahid Khan. Fulham đổi hạng trong năm mùa giải liên tiếp từ 2017-18 đến 2021-22, bị xuống hạng sau khi thắng các trận chung kết play-off EFL Championship các năm 20182020. Sau đó, họ giành chức vô địch EFL Championship 2021-22 và đã ổn định tại Premier League kể từ năm 2022.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

1879-1907: Thành lập và những năm ở Southern League

[sửa | sửa mã nguồn]
Tập tin:Fulham team from 1886 season.jpg
Đội hình Second XI năm 1886

Fulham được thành lập vào năm 1879 với tên gọi Fulham St Andrew's Church Sunday School F.C.,[3][4] do các tín đồ (đa phần chơi cricket giỏi) tại Church of England trên đường Star Road, Tây Kensington (St Andrew's, Fulham Fields), thành lập.[5] Nhà thờ gốc của Fulham vẫn còn tồn tại đến ngày nay với một tấm bảng tưởng niệm việc thành lập đội bóng. Họ giành West London Amateur Cup vào năm 1887 và, sau khi rút gọn tên từ Fulham St Andrews xuống hình thức hiện tại vào tháng 12 năm 1888, họ tiếp tục giành chức vô địch West London League ngay trong lần tham dự đầu tiên vào năm 1893.[6] Một trong những bộ trang phục đầu tiên của câu lạc bộ là áo chia nửa đỏ nửa trắng với quần đùi trắng, được sử dụng trong mùa giải 1886-87.[7] Fulham bắt đầu thi đấu trên sân hiện tại Craven Cottage từ năm 1896, trận đầu tiên tại đây là gặp đối thủ nay đã giải thể Minerva.[8]

Tập tin:Image of fulham squad c.1903.jpg
Bưu thiếp chụp đội hình mùa giải 1903-04

Câu lạc bộ chuyển sang chuyên nghiệp vào ngày 12 tháng 12 năm 1898, cũng là năm họ được nhận vào Second Division của Southern League. Họ là câu lạc bộ thứ ba đến từ London chuyển sang chuyên nghiệp, sau Arsenal (khi đó có tên Royal Arsenal 1891) và Millwall vào năm 1893. Họ sử dụng trang phục đỏ và trắng trong mùa giải 1896-97.[9]mùa giải 1902-03, câu lạc bộ giành quyền thăng hạng từ hạng đấu này để lên Southern League First Division. Bộ trang phục toàn trắng đầu tiên được ghi nhận của câu lạc bộ xuất hiện vào năm 1903, và kể từ đó đội bóng luôn thi đấu với áo trắng cùng quần đùi đen; tất thay đổi qua nhiều giai đoạn với màu đen và/hoặc trắng, nhưng hiện nay thường chỉ là màu trắng.[10] Câu lạc bộ giành chức vô địch Southern League hai lần, vào các mùa giải 1905-06 và 1906-07.[11]

1907-1949: Football League

[sửa | sửa mã nguồn]
Tập tin:Rabbit Hutch at the Cottage.jpg
Khán đài "Rabbit Hutch" dọc theo Stevenage Road vào một thời điểm nào đó trước đợt thiết kế lại của Archibald Leitch trong giai đoạn 1904-05

Fulham gia nhập Football League sau danh hiệu Southern League thứ hai của mình. Trận đấu đầu tiên của câu lạc bộ tại giải, khi thi đấu ở Second Division mùa 1907-08, chứng kiến họ thua 0-1 trên sân nhà trước Hull City vào tháng 9 năm 1907. Chiến thắng đầu tiên đến chỉ vài ngày sau đó trên sân Baseball Ground của Derby County với tỉ số 1-0. Fulham kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tư, kém suất thăng hạng ba điểm. Câu lạc bộ tiến một mạch tới trận bán kết Cúp FA mùa giải đó, trong hành trình có cả chiến thắng 8-3 trên sân khách trước Luton Town. Tuy nhiên, ở bán kết, họ bị Newcastle United đánh bại nặng nề 0-6. Đây vẫn là thất bại đậm nhất trong lịch sử các trận bán kết Cúp FA.[12] Hai năm sau, câu lạc bộ giành London Challenge Cup ở mùa giải 1909-10. Mùa giải đầu tiên của Fulham tại Division Two hóa ra là vị trí cao nhất mà câu lạc bộ đạt được trong suốt 21 năm tiếp theo, cho đến mùa giải 1927-28 khi họ bị xuống Third Division South, giải đấu được lập ra vào năm 1920. Hussein Hegazi, một tiền đạo người Ai Cập, là một trong những cầu thủ không phải người Anh đầu tiên ra sân tại Football League, dù ông chỉ chơi đúng một trận cho Fulham vào năm 1911, ghi được một bàn thắng, trước khi sau đó chơi cho đội ngoài hệ thống giải Dulwich Hamlet.[13]

Trong giai đoạn này, doanh nhân kiêm chính trị gia Henry Norris là chủ tịch câu lạc bộ, và điều thú vị là ông có vai trò gián tiếp trong việc hình thành đối thủ địa phương của Fulham là Chelsea. Khi ông từ chối lời đề nghị của doanh nhân Gus Mears muốn chuyển Fulham tới khu đất nơi sân Stamford Bridge hiện nay tọa lạc, Mears đã quyết định lập đội bóng riêng để sử dụng sân đó. Năm 1910, Norris bắt đầu kiêm nhiệm vị trí của mình tại Fulham với chức chủ tịch Arsenal. Fulham trở thành đội bóng Anh đầu tiên bán hot dog tại sân nhà của mình vào năm 1926.[14] Fulham có một số tuyển thủ quốc tế nổi tiếng trong thập niên 1920, bao gồm Len OliverAlbert Barrett.[15]

Thành tích hằng năm của Fulham tại Football League

Sau khi lần lượt xếp thứ năm, thứ bảy và thứ chín (trong tổng số 22 đội) ở ba mùa giải đầu tiên tại Third Division South, Fulham giành chức vô địch hạng đấu này ở mùa giải 1931-32. Qua đó, họ đánh bại Torquay United với tỉ số 10-2, thắng 24 trong tổng số 42 trận và ghi 111 bàn, nhờ vậy thăng hạng trở lại Second Division. Ở mùa giải kế tiếp, họ lỡ cơ hội thăng hạng liên tiếp lần thứ hai khi xếp thứ ba sau Tottenham HotspurStoke City. Sau đó là một chuỗi thành tích thi đấu thất thường tại giải, dù câu lạc bộ cũng lọt vào thêm một trận bán kết Cúp FA ở mùa giải 1935-36. Fulham cũng đã hòa với đội tuyển Áo vào năm 1936 trước khi Anschluss diễn ra.[16] Vào ngày 8 tháng 10 năm 1938, Craven Cottage chứng kiến lượng khán giả đông nhất mọi thời đại trong một trận gặp Millwall, với 49.335 người tới xem.[17]

Bóng đá giải vô địch và cúp bị gián đoạn nghiêm trọng khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ vào năm 1939; Football League tạm thời được chia thành các khu vực, đồng thời có Football League War Cup toàn quốc và London War Cup để tranh tài. Cũng như nhiều sân bóng khác, Craven Cottage được dùng cho việc rèn thể lực và huấn luyện lực lượng dự bị thanh niên của quân đội.[18] Sau chiến tranh, một chương trình thi đấu giải vô địch đầy đủ chỉ được khôi phục từ mùa giải 1946-47. Ở mùa giải thứ ba của giai đoạn hiện được xem là kỉ nguyên hiện đại của bóng đá, Fulham đứng đầu Second Division, với thành tích thắng-thua-hòa là 24-9-9 (giống hệt thành tích giúp họ vô địch Third Division South 17 năm trước đó). John Fox Watson thực hiện một vụ chuyển nhượng tiên phong sang Real Madrid vào năm 1948, trở thành một trong những cầu thủ đầu tiên đến từ Vương quốc Liên hiệp Anh ký hợp đồng với một đội bóng lớn ở nước ngoài.

1949-1970: Những người Cottagers ở First Division

[sửa | sửa mã nguồn]

Việc thăng hạng lên hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh khiến câu lạc bộ thi đấu không tốt, khi xếp thứ 17 trong năm đầu tiên và thứ 18 trong năm thứ hai. Chỉ trong mùa giải thứ ba chơi ở First Division, Fulham xếp bét trong giải đấu 22 đội ở mùa giải 1951-52, chỉ thắng tám trong số 42 trận. Vào ngày 20 tháng 5 năm 1951, Fulham chơi một trong những trận đầu tiên của mình tại Bắc Mỹ trong một trận giao hữu với Celtic trên Sân vận động DelorimierMontreal trước 29.000 khán giả.[19][20]

Fulham FC năm 1958 với Johnny Haynes, cầu thủ số hai từ phải sang ở hàng trước

Có lẽ nhân vật có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử Fulham là Johnny Haynes.[21] "Mr. Fulham" hay "The Maestro", như Haynes về sau được biết đến, ký hợp đồng với The Cottagers khi còn là học sinh vào năm 1950, có trận ra mắt đội một vào Ngày Tặng quà trước Southampton tại Craven Cottage trong mùa giải xuống hạng 1951/52. Haynes chơi thêm 18 năm nữa, có 657 lần ra sân (cùng nhiều kỉ lục khác của câu lạc bộ), với lần cuối cùng thi đấu cho Fulham là vào ngày 17 tháng 1 năm 1970. Ông thường được xem là cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử Fulham,[22] và không bao giờ chơi cho bất kì đội bóng nào khác ở Anh.[23] Ông có 56 lần khoác áo đội tuyển Anh (22 lần làm đội trưởng),[24] trong đó nhiều lần đến khi đang chơi cho Fulham ở Second Division. Haynes bị thương trong một vụ tai nạn xe hơi tại Blackpool vào năm 1962, nhưng theo chính lời ông thừa nhận thì chưa bao giờ lấy lại được thể lực hay phong độ để chơi cho đội tuyển Anh lần nữa, vì thế lỡ cơ hội góp mặt trong chiến thắng của Anh tại 1966 FIFA World Cup, giải đấu mà ông hoàn toàn có khả năng được lựa chọn.[25] Khán đài Stevenage Road Stand được đổi tên để vinh danh ông sau khi ông qua đời trong một vụ tai nạn xe hơi năm 2005.[17]

Fulham lọt vào bán kết Cúp FA 1957-58, là hành trình xa nhất của Haynes ở cúp quốc nội và cũng là lúc ông tiến gần nhất đến một danh hiệu lớn khi thi đấu tại Anh. Họ bị loại trong trận đá lại bởi phần còn lại của đội hình Manchester United Busby Babes, đội vừa bị tàn phá bởi thảm họa hàng không München một tháng trước đó. United là đội hạng cao đầu tiên mà Fulham gặp trên hành trình cúp ấy. Fulham giành quyền thăng hạng trở lại First Division ở mùa giải tiếp theo khi kết thúc ở vị trí á quân sau Sheffield Wednesday. Cũng gia nhập Fulham vào năm 1958 là Graham Leggat, người sau đó ghi 134 bàn sau 277 lần ra sân (trở thành chân sút đứng thứ năm mọi thời đại của câu lạc bộ). Ở mùa giải 1959-60, họ đứng thứ mười tại First Division; cho đến khi xếp thứ chín ở mùa giải 2003-04, đây vẫn là vị trí cao nhất của họ tại giải vô địch. Thành tích đó đi kèm với thêm một lần vào tới tốp bốn ở Cúp FA năm 1962. Vào thời điểm này, câu lạc bộ thường xuyên thi đấu trước lượng khán giả hơn 30.000 người tại Craven Cottage,[26] dù vẫn gặp khó khăn tại giải.[cần dẫn nguồn]

Câu lạc bộ nổi tiếng là luôn phải vật lộn chống xuống hạng trong hầu hết các mùa giải, với rất nhiều lần thoát hiểm trong gang tấc; không lần nào đáng chú ý hơn mùa giải 1965-66.[27] Vào sáng ngày 26 tháng 2 năm 1966, Fulham đứng bét bảng với chỉ 15 điểm sau 29 trận. Trong 13 trận cuối, Fulham thắng chín và hòa hai để trụ hạng thành công. Tuy nhiên, cuối cùng câu lạc bộ vẫn phải xuống hạng ở mùa giải 1967-68, khi chỉ thắng mười trong tổng số 42 trận. Dẫu vậy, ngay cả điều đó cũng chưa thảm hại bằng tai họa ở mùa giải tiếp theo. Chỉ thắng bảy trong 42 trận, câu lạc bộ rớt xuống Third Division.[28]

1970-1994: Thăng trầm đan xen ngoài hạng đấu cao nhất

[sửa | sửa mã nguồn]

Quãng thời gian vắng mặt ở Third Division nói trên chỉ kéo dài hai mùa giải trước khi câu lạc bộ thăng hạng trở lại Second Division với vị trí á quân ở mùa giải 1970-71. Giai đoạn này cũng chứng kiến Fulham được mời tham dự Anglo-Italian Cup, giải đấu mà đội bóng hòa cả bốn trận trong mùa giải 1972-73. Điều này mở ra một giai đoạn chiêu mộ những cái tên nổi bật dưới thời Alec Stock vào giữa thập niên 1970, trong đó có Alan MulleryBobby Moore. Fulham lọt vào trận chung kết Cúp FA duy nhất trong lịch sử tính đến nay vào năm 1975, sau khi thắng trận bán kết đầu tiên sau năm lần góp mặt. Câu lạc bộ để thua 0-2 trước West Ham United trong trận chung kết trên sân Wembley. Kết quả đó giúp đội bóng giành quyền tham dự thêm một giải đấu châu Âu khác là Anglo-Scottish Cup, nơi họ vào đến chung kết nhưng để thua Middlesbrough.[29]

George Best ra sân 47 lần cho câu lạc bộ trong mùa giải 1976-77. Rodney Marsh, người trưởng thành cùng Fulham trong thập niên 1960 trước khi lên chơi ở First Division và khoác áo đội tuyển Anh, cũng trở lại câu lạc bộ trong chính mùa giải đó, nhưng chỉ thi đấu 16 trận. Điều này khép lại một trong những thời kì thành công nhất trong lịch sử Fulham.

Câu lạc bộ lại xuống hạng sau khi chỉ thắng 11 trong 42 trận ở mùa giải 1979-80, điều cuối cùng dẫn tới việc Bobby Campbell bị sa thải vào tháng 10 năm 1980 và được thay thế bởi Malcolm Macdonald. Với một đội hình mạnh trong giai đoạn ông cầm quyền từ năm 1980 đến năm 1984 (gồm những cầu thủ như Ray Houghton, Tony Gale, Paul Parker, Gerry PeytonRay Lewington), Fulham giành quyền thăng hạng một lần nữa ở mùa giải 1981-82 để trở lại Second Division, dù niềm vui ấy bị phủ bóng bởi vụ tự sát của cựu hậu vệ Dave Clement chỉ vài tuần trước khi suất thăng hạng được xác nhận.

Năm 1980, Fulham thành lập câu lạc bộ rugby league mà hiện nay là London Broncos, được kì vọng trở thành một nguồn thu bổ sung cho đội bóng đá, nhưng trên thực tế lại thua lỗ mỗi năm trong thời gian còn liên kết với Fulham F.C. Khi ấy mang tên "Fulham Rugby League", đội chơi tại Craven Cottage cho tới khi tách khỏi câu lạc bộ mẹ vào năm 1984.[30]

Năm 1978, Fulham chiêu mộ Gordon "Ivor" Davies, người sau hai giai đoạn khoác áo Fulham đã trở thành chân sút ghi nhiều bàn nhất mọi thời đại của câu lạc bộ với tổng cộng 178 bàn trên mọi đấu trường; kỉ lục đó đến nay vẫn còn tồn tại. Fulham suýt giành được suất thăng hạng liên tiếp lên First Division, nhưng thua Derby County 0-1 trên sân khách ở vòng cuối của mùa giải 1982-83 – dù trận đấu đã bị hủy bỏ sau 88 phút vì một vụ khán giả tràn xuống sân và điều khó hiểu là chưa bao giờ được đá lại hoặc cho hoàn tất. Đội hình từng hứa hẹn rất nhiều đó nhanh chóng bị bán đi khi câu lạc bộ ngập trong nợ nần, vì thế việc đội bóng tiếp tục rớt xuống Third Division vào năm 1986 không phải điều quá bất ngờ. Fulham suýt phá sản vào năm 1987 sau một nỗ lực sáp nhập thiếu sáng suốt với Queens Park Rangers. Chỉ nhờ sự can thiệp của cựu cầu thủ Jimmy Hill mà câu lạc bộ mới tiếp tục tồn tại thông qua việc thành lập công ty mới Fulham FC (1987) Ltd. Năm 1987, câu lạc bộ tham dự loạt sút luân lưu khi đó được ghi nhận là dài nhất – phải cần tới 28 quả luân lưu để phân định thắng bại giữa họ và Aldershot sau một trận Football League Trophy. Về sau Fulham phá kỉ lục đó khi gặp đội thuộc ChampionshipPreston North End tại EFL Cup năm 2024, khi phải cần tới 31 quả luân lưu mới phân định được hai đội.[31]

Năm 1992, việc thành lập Premier League và sự rút lui của 22 câu lạc bộ khỏi Football League đã đưa Fulham trở lại Second Division của hệ thống này. Tuy nhiên, câu lạc bộ lại xuống hạng xuống Third Division mới sau một mùa giải 1993-94 nghèo nàn, sau đó Ian Branfoot được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng.[32]

1994-1997: Giai đoạn thấp nhất của Fulham

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi kết thúc ở vị trí thứ tám trong mùa giải đầu tiên của Branfoot trên cương vị huấn luyện viên trưởng, câu lạc bộ rơi xuống thứ hạng chung cuộc thấp nhất trong lịch sử ở mùa giải 1995-96, khi đứng thứ 17 trong số 24 đội.[33][34] Branfoot bị sa thải khỏi cương vị huấn luyện viên trưởng, nhưng vẫn tiếp tục ở lại câu lạc bộ trong những vai trò khác thêm một thời gian ngắn. Tháng 2 năm 1996, Micky Adams trở thành cầu thủ kiêm huấn luyện viên trưởng. Adams giúp phong độ đội bóng cải thiện và đưa Fulham thoát khỏi nguy cơ xuống hạng. Ở mùa giải tiếp theo, ông đưa đội cán đích ở vị trí á quân, lỡ mất ngôi đầu vì vài năm trước đó giải đấu đã bỏ hệ thống "hiệu số bàn thắng bại" cũ để thay bằng tiêu chí "tổng số bàn thắng ghi được", nghĩa là Fulham xếp sau Wigan Athletic. Chủ tịch câu lạc bộ Jimmy Hill từng là người đề xuất vào năm 1992 rằng số bàn thắng ghi được nên dùng để phân định thứ hạng giữa các đội bằng điểm, và các câu lạc bộ thuộc Football League đã bỏ phiếu thông qua hệ thống đó.

1997-2001: Al-Fayed tiếp quản

[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh nhân người Ai Cập Mohamed Al-Fayed mua lại câu lạc bộ với giá 6,75 triệu bảng Anh vào mùa hè năm 1997.[35] Việc mua lại được thực hiện thông qua Muddyman Group của Bill Muddyman.[35] Al-Fayed thay Micky Adams sau khi đội bóng khởi đầu mùa giải ở mức trung bình. Ông thiết lập một "dream team" quản lí hai tầng, với Ray Wilkins làm huấn luyện viên đội một và Kevin Keegan làm giám đốc điều hành,[36] đồng thời cam kết rằng câu lạc bộ sẽ lên Premier League trong vòng năm năm. Sau một cuộc tranh cãi về việc chọn đội hình, Wilkins rời câu lạc bộ vào tháng 5 năm 1998, nhường toàn bộ trách nhiệm huấn luyện lại cho Keegan. Keegan sau đó đưa đội bóng thăng hạng ở mùa giải tiếp theo với 101 điểm trong tổng số 138 điểm có thể giành được, sau khi chi 1,1 triệu bảng để ký hợp đồng với Paul Peschisolido từ West Bromwich Albion. Peschisolido là chân sút số một, còn đội trưởng là Chris Coleman – khi ấy là cầu thủ đắt giá nhất bên ngoài hai hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh.[cần dẫn nguồn]

Năm 1999, Keegan rời Fulham để trở thành huấn luyện viên trưởng đội tuyển Anh, và Paul Bracewell được giao quyền chỉ đạo. Bracewell bị sa thải vào tháng 3 năm 2000, khi phong độ đầy hứa hẹn đầu mùa của Fulham sa sút và dẫn đến một vị trí giữa bảng. Người Pháp Jean Tigana được bổ nhiệm và, sau khi chiêu mộ một số ngôi sao trẻ (trong đó có tiền đạo người Pháp Louis Saha), ông đã đưa Fulham giành lần thăng hạng thứ ba chỉ trong năm mùa giải ở mùa giải 2000-01, qua đó đưa Fulham trở lại hạng đấu cao nhất lần đầu tiên kể từ năm 1968. Fulham một lần nữa giành 101 điểm trong tổng số 138 điểm có thể có trong hành trình vô địch rực rỡ của mình, hành trình được khép lại bằng một cuộc diễu hành trên xe buýt mui trần dọc theo Fulham Palace Road. Họ là đội duy nhất từng hai lần đạt mốc 100 điểm trong một mùa giải. Trong mùa giải đó, Chris Coleman bị tai nạn xe hơi khiến ông phải ngồi ngoài hơn một năm và cuối cùng chấm dứt sự nghiệp thi đấu do không thể hồi phục đầy đủ. Hành trình đi lên qua các hạng đấu của Fulham cũng chứng kiến một sự thay máu lớn về nhân sự, với cầu thủ duy nhất thi đấu cho câu lạc bộ ở cả bốn hạng là Sean Davis.[37]

2001-2007: Những năm đầu ở Premier League

[sửa | sửa mã nguồn]
Fulham (trắng) thi đấu với Portsmouth (xanh) trước các cổ động viên Fulham ở khu Hammersmith End
Một phút mặc niệm dành cho Jim Langley

Fulham trở lại hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh và lần đầu tiên thi đấu tại Premier League. Câu lạc bộ kết thúc mùa giải 2001-02 ở vị trí thứ 13. Fulham là đội duy nhất tổ chức các trận đấu hạng cao nhất trong thế kỉ XXI mà vẫn còn một số khu vực khán giả đứng, nhưng do các quy định hạn chế khán giả đứng, điều này không được phép tiếp diễn; các câu lạc bộ thăng hạng từ hạng Hai chỉ có ba năm để biến sân của mình thành sân toàn ghế ngồi. Fulham buộc phải dùng chung sân với Queens Park Rangers tại Loftus Road trong các mùa giải 2002-03 và 2003-04, trong thời gian Craven Cottage được cải tạo thành một sân toàn ghế ngồi. Đã có lo ngại rằng Fulham sẽ không trở lại Craven Cottage, sau khi lộ ra việc Al-Fayed đã bán quyền ưu tiên xây dựng trên khu đất này cho một công ty phát triển bất động sản.[38]

mùa giải 2002-03, Fulham trải qua phần lớn thời gian ở nửa dưới bảng xếp hạng. Chủ tịch Al-Fayed thông báo với huấn luyện viên trưởng Jean Tigana rằng hợp đồng của ông sẽ không được gia hạn vào cuối mùa giải. Tuy nhiên, khi mùa giải chỉ còn lại năm trận và nguy cơ xuống hạng vẫn còn hiện hữu, Tigana bị sa thải và Chris Coleman được tạm thời giao quyền chỉ đạo. Fulham giành 10 điểm trong 15 điểm tối đa và trụ hạng thành công. Coleman được bổ nhiệm chính thức làm huấn luyện viên trưởng vào mùa hè năm 2003; bất chấp những dự đoán cho rằng sự non kinh nghiệm của Coleman sẽ khiến Fulham xuống hạng,[39] ông vẫn giúp đội bóng tránh xa khu vực nguy hiểm và đưa câu lạc bộ tới vị trí thứ chín – thành tích cao nhất của Fulham tại giải – ngay trong mùa giải đầu tiên của mình. Thành tích đó có thể còn tốt hơn nữa nếu câu lạc bộ không chịu áp lực tài chính lớn buộc phải bán Louis Saha cho Manchester United, thương vụ mang về số tiền kỉ lục khi đó của câu lạc bộ là 13 triệu bảng.[40]

Fulham thua kiện cựu huấn luyện viên trưởng Tigana vào năm 2004 sau khi Al-Fayed sai lầm cáo buộc Tigana đã trả quá giá hơn 7 triệu bảng cho các tân binh và bí mật thương lượng chuyển nhượng.[41]

Coleman tiếp tục có thêm một mùa giải ổn định ở mùa giải 2004-05 và đưa Fulham về đích an toàn ở vị trí thứ 13. Mùa giải sau đó, Fulham cải thiện thêm một bậc, kết thúc ở vị trí thứ 12 – điểm nhấn của mùa giải là chiến thắng 1-0 trước đối thủ cùng thành phố phía tây London và đương kim vô địch Chelsea trong trận derby Tây Luân Đôn – Chelsea khi ấy mới chỉ thua hai trận trong vòng hai năm rưỡi. Mùa giải 2006-07 là mùa giải cuối cùng của Coleman, khi ngày 10 tháng 4 năm 2007 Fulham chấm dứt hợp đồng với ông có hiệu lực ngay lập tức. Người thay thế là huấn luyện viên trưởng đội tuyển Bắc Ireland Lawrie Sanchez. Fulham chỉ giành được bốn điểm sau năm trận dưới quyền Sanchez trong vai trò tạm quyền. Họ trụ lại hạng đấu cao nhất mùa đó bằng chiến thắng 1-0 trước một đội hình Liverpool suy yếu ở trận áp chót, và Sanchez sau đó được bổ nhiệm chính thức làm huấn luyện viên trưởng.

Robin van Persie thực hiện một quả đá phạt trong khi các cầu thủ Fulham lập hàng rào phòng ngự.
Craven Cottage, sân nhà của Fulham FC, năm 2007.

2007-2010: Sự chuyển mình dưới thời Hodgson

[sửa | sửa mã nguồn]
Roy Hodgson trên cương vị huấn luyện viên trưởng của Fulham

Sanchez nhận được sự hậu thuẫn tài chính mạnh mẽ từ ban lãnh đạo và thực hiện một số bản hợp đồng trong mùa hè, nhưng sau chỉ hai chiến thắng tại giải vô địch trong năm tháng đầu tiên của mùa giải và khi Fulham đang nằm trong nhóm xuống hạng, ông bị sa thải ngày 21 tháng 12 năm 2007 sau thất bại trước Newcastle United.[42] Roy Hodgson được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của Fulham vào ngày 28 tháng 12 năm 2007 và chính thức tiếp quản công việc theo hợp đồng từ ngày 30 tháng 12,[43] chỉ hai ngày trước khi thị trường chuyển nhượng tháng 1 mở cửa.

Khởi đầu của Hodgson không suôn sẻ và ông phải mất một tháng mới có chiến thắng đầu tiên, trước Aston Villa, nhờ một quả đá phạt của Jimmy Bullard. Fulham tiếp tục chật vật và thất bại 1-3 trên sân nhà vào tháng 4 trước đối thủ cùng cảnh ngộ Sunderland khiến Hodgson gần như bật khóc trong buổi họp báo sau trận, đồng thời nhiều nhà bình luận cho rằng hy vọng trụ hạng của Fulham đã chấm hết.[44] Bước ngoặt của mùa giải đến ở trận đấu thứ ba từ dưới lên, gặp Manchester City. Fulham bị dẫn 0-2 sau hiệp Một và nếu các tỉ số Premier League lúc đó giữ nguyên đến hết trận, đội bóng đã phải xuống hạng. Tuy nhiên, việc tung Diomansy Kamara vào sân mở màn cho cuộc lội ngược dòng tuyệt vời – Kamara ghi hai bàn khi Fulham thắng 3-2. Sau đó Fulham thắng trận then chốt trước đối thủ cùng nhóm nguy hiểm Birmingham City tại Craven Cottage, qua đó nắm quyền tự quyết trong tay. Chỉ cần không có một cơn mưa bàn thắng từ phía Reading, thì một chiến thắng trước Portsmouth, đội đang hướng tới trận chung kết Cúp FA thứ tư, sẽ bảo đảm suất trụ hạng.[cần dẫn nguồn] Khi trận đấu tại Portsmouth còn 15 phút, Fulham đang hòa, còn Birmingham City và Reading đều dẫn trước Blackburn Rovers và Derby County một cách khá chắc chắn, nên Fulham tưởng như sẽ phải xuống hạng. Tuy nhiên, Fulham được hưởng một quả đá phạt ở phút 76; quả treo bóng của Jimmy Bullard tìm đến Danny Murphy, người đánh đầu ghi bàn quyết định, thổi bùng màn ăn mừng điên cuồng của các cổ động viên đội khách. Hodgson đã giúp Fulham trụ hạng bất chấp mọi dự đoán, đồng thời phá nhiều kỉ lục của câu lạc bộ và củng cố vị thế của ông trong huyền thoại Fulham. Fulham cũng chỉ lỡ suất dự UEFA Cup qua con đường xếp hạng Fair Play với cách biệt đầy tranh cãi chỉ 0,8 điểm so với Manchester City, đội đã thua 1-8 trước Middlesbrough.[45]

mùa giải 2008-09, Fulham kết thúc ở vị trí thứ bảy, thứ hạng cao nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch, qua đó giành quyền tham dự kỳ đầu tiên của UEFA Europa League, cũng là lần thứ hai đội bóng góp mặt ở một giải đấu UEFA.[46]

Mùa giải 2009-10 có lẽ là mùa giải thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ. Fulham bị loại khỏi Cúp FA ở tứ kết mùa thứ hai liên tiếp và kết thúc Premier League ở vị trí thứ 12, dù sử dụng đội hình suy yếu ở vài trận cuối mùa.[47] Tuy nhiên, ở mùa giải đầu tiên của Europa League, Fulham vào tới chung kết, gặp câu lạc bộ Tây Ban Nha Atlético Madrid, trên sân Volksparkstadion tại Hamburg. Trong trận chung kết cúp châu Âu đầu tiên của mình, The Cottagers bị đánh bại 1-2 sau hiệp phụ, sau khi đã hòa 1-1 trong thời gian thi đấu chính thức. Thành tích đưa Fulham tiến xa đến bất ngờ, đánh bại những đội nổi tiếng như Hamburger SV, Juventus, đương kim vô địch Shakhtar DonetskBasel ở giải đấu này, khiến Roy Hodgson được bầu là Huấn luyện viên trưởng của năm của LMA với cách biệt lớn nhất trong lịch sử giải thưởng.[48] Trận sân nhà ở vòng 16 đội có lẽ là kết quả vĩ đại nhất trong lịch sử Fulham. Dù đã thua 1-3 ở lượt đi trên sân gã khổng lồ Ý Juventus và còn bị dẫn trước chỉ ít phút sau khi lượt về tại Craven Cottage bắt đầu, Fulham vẫn ghi bốn bàn mà không để Juventus đáp trả lần nào.[49] Cuối mùa giải, Hodgson rời Fulham để dẫn dắt Liverpool.[50]

2010-2013: Đứng vững tại Premier League

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 7 năm 2010, Mark Hughes được công bố là người kế nhiệm Hodgson, ký hợp đồng hai năm với câu lạc bộ.[51] Hughes từ chức huấn luyện viên trưởng Fulham vào ngày 2 tháng 6 năm 2011, sau chưa đầy 11 tháng tại câu lạc bộ. The Whites kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tám đầy khích lệ và giành quyền tham dự Europa League thông qua bảng xếp hạng Fair Play.[52]

Ngày 7 tháng 6 năm 2011, Martin Jol ký hợp đồng hai năm với Fulham, trở thành người kế nhiệm Hughes. Fulham vượt qua vòng loại và tiến vào vòng bảng Europa League khá nhẹ nhàng trong giai đoạn cuối mùa hè. Tuy nhiên, The Cottagers bị loại ở những giây cuối cùng của loạt trận vòng bảng khi Odense Boldklub gỡ hòa, khiến Fulham đứng thứ ba và nhường quyền đi tiếp cho đại diện Ba Lan Wisła Kraków.[53]

Phong độ của Fulham tại Premier League trong mùa giải 2011-12 khá thất thường, khi thành tích sân khách kém cỏi kéo dài từ những mùa giải trước vẫn tiếp diễn. Ở mùa giải 2012-13, Fulham kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 12.[54]

Clint Dempsey ghi kỉ lục 50 bàn tại Premier League cho Fulham trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2012.

2013-nay: Quyền sở hữu của Shahid Khan

[sửa | sửa mã nguồn]

Shahid Khan tiếp quản cương vị chủ tịch vào tháng 7 năm 2013,[55] nhưng sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 2013-14, khi chỉ giành được 10 điểm sau 13 trận,[56] Martin Jol bị sa thải khỏi cương vị huấn luyện viên trưởng vào tháng 12 năm 2013, và René Meulensteen lên nắm vai trò huấn luyện viên trưởng.[56][57] Meulensteen bị thay thế bởi Felix Magath chỉ sau 17 trận cầm quân vì phong độ không có dấu hiệu cải thiện,[58] nhưng tình hình vẫn không khá hơn, và cuối cùng Fulham bị xuống Championship sau thất bại 1-4 trên sân khách trước Stoke vào ngày 3 tháng 5.[59]

Fulham phá kỉ lục chuyển nhượng của Championship trong mùa hè đó trong quá trình Magath tái cấu trúc đội hình, nhưng sau khởi đầu thảm họa ở mùa giải mới, khi chỉ giành được một điểm sau bảy trận, Magath bị sa thải vào tháng 9 năm 2014 và Kit Symons được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng tạm quyền.[60] Cuối cùng Fulham khép lại mùa giải ở vị trí thứ 17. Đội bóng khởi đầu thiếu ổn định ở mùa giải tiếp theo, và sau thất bại 2-5 trên sân nhà trước Birmingham City,[61] khi đang đứng thứ 12,[62] Kit Symons bị sa thải khỏi cương vị huấn luyện viên trưởng vào tháng 11 năm 2015.[63] Điều này mở đường cho người Serbia Slaviša Jokanović được bổ nhiệm vào ngày 27 tháng 12 năm 2015.[64] Tình hình của Fulham không cải thiện quá nhiều sau khi Jokanović được bổ nhiệm, nhưng đội bóng kết thúc mùa giải Championship 2015-16 ở vị trí thứ 20, tránh xuống hạng với khoảng cách 11 điểm.[cần dẫn nguồn]

Mùa giải 2016-17 chứng kiến sự cải thiện rất lớn cả về kết quả lẫn màn trình diễn. Bất chấp khởi đầu thiếu ổn định, đội bóng tiến bộ rõ rệt từ tháng 10 trở đi và qua đó giành vị trí thứ 6. Fulham giành quyền vào play-off, nhưng thua Reading với tổng tỉ số 1-2 ở bán kết.[65] Trong giai đoạn này, con trai của ông chủ câu lạc bộ Shahid Khan là Tony Khan được bổ nhiệm làm phó chủ tịch và giám đốc điều hành bóng đá, đồng thời cũng giữ vai trò tổng quản lí và giám đốc thể thao.[66] Dù khởi đầu chậm chạp ở mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ đã lập kỉ lục 23 trận bất bại liên tiếp tại giải, qua đó kết thúc ở vị trí thứ 3 và chỉ suýt lỡ suất thăng hạng trực tiếp.[67] Sau đó đội bóng thắng trận chung kết play-off EFL Championship trước Aston Villa để trở lại Premier League vào ngày 26 tháng 5 năm 2018.[68]

Trong mùa giải đó, câu lạc bộ ký hợp đồng với Aleksandar Mitrović, ban đầu theo dạng cho mượn đến hết mùa giải.[69] Mitrović sau đó ghi hơn 100 bàn cho câu lạc bộ, trở thành cầu thủ thứ tám trong lịch sử Fulham làm được điều đó.[70]

Sau khởi đầu nghèo nàn khi trở lại Premier League, Jokanović bị sa thải vào tháng 11 năm 2018 và được thay thế bởi cựu huấn luyện viên trưởng Leicester là Claudio Ranieri.[71] Kết quả rốt cuộc vẫn không cải thiện dưới thời Ranieri, đồng thời ông còn làm xa cách một số cầu thủ chủ chốt, và rời câu lạc bộ vào tháng 2 năm 2019. Ông được thay bởi Scott Parker trong vai trò tạm quyền, nhưng Parker không thể cứu câu lạc bộ khỏi việc xuống hạng vào ngày 3 tháng 4 năm 2019.[72] Parker được bổ nhiệm chính thức làm huấn luyện viên trưởng vào ngày 10 tháng 5 năm 2019.[73][74] Trong một mùa giải bị gián đoạn bởi đại dịch COVID-19, Parker đưa câu lạc bộ trở lại Premier League ngay lập tức vào ngày 4 tháng 8 năm 2020, sau khi đánh bại đối thủ cùng thành phố London là Brentford 2-1 trong trận chung kết play-off sau khi kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 4.[75] Tuy nhiên, câu lạc bộ một lần nữa phải xuống hạng chỉ sau đúng một mùa giải trở lại hạng đấu cao nhất, sau thất bại 0-2 trước Burnley vào ngày 10 tháng 5 năm 2021.[76]

Sau khi xuống hạng, Parker rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung và được thay thế bởi cựu huấn luyện viên trưởng Everton là Marco Silva.[77] Dưới thời Silva sau khi xuống hạng, Fulham giành quyền trở lại hạng đấu cao nhất khi mùa giải còn bốn vòng, đồng thời vô địch Championship 2021-22.[78] Fulham khởi đầu mùa giải Premier League 2022-23 tốt hơn nhiều so với những năm trước. Ở thời điểm giữa mùa, Fulham đứng thứ 6, có chiến thắng 2-1 trước đối thủ cùng vùng phía tây London là Chelsea, đội mà họ đã không đánh bại suốt gần 16 năm, đồng thời có chuỗi bốn chiến thắng liên tiếp tại hạng đấu cao nhất lần đầu tiên kể từ tháng 4 năm 1966.[79][80] Mùa giải tiếp theo chứng kiến câu lạc bộ lần đầu tiên lọt vào bán kết Cúp EFL, và ở mùa giải 2024-25 họ lập kỉ lục mới của câu lạc bộ về số điểm giành được tại Premier League.

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]

Từ năm 1879 cho đến khi Fulham có một sân đấu để thực sự gọi là của mình vào năm 1896, đội bóng đã thi đấu trên một số sân khác nhau; chỉ một phần trong số đó được ghi nhận, vì vậy không nên xem danh sách này là đầy đủ hay hoàn chỉnh. Chỉ có đối thủ và cũng là chủ đất cũ Queens Park Rangers là từng chơi trên nhiều sân nhà hơn. Một số sân ban đầu được liệt kê dưới đây nhiều khả năng chỉ là công viên hoặc khu đất công viên, mà nay đã được phát triển thành công trình khác. Ngay cả khi câu lạc bộ mua Craven Cottage và khu đất xung quanh vào năm 1894, họ vẫn phải chờ thêm hai năm mới có thể thi đấu một trận tại đó.[17]

Bản sắc câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Trang phục

[sửa | sửa mã nguồn]

Fulham sử dụng áo trắng và quần đùi đen làm trang phục thi đấu từ năm 1896, và bộ trang phục đó được duy trì từ ấy đến nay.[81] Việc Fulham được Betfair tài trợ ở mùa giải 2002-03 là hợp đồng tài trợ từ ngành cờ bạc đầu tiên trong bóng đá Anh, và diễn ra trước khi Gambling Act 2005 cho phép ngành này quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh; chỉ trong vòng mười lăm năm, một nửa số đội ở Premier League đã được các công ty như vậy tài trợ.[82][83]

Ngày 27 tháng 7 năm 2021, có thông báo rằng World Mobile sẽ trở thành đối tác chính thức chính của câu lạc bộ trong ba năm tiếp theo.[84]

Vào tháng 7 năm 2022, có thông báo rằng công ty cờ bạc W88 sẽ tài trợ cho đội bóng trong một thỏa thuận trang phục ở mùa giải 2022-23. Theo thỏa thuận này, logo của hãng cá cược được đặt ở mặt trước trang phục của cả đội nam lẫn đội nữ. Việc xác nhận thỏa thuận diễn ra trong bối cảnh số nhà tài trợ cờ bạc tại các đội Premier League đang giảm xuống.[85] Vào tháng 6 năm 2023, có thông báo rằng công ty cá cược SBOBET sẽ thay W88 làm nhà tài trợ chính của đội bóng trong mùa giải 2023-24.[86] Vào tháng 2 năm 2024, có thông báo rằng FlyFish Limited sẽ trở thành đối tác chính thức.[87]

Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục Nhà tài trợ áo đấu (ngực) Nhà tài trợ áo đấu (tay áo) Nhà tài trợ áo đấu (lưng) Nhà tài trợ quần đùi
1974-1977 Umbro Không Không Không Không
1977-1981 Adidas
1981-1984 Osca
1984-1985 Umbro William Younger
1985-1987 Prestige Travel
1987 Scoreline Không
1988 Emirates
1988-1990 TeleConnect
1990-1991 Ribero
1991-1992 Không
1992-1993 DMF Sportswear
1993-1996 Vandanel GMB
1996-1997 Le Coq Sportif
1997-1998 Adidas
1998-2001 Demon Internet
2001-2002 Pizza Hut
2002-2003 Betfair.com
2003-2005 Puma dabs.com
2005-2006 Pipex
2006-2007 Airness
2007-2010 Nike LG
2010-2013 Kappa FxPro
2013-2015 Adidas Marathonbet
2015-2017 Visit Florida
2017-2018 Grosvenor Casinos Pro Evolution Soccer GameTime Hydration
2018-2019 Dafabet ICM.com Không Không
2019-2020 Không Skilling RingCentral
2020-2021 BetVictor ClearScore Không Không
2021-2022 World Mobile Không Spreadex Trading
2022-2023 W88 World Mobile Không
2023-2024 SBOBET WebBeds
2024-2025 Go MonGOlia (trong các trận Cúp FA)
2025-2026
HiBob

Linh vật

[sửa | sửa mã nguồn]

Linh vật của Fulham là Billy the Badger,[88] thiết kế chiến thắng do Kyle Jackson gửi tới sau một cuộc thi trực tuyến của câu lạc bộ. Billy the Badger mặc áo Fulham số 79, nhằm nhắc tới năm thành lập câu lạc bộ là 1879.[89] Tranh cãi lần đầu bủa vây Billy khi chú cố gắng cổ vũ huấn luyện viên trưởng Chelsea Avram Grant trong một trận sân nhà trước ống kính truyền hình. Sau đó, Billy bị thấy trên truyền hình khi bị truất quyền thi đấu trong trận sân nhà gặp Aston Villa vào ngày 3 tháng 2 năm 2008 vì nhảy breakdance ở góc sân sau khi trọng tài đã cho trận đấu bắt đầu. Billy đổ lỗi cho thính giác và thị lực của một con lửng là nguyên nhân dẫn tới sự cố đó, đồng thời gửi lời xin lỗi tới trọng tài Chris Foy.[90] Vào ngày 11 tháng 3 năm 2009, Billy đi ngang qua khung thành trong một trận đấu dù trọng tài không phát hiện ra việc này. Linh vật trước đây của Fulham là Sir Craven of Cottage, Hiệp sĩ. Nhóm cổ vũ được biết đến với tên gọi Cravenettes.[cần dẫn nguồn]

Kình địch và cổ động viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Người hâm mộ Fulham xem Chelsea là đối thủ kình địch lớn nhất của họ. Dù cặp đấu này không diễn ra thường xuyên trong những năm trước khi Fulham vươn lên hạng đấu cao nhất, đây vẫn là một trận derby địa phương rõ rệt vì sân nhà của Chelsea là Stamford Bridge nằm trong khu Fulham và chỉ cách Craven Cottage 1,8 dặm.[91]

Fulham xem Queens Park Rangers là đối thủ kình địch thứ hai. Fulham đã đánh bại Queens Park Rangers hai lần ở mùa giải Premier League 2011-12. Họ thắng 6-0 tại Craven Cottage, và cũng thắng 1-0 trên sân khách tại Loftus Road.[92] Hai câu lạc bộ đã gặp nhau thêm vài lần kể từ đó tại Championship.

Đối thủ kình địch gần gũi thứ ba của Fulham là Brentford, đội mà họ đánh bại 2-1 vào ngày 4 tháng 8 năm 2020 trong trận chung kết play-off Championship. Fulham cũng có sự kình địch với một số câu lạc bộ London khác ở mức độ thấp hơn, chẳng hạn như Crystal Palace.

Ngoài London, Gillingham vẫn được một số cổ động viên Fulham xem là đối thủ dù hai câu lạc bộ đã không còn chơi cùng hạng đấu kể từ mùa giải 2000-01. Fulham và Gillingham từng dính líu tới một số trận đấu căng thẳng ở các hạng thấp, trong đó có cả cái chết của một cổ động viên Fulham.[93]

Đội hình XI hay nhất mọi thời đại của FFC tại Premier League do người hâm mộ bình chọn

Lượng người hâm mộ của Fulham đã thay đổi theo từng giai đoạn, với các đám đông lớn xuất hiện trùng với thành công của câu lạc bộ tại Premier League.[cần dẫn nguồn] Những người ủng hộ Fulham đã đóng vai trò quan trọng trong việc câu lạc bộ gắn bó lâu dài với Craven Cottage.[94] Khi câu lạc bộ chuyển tạm thời tới Loftus Road, một ủy ban có tên Back to the Cottage[95] được thành lập, cam kết bảo đảm câu lạc bộ tiếp tục thi đấu tại sân nhà truyền thống của mình. Người hâm mộ Fulham theo truyền thống đến từ các khu Fulham và Hammersmith, cũng như từ những khu vực khác ở phía tây nam London như Putney, Richmond, Sutton và Worcester Park.[96]

Vào tháng 7 năm 2012, trang web của câu lạc bộ đã kêu gọi người ủng hộ sử dụng Facebook và Twitter chọn ra đội hình FFC Premier League XI hay nhất của họ từ năm 2001 cho đến hiện tại. Người hâm mộ đã chọn thủ môn, các hậu vệ biên, trung vệ, cầu thủ chạy cánh, tiền vệ trung tâm và tiền đạo yêu thích của mình theo sơ đồ cổ điển 4-4-2.[97][98] Vào tháng 8 năm 2022, câu lạc bộ yêu cầu người hâm mộ chọn một đội hình Premier League XI mọi thời đại được cập nhật như một phần trong lễ kỉ niệm 30 năm của Premier League.[99]

Kỉ lục và thống kê

[sửa | sửa mã nguồn]

Fulham tại châu Âu

[sửa | sửa mã nguồn]

Fulham là thành viên của European Club Association, từng bốn lần giành quyền tham dự các giải đấu châu Âu, đầu tiên là UEFA Intertoto Cup sau mùa giải đầu tiên của họ tại Premier League, sau đó là Cúp UEFA nhờ chiến thắng ở giải đó, rồi tiếp tục dự UEFA Europa League hai lần. Fulham bất bại trên sân nhà ở đấu trường châu Âu trong 23 trận, với thành tích 17 chiến thắng và sáu trận hòa. Năm 2010, Fulham lọt vào trận chung kết UEFA Europa League, nơi họ để thua 1-2 trước Atlético Madrid.[100]

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 30 tháng 1 năm 2026[101]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Đức Bernd Leno (đội trưởng thứ tư)
2 HV Hà Lan Kenny Tete
3 HV Nigeria Calvin Bassey
5 HV Đan Mạch Joachim Andersen (đội phó)
6 TV Anh Harrison Reed
7 México Raúl Jiménez
8 TV Wales Harry Wilson
9 Brasil Rodrigo Muniz
10 TV Scotland Tom Cairney (đội trưởng)[102]
14 Na Uy Oscar Bobb
15 HV Tây Ban Nha Jorge Cuenca
16 TV Na Uy Sander Berge
Số VT Quốc gia Cầu thủ
17 TV Nigeria Alex Iwobi
18 Thụy Điển Jonah Kusi-Asare (mượn từ Bayern Munich)
19 Nigeria Samuel Chukwueze (mượn từ Milan)
20 TV Serbia Saša Lukić
21 HV Bỉ Timothy Castagne
22 Brasil Kevin
23 TM Pháp Benjamin Lecomte
24 TV Anh Josh King
30 HV Anh Ryan Sessegnon
31 HV Maroc Issa Diop
32 TV Anh Emile Smith Rowe
33 HV Hoa Kỳ Antonee Robinson (đội trưởng thứ ba)

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
38 TV Wales Luke Harris (được cho Wycombe Wanderers mượn)
TM Đức Steven Benda (được cho Feyenoord mượn)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Canada Luc de Fougerolles (được cho Dender mượn)

Học viện

[sửa | sửa mã nguồn]

Học viện của Fulham kết hợp giáo dục học thuật với phát triển thể thao, hỗ trợ cầu thủ theo đuổi các chứng chỉ như BTEC và A-Level song song với tập luyện bóng đá. Các huấn luyện viên và nhà giáo dục phối hợp để xây dựng lịch trình phù hợp, cân bằng giữa việc học và yêu cầu trên sân cỏ.[103][104]

Chương trình Player Pathway của Quỹ Fulham FC dành cho các cầu thủ đã có kiến thức và kinh nghiệm trước đó về bóng đá (U7-U16), với hệ thống huấn luyện có cấu trúc do các nhân sự đạt chuẩn FA và UEFA phụ trách. Việc huấn luyện dựa trên mô hình bốn góc, phát triển các kĩ năng thể chất, kĩ thuật/chiến thuật, tâm lí và xã hội. Các buổi tập khuyến khích tính sáng tạo, sự tự chủ của cầu thủ và việc tham gia thường xuyên trong các học kì.[105][106]

Kể từ năm 2022, Học viện sử dụng công nghệ theo dõi hiệu suất từ công ty công nghệ thể thao Israel Playermaker. Hệ thống cảm biến gắn trên giày của công ty này thu thập dữ liệu hiệu suất kĩ thuật và thể chất, hỗ trợ việc thiết kế bài tập, phân tích hiệu suất và các sáng kiến tăng tính hòa nhập trong các đội trẻ.[107][108]

Đội nữ

[sửa | sửa mã nguồn]

Nhân sự câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Chức vụ Tên
Chủ tịchShahid Khan[109]
Giám đốc điều hànhAlistair Mackintosh[110]
Giám đốc tài chínhSean O'Loughlin[110]
Giám đốc không điều hànhMark Lamping[110]
Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởngMarco Silva
Trợ lí huấn luyện viên trưởngStuart Gray
Huấn luyện viên thủ mônHugo Oliveira
Huấn luyện viên thể lựcGoncalo Pedro
Chuyên viên phân tích đội mộtAntonios Lemonakis
Trưởng bộ phận hiệu suấtBruno Mendes
Huấn luyện viên trưởng đội U-23Steve Wigley
Huấn luyện viên trưởng đội U-21Hayden Mullins

Lịch sử huấn luyện viên trưởng

[sửa | sửa mã nguồn]

Fulham đã có 37 huấn luyện viên trưởng trong 114 năm. Trước khi huấn luyện viên trưởng đầu tiên của câu lạc bộ được bổ nhiệm (Bradshaw vào năm 1904), các nhiệm vụ thường được giao cho một huấn luyện viên trưởng thời hiện đại sẽ được chia sẻ giữa thư kí câu lạc bộ, đội trưởng và các quan chức khác.[cần dẫn nguồn]

TênTừĐến
Harry Bradshaw 1904 1909
Phil Kelso 1909 1924
Andy Ducat 1924 1926
Joe Bradshaw 1926 1929
Ned Liddell 1929 1931
Jimmy McIntyre 1931 1934
Jimmy Hogan 1934 1935
Jack Peart 1935 1948
Frank Osborne* 1948 1949
Bill Dodgin Sr. 1949 1953
Frank Osborne* 1953 1956
Doug Livingstone 1956 1958
Bedford Jezzard 1958 1964
Vic Buckingham 1965 1968
Bobby Robson 1968 1968
Bill Dodgin Jr. 1969 1972
Alec Stock 1972 1976
Bobby Campbell 1976 1980
Malcolm Macdonald 1980 1984
Ray Harford 1984 1986
Ray Lewington 1986 1990
Alan Dicks 1990 1991
Don Mackay 1991 1994
Ian Branfoot** 1994 1996
Micky Adams 1996 1997
Ray Wilkins 1997 1998
Kevin Keegan 1998 1999
Paul Bracewell 1999 2000
Jean Tigana 2000 2003
Chris Coleman 2003 2007
Lawrie Sanchez 2007 2007
Roy Hodgson 2007 2010
Mark Hughes 2010 2011
Martin Jol 2011 2013
René Meulensteen§± 2013 2014
Felix Magath 2014 2014
Kit Symons 2014 2015
Slaviša Jokanović± 2015 2018
Claudio Ranieri 2018 2019
Scott Parker± 2019 2021
Marco Silva± 2021 Nay
  • * Frank Osborne được câu lạc bộ tuyển dụng liên tục từ năm 1948 đến năm 1963, nhưng chỉ trải qua các giai đoạn nêu trên với tư cách huấn luyện viên trưởng chính thức.
  • ** Ian Branfoot vẫn tiếp tục được câu lạc bộ tuyển dụng sau khi bị sa thải khỏi vị trí huấn luyện viên trưởng.
  • Kevin Keegan được câu lạc bộ tuyển dụng với vai trò giám đốc điều hành (trong giai đoạn ông về cơ bản đóng vai trò như một trợ lí huấn luyện viên trưởng) trong lúc người tiền nhiệm của ông là Ray Wilkins giữ vai trò huấn luyện viên trưởng chính thức.
  • § René Meulensteen được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng dưới quyền huấn luyện viên trưởng trước đó là Martin Jol (trong giai đoạn ông về cơ bản đóng vai trò như một trợ lí huấn luyện viên trưởng), nhưng chưa bao giờ chính thức mang danh xưng "huấn luyện viên trưởng" sau khi Jol ra đi, dù ông đảm nhận những nhiệm vụ thường gắn với vai trò đó. Ông vẫn giữ vị trí huấn luyện viên trưởng trong bốn ngày sau khi Magath được bổ nhiệm trước khi bị cho thôi việc.
  • ± Một số người chỉ có mô tả chức danh chính thức là "head coach" chứ không phải "manager": René Meulensteen, Slaviša Jokanović, Scott Parker và Marco Silva,[111] cũng như huấn luyện viên trưởng tạm quyền Peter Grant.

Kỉ lục huấn luyện viên trưởng:

  • Một người duy nhất từng dẫn dắt câu lạc bộ qua hai giai đoạn khác nhau là Frank Osborne, vào các năm 1948-49 và sau đó là 1953-56.
  • Giai đoạn dài nhất trên cương vị huấn luyện viên trưởng Fulham thuộc về Phil Kelso, 15 năm (1909-1924)
  • Một số huấn luyện viên trưởng không trụ lại được quá một năm tại câu lạc bộ: Bobby Robson, Ray Wilkins, Paul Bracewell, Lawrie Sanchez, Mark Hughes, René Meulensteen, Felix Magath và Claudio Ranieri. Ngoài ra, Frank Osborne cũng chỉ có một năm sau lần đầu tiên đến câu lạc bộ là giai đoạn ông chủ yếu phụ trách đội bóng (trước khi Dodgin, cha, tới), dù về sau ông lại có một quãng thời gian dài hơn nắm toàn quyền chỉ đạo câu lạc bộ.

Các huấn luyện viên trưởng tạm quyền của câu lạc bộ gồm có:

  • Johnny Haynes: tiếp quản sau khi Bobby Robson bị sa thải vào năm 1968 chỉ trong vài trận. The Maestro được mời giữ vai trò này lâu dài nhưng ông không có ý định trở thành huấn luyện viên trưởng.
  • Karl-Heinz Riedle: khi Paul Bracewell bị sa thải giữa chừng ở mùa giải 1999-2000, đã có một giai đoạn tạm thời Fulham được dẫn dắt bởi tiền đạo cắm của họ là Karl-Heinz Riedle, với sự hỗ trợ từ người thầy cũ của ông tại Liverpool, Roy Evans. Riedle bị chấn thương phổi trong trận áp chót của mùa giải.
  • Chris Coleman: sau khi Tigana từ chức sớm hơn kế hoạch bốn tháng vào năm 2003, Chris Coleman được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng tạm quyền, trong sự vui mừng lớn của người hâm mộ. Dù ban đầu phủ nhận việc muốn nhận công việc này, Coleman đã chấp nhận vai trò huấn luyện viên trưởng chính thức vào mùa hè năm đó.
  • Lawrie Sanchez: khi Coleman bị sa thải, Sanchez đến để nắm quyền điều hành câu lạc bộ trong năm trận còn lại của mùa giải. (Xem ở trên)[112]
  • Ray Lewington: tạm thời dẫn dắt Fulham trong ba trận sau khi Lawrie Sanchez bị sa thải vào tháng 12 năm 2007. Lewington cũng từng tạm thời phụ trách câu lạc bộ vào tháng 7 năm 2010 sau khi Roy Hodgson rời đội cho tới khi Mark Hughes được bổ nhiệm.
  • Kit Symons: tạm thời nắm quyền Fulham sau khi Felix Magath bị sa thải vào tháng 9 năm 2014 trước khi được bổ nhiệm chính thức vào ngày 29 tháng 10.
  • Peter Grant: phụ trách Fulham trong ba trận sau khi Kit Symons bị sa thải.[113]
  • Stuart Gray: tiếp quản Grant với tư cách huấn luyện viên trưởng tạm quyền (mang chức danh "huấn luyện viên cao cấp") sau kết quả tệ ở ba trận Grant phụ trách, trong lúc ban lãnh đạo tìm người kế nhiệm chính thức cho Kit Symons.
  • Scott Parker: tiếp quản với vai trò tạm quyền sau khi Claudio Ranieri rời câu lạc bộ ngày 28 tháng 2 năm 2019 cho tới khi được bổ nhiệm chính thức ngày 10 tháng 5 năm 2019.

Quyền sở hữu

[sửa | sửa mã nguồn]
Shahid Khan, chủ sở hữu và chủ tịch

Fulham Football Club thuộc sở hữu của Shahid Khan. Khan hoàn tất việc mua lại câu lạc bộ từ Mohamed Al-Fayed vào ngày 12 tháng 7 năm 2013 với mức giá được cho là từ 150-200 triệu bảng Anh.[114]

Trong thời gian sở hữu Fulham, Al-Fayed đã cung cấp cho câu lạc bộ 187 triệu bảng Anh dưới dạng các khoản vay không tính lãi.[115] Vào tháng 3 năm 2011, Fulham công bố khoản lỗ hằng năm 16,9 triệu bảng Anh, và Al-Fayed tuyên bố rằng ông sẽ "tiếp tục cung cấp nguồn vốn để đạt được các mục tiêu của chúng tôi cả trong lẫn ngoài sân cỏ" và rằng "thành công liên tục của Fulham cùng sự tự chủ tài chính sau cùng của đội bóng là ưu tiên của tôi."[116] Tính đến năm tháng 1 năm 2013, Fulham về cơ bản không còn nợ nần do Al-Fayed đã chuyển các khoản vay thành vốn chủ sở hữu trong câu lạc bộ.[117]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Nguồn:[118]

Giải vô địch

Cúp

Các danh hiệu nhỏ

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Premier League Handbook 2022/23" (PDF). Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 21 tháng 7 năm 2022.
  2. 1 2 "Welcome To Shahid Khan". Fulham F.C. ngày 12 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.
  3. "St Andrews-Fulham Fields". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009., Fulham St Andrew's Church Sunday School
  4. 1879 according to the club history Lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013 tại Wayback Machine on the official website and 1886/7 "St Andrews-Fulham Fields". Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 27 tháng 7 năm 2009. according to 'How a church's cricket and football club became Fulham Football Club' – Morgan Phillips 2007.
  5. "History". Fulham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2015.
  6. "Sir Leslie Bowker – Hammersmith & Fulham". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012.
  7. Historical Football Kits – Fulham Lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine Taken from Fulham FC – The Official 125 Year Illustrated History (Dennis Turner, 2004). This is the first kit known, and sock colours are not specified.
  8. "Craven Cottage". Fulham F.C. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2024.
  9. and has won premier league 27 times Historical Football Kits – Fulham Lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine Taken from Fulham FC – The Official 125 Year Illustrated History (Dennis Turner, 2004).
  10. Historical Football Kits – Fulham Lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2007 tại Wayback Machine Taken from Fulham FC – The Official 125 Year Illustrated History (Dennis Turner, 2004) amongst other sources.
  11. England – Southern League Final Tables RSSSF
  12. See the FA Cup-specific page in the club history on the official website
  13. "Decades of progress since Hodgson played in South Africa - Hammersmith & Fulham". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012.
  14. Ged Martin (ngày 16 tháng 11 năm 2010). "Fulham hot dog 1926". Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016 qua YouTube.
  15. Ged Martin (ngày 16 tháng 11 năm 2010). "Craven Cottage.1929". Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016 qua YouTube.
  16. Ged Martin (ngày 16 tháng 11 năm 2010). "Fulham v Austria 1934". Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 12 năm 2021 qua YouTube.
  17. 1 2 3 "Craven Cottage". Fulham F.C. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2024.
  18. Ged Martin (ngày 16 tháng 11 năm 2010). "Craven Cottage.1940". Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016 qua YouTube.
  19. "Celtic Programmes Online – Tours of the USA and Canada". Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2007.
  20. "Canada and the USA – Hammersmith & Fulham". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2012.
  21. This is of course somewhat subjective, but he is the first player mentioned in the Great names section of the club's history on the official website. He is also the only ex-player to have a stand at Craven Cottage named after him
  22. He is the first player listed in the great names section of the club's history on the official website, and was voted as Fulham's number one all-time 'Cult Hero' in a BBC poll
  23. He played for Durban City after leaving Fulham according to The FA
  24. According to his profile Lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013 tại Wayback Machine at the FA.
  25. According to an interview with him from The FA
  26. According to the club history at the official website
  27. Ged Martin (ngày 17 tháng 11 năm 2010). "Fulham V Liverpool 1966". Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2016 qua YouTube.
  28. "Season 1968-69". rsssf. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2024.
  29. "1975-76 Anglo-Scottish Cup". Football Club History Database. Truy cập ngày 14 tháng 3 năm 2024.
  30. "Throwbak Thursday". Fulham F.C.
  31. "Preston stun Fulham with historic penalty triumph". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  32. "Ian Branfoot". Fulham FC. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
  33. "Fulham 1994-1995 English Division Three Table". Statto. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
  34. "Fulham 1995-1996 English Division Three Table". Statto. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
  35. 1 2 Bose, Mihir (ngày 7 tháng 2 năm 2003). "Fulham pushed out Hill". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2018.
  36. According to the 'Keegan & Wilkins' page Lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2012 tại Wayback Machine the club's official website
  37. FC, Fulham. "2001". Fulham FC. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  38. "Fulham's future hangs in balance". BBC News. ngày 15 tháng 9 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2011.
  39. Two of three writers of The Independent newspaper predict Xem toàn bộ lưu trữ tại Wayback Machine relegation for Fulham in the 2003-04 season.
  40. FC, Fulham. "2004". Fulham FC. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  41. "Fulham lose Tigana court battle". BBC News. ngày 12 tháng 11 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2011.
  42. "Manager Sanchez sacked by Fulham". BBC Sport. ngày 21 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
  43. "Fulham appoint Hodgson as manager". BBC News. ngày 28 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2010.
  44. LTD, Digital Sports Group. "Crying shame for Hodgson as Fulham look doomed". Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
  45. "2007/08 Season Review". www.premierleague.com. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2024.
  46. FC, Fulham. "Fulham FC". Fulham FC. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2024.
  47. "Arsenal 4-0 Fulham". BBC News. ngày 9 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2010.
  48. "Fulham's Roy Hodgson voted Manager of the Year by fellow bosses – ESPN Soccernet". ESPN. ngày 10 tháng 5 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
  49. UEFA.com (ngày 18 tháng 3 năm 2010). "Juve floored by Fulham comeback | UEFA Europa League 2009/10". UEFA.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2025.
  50. "Roy Hodgson leaves Fulham to become Liverpool manager". BBC Sport. ngày 1 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2010.
  51. "Hughes confirmed as Fulham boss". BBC News. ngày 29 tháng 7 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2010.
  52. Hytner, David (ngày 26 tháng 5 năm 2011). "Fulham to take England's fair play place in Europa League". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  53. FootballDatabase.com. "UEFA Europa League 2011/12, Results and Standings - FootballDatabase". footballdatabase.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2025.
  54. Kempson, Russell (ngày 19 tháng 5 năm 2013). "Alexander Kacaniklic sets Fulham on victory road against Swansea City". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013.
  55. "Fulham: Mohamed Al Fayed sells club to Shahid Khan". BBC Sport. ngày 12 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2014.
  56. 1 2 "How do Premier League clubs fare after sacking their Manager?". Proven Quality. ngày 18 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 19 tháng 2 năm 2014.
  57. "Fulham hire Felix Magath after sacking Rene Meulensteen". BBC Sport. ngày 14 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2014.
  58. "Rene Meulensteen, Ray Wilkins and Alan Curbishley exit Fulham". BBC Sport. ngày 18 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 14 tháng 2 năm 2018.
  59. Chowdhury, Saj (ngày 3 tháng 5 năm 2014). "Stoke City 4-1 Fulham". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2014.
  60. "Felix Magath departs Fulham with Kit Symons taking charge on temporary basis". Sky Sports. ngày 19 tháng 9 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2014.
  61. "Match Report – Fulham 2 – 5 Birm'ham | 7 tháng 11 năm 2015". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2015.
  62. "Fulham results & fixtures for the 2015-2016 season". Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2016. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2016.
  63. "Fulham sack manager Kit Symons". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 11 năm 2015.
  64. "Jokanović Appointed | Fulham Football Club". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 12 năm 2015.
  65. "Reading 1-0 Fulham (agg: 2-1)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2018.
  66. "Tony Khan". Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2022.
  67. "Sunderland 1-0 Fulham". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 16 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018.
  68. "Aston Villa 0-1 Fulham". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 26 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018.
  69. "Fulham: Middlesbrough's Cyrus Christie and Newcastle's Aleksandar Mitrovic join". BBC Sport. ngày 1 tháng 2 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2018.
  70. "Mitrovic's 100 goals for Fulham: How a hurried loan signing became a modern legend". The Athletic. ngày 29 tháng 8 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2023.
  71. "Ranieri Named Manager". Fulham F.C. ngày 14 tháng 11 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 11 năm 2018.
  72. "Scott Parker: Fulham boss 'devastated' after Premier League relegation". BBC Sport. ngày 3 tháng 4 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 3 tháng 4 năm 2019.
  73. "Parker Confirmed As Head Coach". www.fulhamfc.com. ngày 10 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2019.
  74. "Scott Parker: Fulham appoint ex-captain as permanent manager". BBC Sport. ngày 10 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2019.
  75. "Championship play-off final: Brentford 1-2 Fulham (AET)". BBC Sport. ngày 4 tháng 8 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2020.
  76. Fulham are relegated from the Premier League as Burnley win, and stay up: live reaction Lưu trữ ngày 10 tháng 5 năm 2021 tại Wayback Machine - 11 tháng 5 năm 2021 - via www.telegraph.co.uk
  77. "Fulham appoint Marco Silva as head coach on three-year contract". Sky Sports. ngày 1 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 30 tháng 8 năm 2021.
  78. "Fulham clinch Championship title in style with emphatic victory over Luton". BBC Sport. ngày 2 tháng 5 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2022.
  79. FC, Fulham (ngày 12 tháng 1 năm 2023). "Fulham 2-1 Chelsea". Fulham FC. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2023.
  80. "Joao Felix sent off on debut as Chelsea lose at Fulham". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2023.
  81. "Fulham – Historical Football Kits". Historicalkits.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2020.
  82. Longley, Scott (ngày 14 tháng 3 năm 2018). "A short history of betting shirt sponsorship in football (part 1)". SBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018.
  83. Reuben, Anthony (ngày 22 tháng 9 năm 2018). "Premier League shirts row: The fickle fashions of sponsorship". BBC News. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 9 năm 2018.
  84. "World Mobile Fulham's official Principal Partner". WorldMobile.io. ngày 27 tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 21 tháng 5 năm 2022.
  85. Peter Rutzler (ngày 25 tháng 7 năm 2022). "Fulham announce record kit deal with betting sponsor W88". theathletic.com/. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2022.
  86. FC, Fulham (ngày 28 tháng 6 năm 2023). "Fulham Announces Record Sponsorship With SBOTOP". Fulham FC. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2023.
  87. FC, Fulham (ngày 2 tháng 2 năm 2024). "Flyfish Announced as Official Partner". Fulham FC. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2025.
  88. "A to Z Reference Guides". Fulham F.C. ngày 24 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2013.
  89. BBC Match of the Day, Sunday 3 tháng 2 năm 2008
  90. "All Aboard!". www.fulhamfc.com (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2019.
  91. "Fulham". Premier Skills English. Premier League. ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 21 tháng 7 năm 2023. ... main rivals are Chelsea, whose Stamford Bridge Stadium is actually in Fulham ...
  92. Match Report – Fulham v QPR – 2 tháng 10 năm 2011 Lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013 tại Wayback Machine Sky Sports
  93. "BBC News | UK | Football fan jailed for killing rival supporter". news.bbc.co.uk. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2018.
  94. "Craven Cottage". Fulham Supporters' Trust. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2022.
  95. "News". Fulham Supporters Trust. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  96. "Football Supporter Map of London". Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 11 năm 2014.
  97. "FFC Premier League XI". Fulham FC. ngày 3 tháng 7 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
  98. "Fulham's Best XI". Fulham FC. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2013.
  99. "FULHAM'S BEST EVER PREMIER LEAGUE XI". ngày 18 tháng 8 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2022.
  100. "Atletico Madrid 2-1 Fulham (aet)" (bằng tiếng Anh). ngày 12 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 3 tháng 1 năm 2024.
  101. "Fulham FC: MEN". Fulham F.C. ngày 14 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 14 tháng 8 năm 2024.
  102. "Captain's message". Fulham F.C. ngày 21 tháng 6 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2018.
  103. "Our Football And Education Programme". ngày 2 tháng 10 năm 2023.
  104. "Williams sign Israeli racer Nissany as test driver | Formula 1®". www.formula1.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2025.
  105. "Player Pathways".
  106. "Fulham FC Foundation Annual Report" (PDF).
  107. "Fulham FC 🤝 Playermaker". ngày 24 tháng 5 năm 2022.
  108. "Tailor made for aspiring players". ngày 23 tháng 3 năm 2023.
  109. "Shahid Khan – Fulham Football Club". fulhamfc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2014.
  110. 1 2 3 "Directors – Fulham Football Club". fulhamfc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 2 năm 2014.
  111. "Fulham Appoint Marco Silva". Fulham FC. tháng 7 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  112. BBC News 'Coleman out as Sanchez takes over'
  113. "Fulham Football Club on Twitter: "Peter Grant, who will be taking the First Team for the MK Dons game, discusses training & looks ahead to the match"". Twitter. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2015.
  114. "Fulham: Mohamed Al Fayed sells club to Shahid Khan". BBC Sport. ngày 12 tháng 7 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.
  115. Conn, David (ngày 19 tháng 5 năm 2010). "Record income but record losses for Premier League". The Guardian. UK. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 11 tháng 12 năm 2016.
  116. "Fulham football club losses up despite on-field success". BBC News. ngày 15 tháng 3 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018.
  117. "Fulham effectively debt-free as Fayed converts loans into equity". Guardian.co.uk. ngày 29 tháng 1 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2013.
  118. "Honours". Fulham F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2018.
  119. "Grandest Football Match of the Season". ngày 22 tháng 4 năm 1887.
    "Football". ngày 17 tháng 12 năm 1887.
    "Fulham Football Club". ngày 17 tháng 12 năm 1892. West London Observer. (via) British Newspaper Archive.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Các trang web độc lập

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Fulham F.C. Bản mẫu:Mùa giải Fulham F.C.