Bước tới nội dung

Birmingham City F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Birmingham City
Badge of Birmingham City
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Birmingham City
Biệt danhBlues[1][2]
Thành lập1875; 151 năm trước (1875) với tên gọi Small Heath Alliance
SânSt Andrew's
Sức chứa29.409[3]
Chủ sở hữu
  • Shelby Companies Ltd. 96,64%[4]
Chủ tịch điều hànhTom Wagner[4]
Huấn luyện viên trưởngChris Davies[5]
Giải đấuChampionship
2024-25League One, thứ 1 trên 24 (thăng hạng)
Websitebcfc.com Sửa dữ liệu tại Wikidata
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Birmingham City (tiếng Anh: Birmingham City Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Birmingham, Anh. Được thành lập vào năm 1875 với tên gọi Small Heath Alliance, câu lạc bộ đổi tên thành Small Heath vào năm 1888, Birmingham vào năm 1905, và Birmingham City vào năm 1943.[6] Câu lạc bộ thi đấu tại Championship, hạng đấu thứ hai của bóng đá Anh.

Với tên gọi Small Heath, đội bóng từng thi đấu tại Football Alliance trước khi trở thành thành viên sáng lập đồng thời là nhà vô địch đầu tiên của Football League Second Division 1984-85. Giai đoạn thành công nhất trong lịch sử của câu lạc bộ là thập niên 1950 và đầu thập niên 1960. Họ đạt vị trí cao nhất trong lịch sử là hạng sáu tại First Divisionmùa giải 1955-56 và vào tới Chung kết Cúp FA 1956. Birmingham đã chơi trong hai trận chung kết Inter-Cities Fairs Cup, vào năm 1960, với tư cách đội bóng Anh đầu tiên vào tới một trận chung kết cúp châu Âu lớn, và một lần nữa ở mùa giải kế tiếp. Họ vô địch Cúp Liên đoàn vào các năm 19632011. Birmingham đã thi đấu ở hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh trong khoảng một nửa chiều dài lịch sử của mình:[7] quãng thời gian dài nhất ở ngoài hạng đấu cao nhất, từ năm 1986 đến năm 2002, bao gồm hai giai đoạn ngắn ở hạng Ba của bóng đá Anh, trong thời gian đó họ vô địch Football League Trophy hai lần.

St Andrew's, hiện được biết đến với tên gọi St. Andrew's @ Knighthead Park từ năm 2024 vì lí do tài trợ, là sân nhà của câu lạc bộ từ năm 1906. Họ có mối kình địch lâu đời và gay gắt với Aston Villa, đội bóng láng giềng gần nhất, đối thủ của họ trong trận derby Second City. Biệt danh của câu lạc bộ là Blues, theo màu áo đấu, còn người hâm mộ được gọi là Bluenoses.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu tiên (1875-1943)

[sửa | sửa mã nguồn]
Tập tin:SmallHeath1893.jpg
Small Heath F.C., nhà vô địch mùa giải khai sinh của Football League Second Divisionmùa giải 1892-93

Birmingham City được thành lập với tên gọi Small Heath Alliance vào năm 1875, và từ năm 1877 chơi các trận sân nhà tại Muntz Street. Biệt danh "Heathens" chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp vào năm 1885,[8] [9] và ba năm sau trở thành câu lạc bộ bóng đá đầu tiên chuyển thành công ty trách nhiệm hữu hạn tư nhân theo cổ phần với một hội đồng quản trị,[10] dưới tên gọi Small Heath F.C. Ltd.[11] Từ mùa giải 1889-90, họ chơi tại Football Alliance, giải đấu tồn tại song song với Football League. Năm 1892, Small Heath cùng các đội khác của Alliance được mời gia nhập Football League Second Division mới thành lập. Họ kết thúc mùa giải ở vị trí vô địch nhưng không thể thăng hạng do hệ thống trận kiểm tra thăng hạng; ở mùa giải sau, suất thăng hạng lên First Division được bảo đảm sau khi họ đứng thứ hai và thắng Darwen trong trận kiểm tra thăng hạng.[12] Câu lạc bộ đổi tên thành Birmingham Football Club vào năm 1905, và chuyển đến sân nhà mới là St Andrew's Ground vào năm sau đó.[13] Những gì diễn ra trên sân cỏ không tương xứng với cơ sở vật chất mới. Birmingham xuống hạng vào năm 1908, buộc phải xin tái bầu lại hai năm sau đó, và ở lại Second Division cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ nhất.[12]

Frank Womack trong vai trò đội trưởng cùng sự sáng tạo của tuyển thủ Scotland ở vị trí playmaker Johnny Crosbie đóng góp rất lớn vào việc Birmingham giành chức vô địch Division Two thứ hai ở mùa giải 1920-21.[14] Womack sau đó cán mốc 515 lần ra sân, một kỉ lục của câu lạc bộ đối với một outfielder, trong sự nghiệp kéo dài 20 năm.[15] Năm 1920 cũng chứng kiến trận ra mắt của Joe Bradford, khi đó mới 19 tuổi; ông sau này ghi kỉ lục 267 bàn cho câu lạc bộ trong 445 trận và có 12 lần khoác áo đội tuyển Anh.[16] Năm 1931, huấn luyện viên Leslie Knighton đưa câu lạc bộ tới trận chung kết Cúp FA đầu tiên, nơi họ thua 1-2 trước đội bóng Second Division là West Bromwich Albion.[17] Dù Birmingham trụ lại hạng đấu cao nhất trong 18 mùa giải, họ gặp nhiều khó khăn tại giải vô địch quốc gia, và phải phụ thuộc nhiều vào thủ môn tuyển Anh Harry Hibbs để bù đắp cho sự thiếu hụt bàn thắng ở đầu sân bên kia, ngoại trừ Bradford.[17] Cuối cùng họ xuống hạng vào năm 1939, mùa giải trọn vẹn cuối cùng trước khi Football League bị đình chỉ trong suốt thời gian Chiến tranh thế giới thứ hai.[18]

Birmingham City: thành công sau chiến tranh (1943-1965)

[sửa | sửa mã nguồn]

Tên gọi Birmingham City F.C. được sử dụng từ năm 1943.[6] Dưới quyền Harry Storer, được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào năm 1945, câu lạc bộ vô địch giải chiến tranh Football League South và vào tới bán kết của kỳ Cúp FA đầu tiên sau chiến tranh. Hai năm sau đó, họ giành chức vô địch Second Division lần thứ ba, chỉ để thủng lưới 24 bàn trong mùa giải gồm 42 trận.[19] Người kế nhiệm Storer là Bob Brocklebank, dù không thể ngăn cản việc xuống hạng vào năm 1950, nhưng đã mang về những cầu thủ đóng góp rất lớn cho thành công của câu lạc bộ trong thập niên tiếp theo.[20] Khi Arthur Turner lên nắm quyền huấn luyện vào tháng 11 năm 1954, ông khiến đội bóng chơi gần đúng với tiềm năng hơn, và chiến thắng 5-1 ở vòng cuối của mùa giải 1954-55 xác nhận họ là nhà vô địch.[21] Trong mùa giải đầu tiên trở lại First Division, Birmingham đạt thành tích xếp hạng cao nhất lịch sử tại giải vô địch quốc gia là đứng thứ sáu. Họ cũng vào tới chung kết Cúp FA, nơi thua 1-3 trước Manchester City trong trận đấu nổi tiếng vì thủ môn Bert Trautmann của Manchester City chơi 20 phút cuối cùng với một chiếc xương cổ bị gãy. Ở mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ thua trong trận bán kết Cúp FA lần thứ ba kể từ sau chiến tranh, lần này bị "Busby Babes" của Manchester United đánh bại với tỉ số 2-0.[21]

Birmingham trở thành đội bóng Anh đầu tiên tham dự đấu trường châu Âu khi chơi trận vòng bảng đầu tiên của giải Inter-Cities Fairs Cup khai sinh vào ngày 15 tháng 5 năm 1956;[22][23][24] họ vào tới bán kết, nơi hòa 4-4 sau hai lượt trận với Barcelona nhưng thua 1-2 ở trận đá lại. Họ cũng là đội bóng Anh đầu tiên vào tới một trận chung kết cúp châu Âu, thua chung cuộc 1-4 trước Barcelona trong trận chung kết Fairs Cup năm 1960 và thua 2-4 trước A.S. Roma ở năm sau đó.[24] Tại bán kết năm 1961, họ thắng Internazionale cả sân nhà lẫn sân khách;[24] không đội bóng Anh nào khác thắng được một trận chính thức tại San Siro cho đến khi Arsenal làm được điều đó vào năm 2003.[25] Đội bóng của Gil Merrick thể hiện phong độ tốt nhất ở các giải cúp. Dù đối thủ trong chung kết Cúp Liên đoàn 1963 là kình địch cùng thành phố Aston Villa được đánh giá cao hơn trước trận, Birmingham đã chơi một trận đấu xuất sắc và thắng chung cuộc 3-1 để giành danh hiệu lớn đầu tiên của mình.[26] Năm 1965, sau mười năm ở hạng đấu cao nhất, họ trở lại Second Division.[27]

Đầu tư, thăng hạng và suy thoái (1965-1993)

[sửa | sửa mã nguồn]

Doanh nhân Clifford Coombs lên làm chủ tịch vào năm 1965 và thuyết phục Stan Cullis trở lại làm huấn luyện viên.[28] Đội bóng của Cullis chơi thứ bóng đá hấp dẫn, giúp họ vào bán kết Cúp Liên đoàn năm 1967 và bán kết Cúp FA năm 1968, nhưng bóng đá giải vô địch quốc gia đòi hỏi một cách tiếp cận khác.[29] Người kế nhiệm Freddie Goodwin xây dựng một đội bóng chơi thứ bóng đá kĩ thuật, quyết liệt, đủ để giành quyền thăng hạng cũng như vào tới bán kết Cúp FA.[30] Hai năm sau đó, câu lạc bộ gây quỹ bằng cách bán Bob Latchford cho Everton với mức phí chuyển nhượng kỉ lục của bóng đá Anh là 350.000 bảng Anh, nhưng thiếu đi số bàn thắng của ông, đội bóng sa sút rõ rệt.[31][32] Sir Alf Ramsey có thời gian ngắn dẫn dắt câu lạc bộ trước khi Jim Smith lên nắm quyền vào năm 1978. Khi việc xuống hạng đã trở nên chắc chắn, câu lạc bộ bán Trevor Francis cho Nottingham Forest, biến ông thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử được chuyển nhượng với mức phí 1 triệu bảng Anh;[33] Francis đã ghi 133 bàn trong 329 lần ra sân trong suốt chín năm gắn bó với Birmingham.[34]

Smith lập tức đưa Birmingham trở lại First Division, nhưng khởi đầu tệ hại ở mùa giải 1981-82 khiến ông bị thay thế bởi Ron Saunders, người vừa từ chức ở đội vô địch quốc gia Aston Villa.[35] Đội bóng của Saunders gặp khó khăn trong việc ghi bàn và xuống hạng vào năm 1984.[35] Họ lập tức thăng hạng trở lại, nhưng trận sân nhà cuối cùng của mùa giải thăng hạng 1984-85, gặp Leeds United, bị phủ bóng bởi bạo loạn, lên đến đỉnh điểm là cái chết của một cậu bé khi một bức tường đổ sập lên người cậu. Việc này xảy ra cùng ngày với thảm họa cháy sân Bradford City, và những sự kiện tại St Andrew's trở thành một phần trong phạm vi điều tra về an toàn tại sân thể thao của ngài thẩm phán Popplewell.[36] Câu lạc bộ thiếu ổn định cả trong lẫn ngoài sân cỏ. Saunders từ chức sau thất bại ở Cúp FA trước đội bóng non-League Altrincham, nhân viên bị cắt giảm, sân tập bị bán đi, và tới năm 1989 Birmingham lần đầu tiên trong lịch sử rơi xuống Third Division.[37]

Vào tháng 4 năm 1989, anh em nhà Kumar, chủ sở hữu của một chuỗi cửa hàng quần áo, mua lại câu lạc bộ.[37] Việc thay đổi huấn luyện viên liên tục, thiếu vắng nguồn đầu tư đã hứa, cùng nguy cơ các cầu thủ đồng loạt từ chối gia hạn hợp đồng chỉ được xoa dịu phần nào nhờ chuyến đi thành công tới Wembley trong trận chung kết Associate Members' Cup.[38] Terry Cooper đưa đội bóng thăng hạng, nhưng sự sụp đổ của Bank of Credit and Commerce International (BCCI) khiến doanh nghiệp của anh em Kumar rơi vào tình trạng bị tiếp quản tài sản; vào tháng 11 năm 1992, người thanh lí tài sản của BCCI rao bán phần sở hữu 84% cổ phần của họ tại câu lạc bộ bóng đá.[39]

Bán câu lạc bộ và tái thiết (1992-2007)

[sửa | sửa mã nguồn]
Huấn luyện viên Steve Bruce đã đưa Birmingham City thăng hạng lên Premier League vào các năm 2002 và 2007

Câu lạc bộ tiếp tục ở trong tình trạng bị quản lí tài chính thêm 4 tháng, cho tới khi ông chủ của Sport NewspapersDavid Sullivan mua lại với giá 700.000 bảng Anh,[40] bổ nhiệm Karren Brady khi đó mới 23 tuổi làm giám đốc điều hành, và cho Cooper ngân sách để mua cầu thủ. Ở vòng cuối của mùa giải, đội bóng tránh được việc xuống hạng trở lại hạng Ba,[41] nhưng sau khởi đầu tệ hại ở mùa giải 1993-94, Cooper bị thay bởi Barry Fry. Sự thay đổi này không thể ngăn việc xuống hạng, nhưng mùa giải trọn vẹn đầu tiên của Fry mang lại suất thăng hạng trở lại hạng Hai với tư cách nhà vô địch, và chiến thắng trước Carlisle United tại Football League Trophy nhờ bàn thắng golden goal của Paul Tait đã hoàn tất một "cú đúp ở hạng đấu thấp".[42] Sau thêm một năm nữa, Fry bị sa thải để nhường chỗ cho sự trở lại của Trevor Francis.[43]

Được tăng cường bởi những cầu thủ có kinh nghiệm thi đấu ở đẳng cấp cao nhất, trong đó có đội trưởng Manchester United là Steve Bruce, đội bóng của Francis suýt giành được vị trí dự play-off vào năm 1998, và sau đó là ba lần liên tiếp thua ở bán kết play-off.[9] Họ vào tới chung kết Cúp Liên đoàn 2001 gặp Liverpool tại Sân vận động Thiên niên kỷCardiff. Birmingham gỡ hòa ở phút cuối cùng của thời gian thi đấu chính thức, nhưng trận đấu phải bước vào loạt sút luân lưu, nơi Liverpool giành chiến thắng.[44] Đến tháng 10 năm 2001, sự thiếu tiến bộ khiến vị trí của Francis không còn có thể duy trì; sau thất bại 0-6 trước Manchester City tại Cúp Liên đoàn, ông rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung.[45] Sự trở lại của Bruce trên cương vị huấn luyện viên đã làm mới một đội bóng trì trệ; ông đưa họ từ vị trí giữa bảng xếp hạng tới loạt play-off, nơi câu lạc bộ đánh bại Norwich City trên chấm luân lưu ở trận chung kết để giành quyền thăng hạng lên Premier League.[46][47]

Được tiếp thêm động lực bởi Christophe Dugarry,[48] mùa giải đầu tiên của Birmingham ở hạng đấu cao nhất sau 16 năm kết thúc ở vị trí giữa bảng xếp hạng. 17 bàn thắng tại giải vô địch quốc gia của bản hợp đồng cho mượn Mikael Forssell giúp Birmingham có mặt ở nửa trên bảng xếp hạng trong mùa giải 2003-04, nhưng khi anh dính chấn thương, đội bóng mùa 2004-05 gặp khó khăn lớn trong việc ghi bàn. Vào tháng 7 năm 2005, chủ tịch David Gold cho rằng đã đến lúc "bắt đầu nói về việc trở nên tốt như bất cứ ai ngoài ba hoặc bốn đội đứng đầu" với "đội hình cầu thủ tốt nhất trong 25 năm".[49] Nhưng chấn thương, sa sút phong độ và sự thiếu đầu tư trong kì chuyển nhượng khiến họ xuống hạng trong một mùa giải có cả thất bại 0-7 trước Liverpool ở Cúp FA.[50] Jermaine PennantEmile Heskey rời câu lạc bộ với những mức phí kỉ lục,[51][52] nhiều cầu thủ khác bị thanh lí hợp đồng,[53] nhưng chiến lược tuyển dụng được Bruce điều chỉnh lại — kết hợp giữa những cầu thủ giàu kinh nghiệm đến theo dạng chuyển nhượng tự do, các cầu thủ trẻ "khát khao", và việc tận dụng khôn ngoan thị trường cho mượn — đã mang về suất thăng hạng trực tiếp ở cuối một mùa giải từng chứng kiến một bộ phận người hâm mộ đòi sa thải ông.[54]

Những năm tháng dưới quyền kiểm soát của người Trung Quốc (2007-2023)

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 2007, doanh nhân người Hồng Kông Carson Yeung mua 29,9% cổ phần của câu lạc bộ, qua đó trở thành cổ đông cá nhân lớn nhất, với ý định sẽ giành toàn quyền kiểm soát trong tương lai.[55] Không chắc chắn về tương lai của mình dưới quyền các ông chủ mới có thể xuất hiện, Bruce rời câu lạc bộ vào giữa mùa giải.[56] Người kế nhiệm ông, huấn luyện viên đội tuyển Scotland Alex McLeish, không thể ngăn việc xuống hạng, nhưng đã đưa đội bóng trở lại Premier League ngay trong lần đầu tiên cố gắng.[57] Công ti của Yeung hoàn tất việc tiếp quản vào năm 2009,[58] và đội bóng kết thúc mùa giải ở vị trí thứ chín, thành tích tốt nhất của họ trong 51 năm.[59] Năm 2011, họ kết hợp chức vô địch Cúp Liên đoàn thứ hai, sau khi đánh bại ứng cử viên nặng kí Arsenal 2-1 nhờ các bàn thắng của Nikola ŽigićObafemi Martins, đồng thời giành quyền tham dự Europa League,[60] với việc xuống hạng trở lại cấp độ hai; sau đó McLeish từ chức để gia nhập Aston Villa.[61]

Birmingham suýt không thể vào vòng đấu loại trực tiếp của Europa League và trận chung kết play-off. Trong bối cảnh câu lạc bộ rơi vào khủng hoảng tài chính và bị cấm chuyển nhượng, huấn luyện viên Chris Hughton rời đi.[62] Dưới thời Lee Clark, Birmingham hai lần giữ được suất ở hạng đấu của mình, dù có một lần là nhờ bàn thắng ở phút 93 của Paul Caddis trong trận cuối cùng của mùa giải 2013-14 để tránh xuống hạng do hơn về hiệu số bàn thắng bại,[63] nhưng phong độ yếu kém kéo dài khiến ông bị sa thải vào tháng 10 năm 2014.[64] Gary Rowett ổn định đội bóng và đưa đội tới hai mùa giải liên tiếp đứng thứ mười, trước khi gây tranh cãi khi bị các ông chủ mới Trillion Trophy Asia sa thải để nhường chỗ cho "lí lịch" của Gianfranco Zola, người được cho là sẽ hỗ trợ "tầm nhìn chiến lược, dài hạn" nhằm đưa câu lạc bộ sang một hướng đi mới.[65]

Hai chiến thắng trong 24 trận dưới thời Zola khiến Birmingham phải thắng hai trong ba trận cuối cùng để trụ hạng, điều mà đội bóng đã làm được dưới sự dẫn dắt của Harry Redknapp.[66] Redknapp chỉ trụ thêm được một tháng,[67] người trợ lí cũ của ông là Steve Cotterill thì kéo dài năm tháng, và điều đó để lại cho người kế nhiệm Garry Monk thêm một cuộc chiến trụ hạng nữa — cuối cùng vẫn thành công.[68][69] Bất chấp các hạn chế ngân sách và việc bị trừ chín điểm do vi phạm các quy định của giải đấu về Lợi nhuận và Tính bền vững (P&S), đội bóng kết thúc mùa giải 2018-19 ở vị trí thứ 17; tuy nhiên, Monk bị sa thải vào tháng 6 sau mâu thuẫn với ban lãnh đạo.[70] Người kế nhiệm ông là trợ lí Pep Clotet, ban đầu trong vai trò tạm quyền.[71] Trong mùa giải 2019-20, câu lạc bộ một lần nữa tránh được xuống hạng bất chấp chuỗi 14 trận không thắng ở cuối mùa giải và nguy cơ bị trừ thêm điểm.[72][73] Sản phẩm của học viện Jude Bellingham được bán cho Borussia Dortmund vào mùa hè với một thương vụ kỉ lục của câu lạc bộ, được cho là có thể trị giá tới 30 triệu bảng Anh,[74] sau đó Aitor Karanka trụ lại tám tháng trên cương vị huấn luyện viên trưởng trước khi bị thay bởi cựu cầu thủ Birmingham Lee Bowyer.[75] Sau 16 tháng cầm quân và lại thêm một cuộc chiến trụ hạng khác, trong bối cảnh rộ lên tin đồn về một vụ tiếp quản sắp diễn ra, Bowyer bị thay bởi John Eustace.[76][77]

Thời kì dưới quyền kiểm soát của người Mỹ (2023-nay)

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi hai nỗ lực tiếp quản đều đổ vỡ,[78] Shelby Companies Ltd, một công ti con của Knighthead Capital Management có trụ sở tại Hoa Kì và do đồng sáng lập của công ti này là Tom Wagner đại diện, đã mua cổ phần kiểm soát tại câu lạc bộ cùng toàn quyền sở hữu sân vận động vào ngày 13 tháng 7 năm 2023.[79] Cựu giám đốc điều hành Manchester City Garry Cook được bổ nhiệm vào vai trò tương ứng tại Birmingham, và câu lạc bộ thu hút sự chú ý lớn của truyền thông nhờ việc cầu thủ American football Tom Brady gia nhập với tư cách đồng sở hữu thiểu số.[80][81]

Đầu tháng 10, khi đội bóng đang đứng trong nhóm dự play-off, Eustace bị sa thải. Trong một động thái gợi nhớ tới việc Rowett bị thay bằng Zola bảy năm trước đó, ban lãnh đạo nhấn mạnh sự cần thiết phải xây dựng "tinh thần chiến thắng và văn hóa tham vọng" trên toàn bộ câu lạc bộ,[82] và mong muốn có một sự bổ nhiệm mới với "[trách nhiệm] tạo dựng bản sắc cùng lối chơi rõ ràng, 'không sợ hãi'".[83] Sau khi cựu tuyển thủ Anh Wayne Rooney chỉ giành được hai chiến thắng trong 15 trận và khiến Birmingham rơi xuống vị trí thứ 20,[84] Tony Mowbray được bổ nhiệm làm huấn luyện viên.[85] Nhu cầu phải tạm rời công việc vì lí do sức khỏe của ông dẫn tới việc Gary Rowett được bổ nhiệm tạm quyền,[86] nhưng 11 điểm trong 8 trận cuối cùng của ông vẫn không đủ để ngăn việc xuống hạng xuống League One sau 29 năm liên tiếp ở một cấp độ cao hơn.[87] Vào tháng 6 năm 2024, Birmingham bổ nhiệm Chris Davies làm huấn luyện viên, kí hợp đồng bốn năm với ông.[88] Dưới thời Davies, đội bóng trở lại Championship ngay trong lần đầu tiên cố gắng, khi vô địch League One.[89] Họ cũng vào tới 2025 EFL Trophy final nhưng thua 0-2 trước Peterborough United.[90] Vào tháng 11 năm 2025, Knighthead hoàn tất việc tiếp quản câu lạc bộ khi mua nốt 51% cổ phần vẫn còn thuộc sở hữu của ZO Future Group (trước đây là Birmingham Sports Holdings Limited).[91]

Năm 2026, Birmingham City FC bán 97% cổ phần trong đội bóng nữ cho một nhóm đầu tư do Shelby Companies, công ti con của Knighthead Capital Management, dẫn đầu. Liên danh này còn có cựu tuyển thủ Anh Karen Carney và cựu số một thế giới quần vợt Kim Clijsters. Thương vụ này nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh về chuyên môn cho đội bóng nữ, đồng thời nâng cao vị thế quốc tế của đội. Giao dịch này là một phần trong chiến lược phát triển đô thị và thể thao rộng lớn hơn, gắn với kế hoạch xây dựng sân vận động mới và một dự án khu thương mại quy mô lớn tại Birmingham.[92]

Màu sắc và huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Trang phục nguyên thủy của Small Heath Alliance

Các thành viên của Small Heath Alliance đã tự quyết định rằng màu sắc của mình sẽ là màu xanh; trong những ngày đầu, họ mặc bất cứ chiếc áo màu xanh nào mình có.[93] Bộ trang phục đồng bộ đầu tiên là áo màu xanh đậm với một dải chéo vắt qua vai phải,[94] được mô tả theo nhiều cách khác nhau là màu trắng,[95] vàng,[96] hoặc đỏ.[97] Đã có một số biến thể khác nhau xoay quanh tông màu xanh được thử nghiệm; mẫu gắn bó lâu dài là áo màu xanh hoàng gia với chữ "V" màu trắng, được áp dụng trong Chiến tranh thế giới thứ nhất và được giữ đến cuối thập niên 1920. Dù thiết kế có thay đổi, màu xanh hoàng gia vẫn được duy trì. Năm 1971, họ sử dụng bộ áo "penguin"  màu xanh hoàng gia với một mảng trắng rộng ở chính giữa mặt trước  và mẫu này tồn tại trong năm năm.[98] Kể từ đó, họ nhìn chung mặc áo trơn, về danh nghĩa là màu xanh hoàng gia, dù sắc độ thực tế được sử dụng có thay đổi theo từng thời kì. Quần đùi khi thì màu xanh, khi thì màu trắng, còn tất thường là xanh, trắng hoặc kết hợp cả hai. Màu trắng, vàng, đỏ và đen, dùng riêng lẻ hoặc kết hợp, là những màu được sử dụng thường xuyên nhất cho trang phục sân khách.[99][100]

Cũng có những trường hợp khác thường: bộ trang phục năm 1992, do Triton Showers tài trợ, được làm từ chất liệu màu xanh phủ các mảng loang nhiều màu, trông giống một tấm rèm tắm.[101][102] Áo sân nhà chỉ có đúng một lần xuất hiện sọc: vào năm 1999, chiếc áo xanh có một mảng trung tâm phía trước gồm các sọc xanh và trắng hẹp, một thiết kế tương tự túi đựng hàng của siêu thị Tesco thời đó.[100][103]

Khi câu lạc bộ đổi tên từ Small Heath thành Birmingham vào năm 1905, họ lấy huy hiệu của thành phố làm huy hiệu của mình, dù huy hiệu này không phải lúc nào cũng được mang trên áo đấu. Áo "penguin" của thập niên 1970 có các chữ cái "BCFC" lồng vào nhau ở giữa ngực áo. Báo Sports Argus đã tổ chức một cuộc thi vào năm 1972 để thiết kế huy hiệu mới cho câu lạc bộ. Mẫu chiến thắng, gồm một quả địa cầu và quả bóng được vẽ bằng nét mảnh, kèm dải băng ghi tên câu lạc bộ và năm thành lập, với hai màu xanh và trắng đơn giản,[104] được câu lạc bộ thông qua nhưng không xuất hiện trên áo thi đấu cho đến năm 1976,[105] sau khi thiết kế này được College of Arms chấp thuận vào năm 1975.[106] Một thử nghiệm đầu thập niên 1990 với việc tô màu cho quả địa cầu và quả bóng nhanh chóng bị từ bỏ.[105]

Câu lạc bộ hiếm khi gắn bó quá ba mùa giải với cùng một nhà sản xuất trang phục.[105] Nhà tài trợ đầu tiên có tên xuất hiện trên áo đấu là hãng bia có trụ sở tại Birmingham Ansells vào năm 1983.[105] Họ rút lui vào giữa năm 1985,[107] và áo đấu không có tài trợ cho đến tháng 1 năm 1987, khi Co-op Milk trả một "khoản tiền năm chữ số" để tên của họ được hiển thị đến hết mùa giải. Điều này giúp câu lạc bộ nhẹ gánh không chỉ về mặt tài chính: phó chủ tịch khi đó nói rằng vì đây là "một câu lạc bộ lớn ... mọi người đều mong chúng tôi có nhà tài trợ áo đấu và chúng tôi đã bị chậm chân".[108] Các nhà tài trợ sau đó gồm có hãng kinh doanh ô tô PJ Evans/Evans Halshaw (1988-1989), Mark One (1989-1992), Triton Showers (1992-1995), Auto Windscreens (1995-2001), Phones 4u (2001-2003), Flybe (2003-2007), F&C Investments (2007-2011), công ti ngoại hối RationalFX (2011-2012), doanh nghiệp "phong cách sống và giải trí" EZE Group (2012-2013 và 2015-2016), công ti e-cigarette Nicolites (2013-2014), nền tảng thanh toán di động Zapaygo (2014-2015), 888sport (2016-2019) và BoyleSports (2019-2023).[105][109]

Vào tháng 6 năm 2020, câu lạc bộ công bố hợp tác bốn năm với Nike với tư cách nhà cung cấp trang phục,[110] và thỏa thuận này được nâng cấp trong mùa giải 2023-24 để bao gồm các sản phẩm thiết kế riêng thay vì hàng sản xuất đại trà. Bộ trang phục sân nhà mùa giải 2024-25 gồm áo màu xanh hoàng gia có viền trắng và  gợi nhớ tới áo Co-op Milk của thập niên 1980  một dải trắng vắt ngang mặt trước mang biểu trưng của đối tác chính của câu lạc bộ là thương hiệu streetwear Undefeated, quần đùi trắng và tất xanh hoàng gia.[111][112]

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]

Small Heath Alliance chơi những trận sân nhà đầu tiên trên một bãi đất hoang ngoài đường Arthur Street, Bordesley Green. Khi sự quan tâm tăng lên, họ chuyển đến một khu sân có rào chắn tại Ladypool Road, Sparkbrook, nơi có thể thu tiền vé vào cửa. Một năm sau, họ lại chuyển đi, tới một khu sân nằm cạnh Muntz Street, Small Heath, gần đường Coventry chính, với sức chứa khoảng 10.000 người. Sân Muntz Street đủ đáp ứng cho các trận giao hữu của thập niên 1880, và sức chứa dần được nâng lên khoảng 30.000, nhưng khi vài nghìn khán giả trèo tường và phá cổng soát vé để vào xem một trận First Division gặp Aston Villa, rõ ràng là nơi này không còn đủ khả năng đáp ứng nhu cầu nữa.[113]

Giám đốc Harry Morris đã xác định một địa điểm cho sân mới ở Bordesley Green, cách Muntz Street khoảng ba phần tư dặm (1 km) về phía trung tâm thành phố. Khu đất này trước đây là nơi hoạt động của một brickworks; mặt bằng dốc mạnh xuống các ao nước tù, nhưng sân vận động vẫn được xây dựng trong chưa đầy mười hai tháng, từ lúc giải phóng mặt bằng cho đến lễ khai trương vào Boxing Day năm 1906. Trận khai trương suýt bị ngăn trở bởi tuyết rơi dày; các tình nguyện viên phải dọn sân và các bậc khán đài trước khi trận hòa không bàn thắng với Middlesbrough có thể diễn ra.[113] Tương truyền sân đã bị gypsies bị đuổi khỏi địa điểm này nguyền rủa;[114] tuy nhiên, dù người ta biết rằng gypsies từng cắm trại ở gần đó,[115] không có bằng chứng đương thời nào cho thấy họ bị câu lạc bộ đuổi đi.

Lượng khán giả trung bình và cao nhất tại giải vô địch quốc gia ở St Andrew's

Sức chứa ban đầu của St Andrew's được ghi nhận là 75.000 chỗ, với 4.000 ghế ở Khán đài Chính và chỗ cho 22.000 người dưới mái che.[113] Đến năm 1938, sức chứa chính thức là 68.000, và tháng 2 năm 1939 chứng kiến kỉ lục khán giả khi diễn ra trận vòng Năm Cúp FA gặp Everton, với con số được ghi lại theo nhiều cách khác nhau là 66.844 hoặc 67.341 người.[A] Khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Chief Constable ra lệnh đóng cửa sân vì nguy cơ bị không kích; đây là sân duy nhất bị đóng cửa theo cách đó, và chỉ được mở lại sau khi vấn đề được nêu ra tại Quốc hội. Sân bị hư hại nặng trong Birmingham Blitz: khu Railway End và khán đài Kop do trúng bom, còn Khán đài Chính bị cháy rụi khi một lính cứu hỏa nhầm xăng với nước.[113]

Khán đài Chính, St Andrew's, 2005

Khán đài Chính thay thế sử dụng thiết kế mái cantilever có chống đỡ, nhờ đó số lượng cột chắn tầm nhìn của khán giả xuống sân được giảm bớt. Đèn pha được lắp đặt vào năm 1956, và chính thức được bật trong trận giao hữu với Borussia Dortmund năm 1957.[119] Đến đầu thập niên 1960, một khán đài đã được xây ở phía Railway End theo cùng thiết kế với Khán đài Chính, các mái che được dựng trên Kop và Tilton Road End, và sức chứa sân giảm xuống còn khoảng 55.000 chỗ.[119]

Sau Popplewell Report năm 1986 về an toàn tại các sân thể thao và Taylor Report sau đó, sức chứa của St Andrew's được ấn định là 28.235 vì lí do an toàn,[36][119] nhưng mọi người đều chấp nhận rằng sân cần được cải tạo để đáp ứng các tiêu chuẩn hiện đại về sân toàn ghế ngồi. Sau trận sân nhà cuối cùng của mùa giải 1993-94, các khán đài bậc thang Kop và Tilton Road bị phá bỏ  người hâm mộ mang về nhà một phần đáng kể làm kỉ niệm  để được thay thế vào đầu mùa giải mới bằng Khán đài Tilton Road 7.000 chỗ, tiếp tục vòng sang góc nối với khán đài Kop 9.500 chỗ, khánh thành sau đó hai tháng.[113] Khán đài Railway 8.000 chỗ tiếp theo được hoàn thành vào năm 1999;[120] mười năm sau, khán đài này được đổi tên thành khán đài Gil Merrick, để vinh danh cầu thủ giữ kỉ lục ra sân và cựu huấn luyện viên của câu lạc bộ,[121] nhưng Khán đài Chính đến nay vẫn chưa được hiện đại hóa. Năm 2021, trang web của câu lạc bộ liệt kê sức chứa sân vận động là 29.409 chỗ.[3]

Năm 2004, một đề xuất được đưa ra về việc xây dựng một "làng thể thao" bao gồm City of Birmingham Stadium có sức chứa 55.000 chỗ, cùng các cơ sở thể thao và giải trí khác và một siêu sòng bạc, được đồng tài trợ bởi Birmingham City Council, Birmingham City F.C. (thông qua khoản thu từ việc bán St Andrew's) và tập đoàn sòng bạc Las Vegas Sands. Tính khả thi của kế hoạch phụ thuộc vào việc chính phủ cấp phép cho một siêu sòng bạc và Birmingham được chọn làm địa điểm tổ chức,[122] nhưng điều đó đã không xảy ra. Câu lạc bộ có giấy phép quy hoạch để tái phát triển Khán đài Chính,[123] nhưng câu lạc bộ và hội đồng thành phố vẫn tiếp tục tìm kiếm các nguồn tài trợ thay thế cho dự án City of Birmingham Stadium.[124]

Năm 2013, đơn xin công nhận St Andrew's là một Asset of Community Value (ACV)  một công trình hoặc khu đất mà mục đích sử dụng chính của nó "thúc đẩy phúc lợi xã hội hoặc lợi ích xã hội của cộng đồng địa phương" và có cơ sở thực tế để tin rằng trong tương lai nó vẫn có thể làm được như vậy  theo Localism Act 2011, do Hội Cổ động viên Birmingham City đệ trình, đã được Hội đồng thành phố Birmingham chấp thuận.[125][126] Điều này yêu cầu mọi đề xuất bán phải được thông báo cho hội đồng, đồng thời tạo ra thời hạn trì hoãn sáu tháng đối với việc bán đó để Hội Cổ động viên và các nhóm cộng đồng khác có thể nộp hồ sơ mua lại của riêng mình.[126] Năm 2018, chủ sở hữu câu lạc bộ đồng ý một thỏa thuận tài trợ kéo dài ba năm, theo đó sân được đổi tên thành St Andrew's Trillion Trophy Stadium.[127]

Các tầng dưới của khán đài Tilton và Kop bị đóng cửa để xử lí amiăng trong ba năm tiếp theo, và chỉ mở lại hoàn toàn vào tháng 11 năm 2023.[128] Năm 2024, sân vận động được đổi tên thành St. Andrew's @ Knighthead Park vì lí do tài trợ, như là "bước đầu tiên trong kế hoạch [của các ông chủ] nhằm tạo ra một 'Khu thể thao' đẳng cấp thế giới tại Birmingham".[129]

Cổ động viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Người hâm mộ Birmingham xem đối thủ chính của mình là Aston Villa, đội bóng ở gần nhất về mặt địa lí, đối thủ mà họ chạm trán trong trận derby Second City. Các mối kình địch ít gay gắt hơn gồm những câu lạc bộ khác ở West Midlands như Wolverhampton Wanderers và West Bromwich Albion. Theo khảo sát Football Fans Census năm 2003, cổ động viên Aston Villa xem Birmingham City là đối thủ chính của mình, dù điều này không phải lúc nào cũng vậy.[130]

Linh vật Birmingham City, Beau Brummie

Cổ động viên Birmingham thường được truyền thông và chính người hâm mộ gọi là "Bluenoses"; tên gọi này cũng được cổ động viên các câu lạc bộ khác dùng theo cách miệt thị.[130][131] Một tác phẩm điêu khắc công cộng dưới dạng phần đầu người lớn gấp mười lần kích thước thật, nằm trên một gò đất gần sân St Andrew's — tác phẩm Sleeping Iron Giant của Ondré Nowakowski — đã nhiều lần bị bôi sơn xanh lên mũi.[132] Từ năm 1994 đến năm 1997, linh vật của câu lạc bộ có hình một chiếc mũi màu xanh,[133] dù hiện nay là một chú chó mang tên Beau Brummie, chơi chữ từ tên Beau BrummellBrummie, tiếng lóng chỉ người đến từ Birmingham, còn bạn gái của chú là Belle. Beau Brummie ban đầu được giới thiệu vào tháng 10 năm 1966, với tên gọi do nhân viên của Blues là Dennis Gilbert gợi ý và thiết kế do John Barnett thực hiện, người vừa tạo ra World Cup Willie. Linh vật của Blues trong 25 năm — "Kipper" (Len Arnold), một quý ông mặc áo đuôi tôm màu xanh và trắng — đã phải nghỉ hưu 18 tháng trước đó.[134]

Một số hội cổ động viên có liên kết chính thức với câu lạc bộ, cả ở Anh lẫn ở nước ngoài.[135] Một nhóm hành động được thành lập vào năm 1991 để phản đối chủ tịch Samesh Kumar,[38] câu lạc bộ quy trách nhiệm cho một bản kiến nghị trên internet về sự đổ vỡ của thương vụ chiêu mộ Lee Bowyer vào năm 2005,[136] và sự ác cảm đối với ban lãnh đạo đã dẫn tới những tiếng hô phản đối cùng một vụ tràn xuống sân sau trận đấu cuối cùng của mùa giải 2007-08,[137] nhưng khi câu lạc bộ gặp khó khăn tài chính, người hâm mộ đã đóng góp cho các chương trình gây quỹ giúp mua về Brian Roberts năm 1984[138]Paul Peschisolido năm 1992.[38] Một quỹ tín thác cổ động viên được thành lập dưới sự bảo trợ của Supporters Direct vào năm 2012.[139]

Đã có một số fanzine do người hâm mộ xuất bản. Made in Brum, phát hành lần đầu vào năm 2000, là ấn phẩm duy nhất còn được bán thường xuyên vào năm 2013.[140] Zulu bắt đầu từ vài năm trước đó và tồn tại ít nhất 16 mùa giải.[141] hooligan firm gắn với câu lạc bộ, Zulu Warriors, khác thường ở chỗ có thành viên đa sắc tộc trong thời điểm mà nhiều nhóm tương tự có liên hệ với các tổ chức phân biệt chủng tộc hoặc cánh hữu.[142][143]

Cổ động viên Birmingham trong trận sân khách đầu tiên của câu lạc bộ ở vòng bảng UEFA Europa League năm 2011

Bài hát truyền thống của người hâm mộ,[144] là một phiên bản cải biên từ ca khúc "Keep Right On To The End of the Road" của Harry Lauder,[145] được tiếp nhận trong chiến dịch Cúp FA năm 1956. Phóng viên bóng đá của The Times đã mô tả trong bài xem trước trận chung kết Cúp FA như sau

các bộ lạc Birmingham đã đưa đội bóng của mình bay tới Wembley — đội đầu tiên từng vào chung kết mà không một lần được chơi trên sân nhà — trên đôi cánh của bài hát "Keep right on to the end of the road".[146]

Cầu thủ Alex Govan được xem là người đã phổ biến bài hát này khi ông hát nó trên xe buýt trên đường đến trận tứ kết,[147] và khi tiết lộ trong một cuộc phỏng vấn rằng đó là bài hát ông yêu thích nhất.

Trong thời gian chuẩn bị cho trận bán kết Cúp FA năm 1956 với Sunderland, tôi được báo chí phỏng vấn và tình cờ để lộ rằng bài hát tôi yêu thích nhất là ca khúc nhạc hội cũ của Harry Lauder, "Keep Right on to the End of the Road". Tôi không nghĩ gì thêm về chuyện đó, nhưng khi bàn thắng thứ ba được ghi ở Hillsborough, tất cả cổ động viên Blues đều bắt đầu hát bài hát ấy. Đó là khoảnh khắc đáng tự hào nhất trong đời tôi.[148]

Quyền sở hữu

[sửa | sửa mã nguồn]

Small Heath F.C. trở thành một công ty trách nhiệm hữu hạn vào năm 1888; đợt phát hành cổ phiếu đầu tiên của câu lạc bộ có tổng giá trị 650 bảng Anh.[149] Hội đồng quản trị gồm các doanh nhân và nhân vật địa phương cho đến năm 1965, khi câu lạc bộ được bán cho Clifford Coombs.[150] Đến giữa thập niên 1980, câu lạc bộ gặp khó khăn tài chính. Quyền kiểm soát được chuyển từ gia đình Coombs sang Ken Wheldon, cựu chủ tịch của Walsall, người đã cắt giảm chi phí, cho nhân sự nghỉ việc và bán tài sản, bao gồm cả sân tập của câu lạc bộ. Dù vậy, Wheldon vẫn không thể khiến câu lạc bộ có lãi, nên ông bán nó cho anh em nhà Kumar, chủ sở hữu một chuỗi cửa hàng quần áo.[37] Nợ vẫn tiếp tục tăng cho đến khi tình hình bùng phát thành khủng hoảng; sự sụp đổ của Ngân hàng Tín dụng và Thương mại Quốc tế (BCCI) đã đẩy các doanh nghiệp của anh em Kumar vào tình trạng bị quản lí tài sản. Câu lạc bộ tiếp tục bị quản lí đặc biệt trong bốn tháng, cho đến khi chủ sở hữu của Sport Newspapers là David Sullivan mua lại 84% cổ phần của anh em Kumar từ đơn vị thanh lí của BCCI với giá 700.000 bảng Anh vào tháng 3 năm 1993.[39][40] Birmingham City plc, trong đó câu lạc bộ bóng đá là công ty con thuộc sở hữu hoàn toàn, được niêm yết trên Alternative Investment Market (AIM) vào năm 1997 với đợt phát hành 15 triệu cổ phiếu mới,[151] qua đó huy động được 7,5 triệu bảng Anh vốn đầu tư mới.[152] Công ty ghi nhận lợi nhuận trước thuế 4,3 triệu bảng Anh trong năm tài chính kết thúc ngày 31 tháng 8 năm 2008.[153]

Vào tháng 7 năm 2007, doanh nhân Hồng Kông Carson Yeung, thông qua công ty niêm yết trên Hong Kong Stock Exchange (SEHK) là Grandtop International Holdings Limited (GIH), đã mua 29,9% cổ phần của plc từ các giám đốc của công ty. Nhờ đó, ông trở thành cổ đông cá nhân lớn nhất, với ý định cuối cùng sẽ giành toàn quyền kiểm soát câu lạc bộ.[154] Mặc dù ý định thâu tóm toàn bộ câu lạc bộ ban đầu không thành công,[155] GIH đã hoàn tất thương vụ này vào tháng 10 năm 2009 với tổng chi phí 81,5 triệu bảng Anh, tái đăng kí câu lạc bộ thành công ty tư nhân, và đổi tên công ty mẹ thành Birmingham International Holdings (BIH).[156][58][157]

Giao dịch cổ phiếu BIH bị đình chỉ vào tháng 6 năm 2011 sau khi Yeung bị bắt vì các cáo buộc rửa tiền.[158] Việc công bố kết quả tài chính liên tục bị trì hoãn,[159] khiến Football League áp đặt lệnh cấm chuyển nhượng đối với câu lạc bộ,[160] và từ năm 2012 trở đi đã có những lời đề nghị mua lại câu lạc bộ được xem xét.[161] Sau khi Yeung từ chức khỏi cả câu lạc bộ lẫn công ty vào đầu năm 2014, giao dịch cổ phiếu được nối lại,[162] và sau khi ông bị kết án,[163] các nỗ lực bán câu lạc bộ được đẩy mạnh, nhưng phải thực hiện từng phần để giữ lại niêm yết cổ phiếu của BIH.[164]

Bước sang năm 2015, Football League công khai bày tỏ lo ngại về việc Yeung cố gắng áp đặt những người mà ông lựa chọn vào hội đồng quản trị của BIHL, mặc dù việc bị kết án đã khiến ông mất tư cách gây ảnh hưởng tới một câu lạc bộ bóng đá.[165] Các mối quan hệ trong nội bộ ngày càng rạn nứt, thể hiện qua việc ba giám đốc — trong đó có Panos Pavlakis, người trên thực tế là giám đốc điều hành của câu lạc bộ — không được tái bổ nhiệm, rồi ngay ngày hôm sau lại được phục chức.[166] Ngày 17 tháng 2, hội đồng quản trị tự nguyện chỉ định các quản tài viên từ hãng kế toán Ernst & Young tiếp quản việc quản lí công ty. Thông báo của họ nhấn mạnh rằng chưa có đơn yêu cầu giải thể nào được ban hành và công ty không ở trong quá trình thanh lí.[167][168]

Vào tháng 6 năm 2015, các quản tài viên đạt được thỏa thuận với những cổ đông lớn trước đây, theo đó các hành động pháp lí chống lại họ sẽ bị hủy bỏ để đổi lấy việc họ đồng ý không cản trở bất kì sự chuyển giao quyền sở hữu nào cho bên mua mà họ ưa thích, là công cụ đầu tư Trillion Trophy Asia (TTA) đăng kí tại British Virgin Islands, thuộc sở hữu hoàn toàn của doanh nhân Trung Quốc Paul Suen Cho Hung; đổi lại, Suen đồng ý rằng công ty sẽ không bị bán tiếp trong vòng hai năm. Quá trình này được hoàn tất vào tháng 10 năm 2016, để lại TTA nắm giữ 50,64% vốn cổ phần của BIH, một mức sở hữu buộc họ phải đưa ra đề nghị mua phần còn lại.[169]

Để duy trì hoạt động của công ty, TTA đã sắp xếp các khoản vay rồi thanh toán bằng những cổ phiếu được chiết khấu có cùng giá trị; quá trình phát hành cổ phiếu như vậy đã làm pha loãng tỉ lệ sở hữu của tất cả các cổ đông. Các nỗ lực đa dạng hóa các khoản nắm giữ của công ty để làm cho nó bớt phụ thuộc vào câu lạc bộ bóng đá cũng được tài trợ theo cách tương tự.[170] Để giảm thua lỗ của câu lạc bộ sau khi vi phạm Quy định về Lợi nhuận và Tính bền vững (P&S) của EFL, sân vận động được bán với giá 22,8 triệu bảng Anh cho Birmingham City Stadium Ltd, một công ty mới thuộc sở hữu hoàn toàn của công ty mẹ câu lạc bộ bóng đá, và sau đó được cho câu lạc bộ thuê lại,[171] Vào tháng 12 năm 2020, 21,64% cổ phần của câu lạc bộ và 25% cổ phần của Birmingham City Stadium được bán cho Oriental Rainbow của Vong Pech,[172] còn vào tháng 4 năm 2021, 75% cổ phần còn lại của sân vận động cũng được bán đi.[173]

Nỗ lực mua lại câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2022 bởi một nhóm do cựu chủ sở hữu WatfordLaurence Bassini đứng đầu, với sự tham gia của nhà tài chính Keith Harris và nguồn tiền cho vay từ David Sullivan, đã không đi đến đâu.[174][175] Một liên danh do doanh nhân trong ngành thời trang Paul Richardson và cựu cầu thủ Argentina Maxi López dẫn đầu đã công bố vào tháng 7 rằng họ sắp hoàn tất việc mua một phần cổ phần của câu lạc bộ, đồng thời sau đó xác nhận rằng họ đang cung cấp vốn vận hành,[176][177] nhưng đã rút lui vào tháng 12 vì không đạt được thỏa thuận sửa đổi các điều khoản ban đầu;[178] đến tháng 4 năm 2023, Richardson, López và người được đề cử làm giám đốc điều hành là cựu chủ tịch Charlton Athletic Matt Southall đã bị EFL xử phạt sau khi thừa nhận vi phạm các quy định khi nắm quyền kiểm soát thực tế câu lạc bộ mà chưa được phê duyệt.[179][180]

Vào tháng 4 năm 2023, Birmingham Sports Holdings xác nhận rằng các thư bày tỏ ý định đã được kí để bán 24% cổ phần của Birmingham City plc do chính họ nắm giữ và 21,64% thuộc sở hữu của Oriental Rainbow, cùng với toàn bộ Birmingham City Stadium Ltd, cho một bên mua tiềm năng khi đó chưa được nêu tên; các thỏa thuận chính thức sẽ được chốt trong thời hạn độc quyền hai tháng.[181][182][183] Bên mua sau đó được nêu tên là Shelby Companies Ltd, một công ty con của công ty quản lí tài sản Knighthead Capital Management do Tom Wagner, đồng sáng lập và đồng giám đốc điều hành của Knighthead, đại diện.[184] Các thỏa thuận này phụ thuộc vào sự chấp thuận của English Football League (EFL), điều đã có được vào đầu tháng 6, và của Hong Kong Stock Exchange (HKSE),[185] và tại một extraordinary general meeting (EGM) ngày 13 tháng 7, đa số áp đảo đã bỏ phiếu chấp thuận.[184] Dù BSH vẫn giữ 51% cổ phần,[4] Wagner xác nhận rằng Shelby "chịu trách nhiệm về hoạt động của câu lạc bộ kể từ nay" và rằng "không điều gì trong cách cấu trúc thương vụ sẽ ngăn cản chúng tôi đạt được những mục tiêu dài hạn dành cho câu lạc bộ".[186][187] 51% cổ phần này đã được bán cho Shelby vào tháng 11 năm 2025.[91]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Tủ trưng bày danh hiệu với chiếc cúp Carling Cup

Các danh hiệu của Birmingham City bao gồm những thành tích sau:[188]

Giải vô địch quốc gia

Cúp

Small Heath lần đầu tham dự Birmingham Senior Cup vào mùa giải 1878-79  mười năm trước khi the Football League ra đời  và giành chức vô địch đầu tiên vào năm 1905, sau khi đánh bại West Bromwich Albion 7-2 trong trận chung kết. Tầm quan trọng của giải giảm dần khi số trận tại giải vô địch quốc gia tăng lên, và từ mùa giải 1905-06 trở đi, Birmingham đưa ra sân những đội hình có các cầu thủ dự bị.[189][190]

Nhằm chuẩn bị cho việc Football League hoạt động trở lại ở mùa giải 1946-47, các câu lạc bộ thuộc First Division và Second Division của mùa giải cuối cùng trước chiến tranh, 1939-40, được chia theo vị trí địa lí vào hai giải North và South cho mùa giải 1945-46. Khi bước vào ngày thi đấu cuối cùng của mùa giải, Aston Villa dẫn đầu League South nhưng đã hoàn thành chương trình thi đấu, hơn các đội bám đuổi hai điểm (một trận thắng) nhưng có tỉ lệ bàn thắng trung bình kém hơn. Charlton Athletic đứng thứ hai, hơn Birmingham đúng 0,002 bàn thắng.[191] Trong khi Charlton chỉ có thể hòa trên sân nhà với Wolverhampton Wanderers, Birmingham thắng trên sân của Luton Town, nhờ đó giành chức vô địch với cách biệt 0,3 bàn.[192][193]

Kỉ lục và thống kê

[sửa | sửa mã nguồn]
Biểu đồ thành tích của Birmingham City F.C. tại English Football League kể từ mùa giải 1892-93

Birmingham đạt vị trí xếp hạng cao nhất trong lịch sử của mình là hạng sáu ở hạng đấu cao nhất, tại First Division 1955-56.[194][27] Frank Womack giữ kỉ lục số lần ra sân nhiều nhất cho Birmingham tại giải vô địch quốc gia, với 491 trận trong giai đoạn 1908-1928, ngay sau đó là Gil Merrick với 485 trận từ năm 1946 đến năm 1959. Nếu tính cả mọi giải đấu cấp cao, Merrick có 551 trận, cao hơn đáng kể so với 515 trận của Womack, vốn là kỉ lục đối với một cầu thủ không phải thủ môn.[195] Cầu thủ có nhiều lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhất khi còn thuộc câu lạc bộ là Maik Taylor, với 58 lần cho đội tuyển Bắc Ireland.[196]

Kỉ lục ghi bàn thuộc về Joe Bradford, với 249 bàn tại giải vô địch quốc gia, 267 bàn trên mọi đấu trường, được ghi trong giai đoạn từ năm 1920 đến năm 1935; không cầu thủ nào khác tiến gần được con số này. Walter Abbott giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải, ở mùa giải 1898-99, với 34 bàn tại Second Division và 42 bàn trên mọi đấu trường.[51]

Chiến thắng với cách biệt lớn nhất của câu lạc bộ tại giải vô địch quốc gia là 12-0, một tỉ số mà họ đạt được một lần ở Football Alliance, trước Nottingham Forest năm 1899, và hai lần ở Second Division, trước Walsall Town Swifts năm 1892 và Doncaster Rovers năm 1903. Họ đã thua một trận giải vô địch quốc gia với cách biệt tám bàn tới tám lần: hai lần tại Football Alliance và năm lần ở First Division, tất cả đều trên sân khách,[197] cùng một lần trên sân nhà, khi bị AFC Bournemouth đánh bại 8-0 tại Championship năm 2014.[198] Chiến thắng đậm nhất của họ tại Cúp FA là 10-0 trước Druids ở vòng loại thứ Tư của giải đấu năm 1899;[199] còn thất bại nặng nề nhất tại Cúp FA là trận thua Liverpool 0-7 trên sân nhà ở tứ kết năm 2006.[198]

Kỉ lục khán giả sân nhà của Birmingham được thiết lập trong trận vòng Năm Cúp FA gặp Everton vào ngày 11 tháng 2 năm 1939. Con số này được ghi lại theo nhiều cách khác nhau là 66.844 hoặc 67.341.[A] Theo trang web Sky Sports, khoản phí chuyển nhượng lớn nhất mà Birmingham nhận được cho một cầu thủ là "25 triệu bảng Anh được bảo đảm trả trước" từ Borussia Dortmund cho thương vụ Jude Bellingham vào tháng 7 năm 2020, qua đó biến anh trở thành cầu thủ 17 tuổi đắt giá nhất trong bóng đá thế giới; thương vụ này còn bao gồm các khoản bổ sung "trị giá thêm vài triệu nữa".[200] Mức phí cao nhất mà Birmingham từng chi ra là cho tiền đạo người Anh Jay Stansfield, người gia nhập từ Fulham vào tháng 8 năm 2024 sau quãng thời gian cho mượn thành công tại Birmingham ở mùa giải trước; con số này được ghi nhận khác nhau là 10 triệu, 12 triệu hoặc 15 triệu bảng Anh trả trước, cộng thêm thưởng và điều khoản hưởng phần trăm bán lại.[201]

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình đội một

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. Đội hình chính xác tính đến 3 tháng 2 năm 2026.[202][203][204][205]

Số VT Quốc gia Cầu thủ
2 HV Anh Ethan Laird
3 HV Anh Lee Buchanan
4 HV Áo Christoph Klarer (đội trưởng)
5 HV Đức Phil Neumann
6 HV Anh Jack Robinson
7 TV Anh Tommy Doyle (mượn từ Wolverhampton Wanderers)
8 TV Hàn Quốc Paik Seung-ho
9 Nhật Bản Kyōgo Furuhashi
10 TV Jamaica Demarai Gray
14 TV Colombia Jhon Solís (mượn từ Girona)
16 Anh Patrick Roberts
17 TV Ghana Ibrahim Osman (mượn từ Brighton & Hove Albion)
20 HV Anh Alex Cochrane
21 TM Anh Ryan Allsop
Số VT Quốc gia Cầu thủ
23 TV Tây Ban Nha Carlos Vicente
24 TV Nhật Bản Tomoki Iwata
25 TM Anh James Beadle (mượn từ Brighton & Hove Albion)
26 HV Nigeria Bright Osayi-Samuel
27 TV Nhật Bản Kanya Fujimoto
28 Anh Jay Stansfield
29 Đan Mạch August Priske
31 HV Đức Kai Wagner
33 Đức Marvin Ducksch
37 HV Anh Jonathan Panzo
42 Cộng hòa Ireland Daniel Isichei
43 Anh Zaid Betteka
48 TM Anh Brad Mayo

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.[202][204]

Số VT Quốc gia Cầu thủ
HV Bắc Ireland Tommy Fogarty (cho Boston United mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026[206])
TV Anh Taylor Gardner-Hickman (cho Blackburn Rovers mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026[207])
TV Scotland Marc Leonard (cho Hearts mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026[208])
TV Scotland Scott Wright (cho Dundee mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026[209])

Đội dự bị và học viện

[sửa | sửa mã nguồn]

Số áo ngừng sử dụng

[sửa | sửa mã nguồn]

Để ghi nhận đóng góp của Jude Bellingham trong khoảng thời gian ngắn thi đấu cho đội một  cầu thủ ra mắt trẻ nhất của câu lạc bộ, ở tuổi 16 năm 38 ngày, và cũng là cầu thủ ghi bàn trẻ nhất; anh đã chơi trọn một mùa giải tại Championship trước khi trở thành thương vụ bán kỉ lục của Birmingham và là cầu thủ 17 tuổi đắt giá nhất thế giới,[200] "cho thấy có thể đạt được điều gì bằng tài năng, chăm chỉ và sự tận tâm", đồng thời vẫn giữ được "phong thái quan tâm, khiêm nhường và cuốn hút ngoài sân cỏ"  câu lạc bộ đã ngừng sử dụng áo số 22 của anh "để ghi nhớ một người con của chính chúng ta và truyền cảm hứng cho những người khác".[210]

Birmingham City Women

[sửa | sửa mã nguồn]

Birmingham City Ladies Football Club được thành lập vào năm 1968. Đội một của họ từng bước thăng tiến qua các hạng đấu cho đến khi được thăng hạng lên FA Women's Premier League vào năm 2002. Sau khi Birmingham City F.C. rút hỗ trợ tài chính vào năm 2005, câu lạc bộ nữ chỉ có thể tiếp tục tồn tại nhờ một khoản đóng góp cá nhân. Họ tái liên kết với Birmingham City vào năm 2010, trở thành thành viên sáng lập của FA WSL vào năm sau đó, và giành FA Women's Cup năm 2012.[211] Việc về nhì tại 2012 FA WSL giúp họ giành quyền tham dự Champions League 2013-14, nơi họ vào tới bán kết. Sau khi TTA tiếp quản Birmingham City F.C. vào tháng 11 năm 2016, đội nữ trở thành một phần không thể tách rời của tổ chức này.[212] Đội được chính thức đổi tên thành Birmingham City Women vào năm 2018, và sẽ được gọi đơn giản là Birmingham City trong những trường hợp không gây nhầm lẫn với đội nam.[213]

Quan chức câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ sở hữu:

Tính đến tháng 10 năm 2023[4]

Hội đồng quản trị:

Tính đến tháng 1 năm 2025[4]
  • Chủ tịch: Tom Wagner
  • Tổng giám đốc điều hành: Jeremy Dale[214][215]
  • Các giám đốc: Matthew Alvarez  Andrew Shannahan  Kyle Kneisly  Wenqing Zhao  Gannan Zheng

Nhân sự bóng đá:

Tính đến 29 tháng 9 năm 2024[203]

Các huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]

Gil Merrick là huấn luyện viên đầu tiên của Birmingham giành được một danh hiệu lớn, đó là Cúp Liên đoàn năm 1963. Merrick cũng đưa câu lạc bộ vào tới chung kết Inter-Cities Fairs Cup năm 1961, sau Pat Beasley là người đã làm được điều tương tự ở năm 1960.[219] Leslie Knighton đưa câu lạc bộ vào chung kết Cúp FA năm 1931;[17] Arthur Turner cũng làm được điều tương tự năm 1956, đồng thời dẫn dắt câu lạc bộ đạt vị trí cao nhất trong lịch sử tại giải vô địch quốc gia, là vị trí thứ sáu ở First Division 1955-56.[21] Birmingham vào tới chung kết Cúp Liên đoàn 2001 dưới thời Trevor Francis,[44] còn người kế nhiệm chính thức của ông, Steve Bruce, đã hai lần giúp đội bóng thăng hạng lên Premier League.[47][54] Birmingham giành Cúp Liên đoàn lần thứ hai dưới thời Alex McLeish vào năm 2011.[60] Huấn luyện viên vô địch World Cup 1966, Sir Alf Ramsey, cũng từng dẫn dắt câu lạc bộ trong một thời gian ngắn vào năm 1977.[219]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. Rollin & Rollin (2010), tr. 70.
  2. "UEFA Europa League 2011/12 Season: Match press kit: NK Maribor Birmingham City FC" (PDF). UEFA. ngày 27 tháng 9 năm 2011. tr. 5. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 31 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 7 năm 2018.
  3. 1 2 "New to St. Andrew's?". Birmingham City F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2023.
  4. 1 2 3 4 5 "Board Management". Birmingham City F.C. tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  5. 1 2 "Birmingham appoint Spurs' Davies as new manager". BBC Sport. ngày 6 tháng 6 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2024.
  6. 1 2 Matthews (2000), tr. 55. "City was added to Birmingham (to make Birmingham City Football Club) in the summer of 1943 (and not 1945 as previously thought). The official Blues home programmes for the 1943-44 season clearly show Birmingham City Football Club on the front cover."
  7. "Birmingham City". Football Facts and Figures. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2017.
  8. "Football Notes". Birmingham Daily Mail. ngày 13 tháng 1 năm 1890. tr. 2 qua Newspapers.com.
  9. 1 2 3 "BCFC club history". Birmingham City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2013.
  10. Williams, John; Neatrour, Sam (tháng 3 năm 2002). "Fact Sheet 10: The 'New' Football Economics" (PDF). Sir Norman Chester Centre for Football Research, University of Leicester. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 28 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2012.
  11. Matthews (1995), tr. 8.
  12. 1 2 "Small Heath". Football Club History Database (FCHD). Richard Rundle. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2012.
  13. Matthews (1995), tr. 12-13.
  14. Matthews (1995), tr. 14.
  15. Matthews (1995), tr. 135-136.
  16. Matthews (1995), tr. 74.
  17. 1 2 3 Matthews (1995), tr. 15-17.
  18. "Birmingham". FCHD. Richard Rundle. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2023. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  19. Matthews (1995), tr. 22-23.
  20. Matthews (1995), tr. 61.
  21. 1 2 3 Matthews (1995), tr. 27-29.
  22. Radnedge (1998), tr. 200. "In April [1955], 12 representatives from European trade fair cities from 10 countries met in Basle to lay down the rules. They decided each city should be represented by a club or a city select team, or both – as long as no more than two teams competed simultaneously from any one city."
  23. Goodyear & Matthews (1988). "At this time there seemed a general lack of ambition at Villa Park. The club were slow to install floodlights, they turned down the chance of combining with Blues to field a 'Birmingham' team for the Inter-Cities Fairs Cup..."
  24. 1 2 3 Ross, James M. (ngày 8 tháng 9 năm 2016). "European Cups Archive". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017.
  25. "Arsenal routs Inter Milan". The New York Times. Reuters. ngày 25 tháng 11 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2019.
  26. Jawad (2005), tr. 27-28. "It is a mystery how Birmingham won but they did produce perhaps their most impressive display of the season to win the first leg 3-1 ... Birmingham served up a treat of attacking football ... controlling the game with such assurance that their supporters must have wondered why the team had performed so badly in the First Division."
  27. 1 2 "Birmingham City". FCHD. Richard Rundle. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  28. Holden (2000), tr. 161. "He had been out of the game for less than a year when Clifford Coombs, the chairman of Birmingham City, began to make a serious approach to secure the Iron Manager. The pair were friends and St Andrew's was close enough to Wolverhampton that Cullis would not necessarily have to move house or area to take up the position."
  29. "'Taffy' Coombs... The man who rebuilt the Blues". GOAL magazine. ngày 19 tháng 8 năm 1972. tr. 27.
  30. Matthews (1995), tr. 37-38, 63.
  31. Corbett, James (ngày 5 tháng 3 năm 2006). "Bob Latchford". Observer Sport Monthly. London. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009.
  32. Matthews (1995), tr. 38-39, 209-15.
  33. "The European Cup Team 1979". Nottingham Forest F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 8 năm 2012.
  34. Matthews (1995), tr. 88.
  35. 1 2 Matthews (1995), tr. 42, 219.
  36. 1 2 Webster, Philip (ngày 25 tháng 7 năm 1985). "Ban on visiting fans urged in judge's football safety report". The Times. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2024.
  37. 1 2 3 Matthews (1995), tr. 44-46.
  38. 1 2 3 Matthews (1995), tr. 48-49.
  39. 1 2 Goodbody, John (ngày 7 tháng 11 năm 1992). "Receivers put football club up for sale". The Times. London. tr. 3. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020 qua Gale Primary Sources.
  40. 1 2 "Sullivan takes control". The Times. London. ngày 6 tháng 3 năm 1993. tr. 40. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020 qua Gale Primary Sources.
  41. Matthews (1995), tr. 48-52.
  42. "The highs and lows of Carlisle United". BBC Cumbria. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 10 năm 2004.
  43. Shaw, Phil (ngày 8 tháng 5 năm 1996). "Francis fancied as Fry is sacked". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010.
  44. 1 2 "Worthington Cup final Clockwatch". BBC Sport. ngày 25 tháng 2 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2010.
  45. "Francis leaves Blues". BBC Sport. ngày 15 tháng 10 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 2 năm 2004. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2007.
  46. "Birmingham unveil Bruce". BBC Sport. ngày 12 tháng 12 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  47. 1 2 May, John (ngày 12 tháng 5 năm 2002). "Cool Carter in blue heaven". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2007.
  48. Haylett, Trevor (ngày 27 tháng 4 năm 2003). "Slow-starter Dugarry makes up for lost time". The Sunday Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009. Those who rubbish the notion that one player can transform a team and inspire 10 others to exciting deeds should consider the case of Christophe Dugarry. It is difficult to imagine Birmingham easing their way to safety quite so comfortably without him.
  49. Scott, Ged (ngày 7 tháng 7 năm 2005). "Golden time to talk up Blues". Birmingham Post. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  50. Shaw, Phil (ngày 1 tháng 5 năm 2006). "Birmingham City 0 Newcastle United 0: 'Shattered' Bruce to consider future at Birmingham". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019.
  51. 1 2 3 "Birmingham City Football Club Records". Birmingham City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 7 năm 2012.
  52. "Wigan seal £5.5m move for Heskey". BBC Sport. ngày 7 tháng 7 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  53. "Birmingham release seven players". BBC Sport. ngày 9 tháng 5 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  54. 1 2 Jawad, Hyder (ngày 2 tháng 5 năm 2007). "Never say die". Birmingham Post. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013 qua NewsBank.
  55. "Yeung takes stake in Birmingham". BBC Sport. ngày 16 tháng 7 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  56. "Bruce leaves Birmingham for Wigan". BBC Sport. ngày 27 tháng 10 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2007.
  57. "Birmingham unveil McLeish as boss". BBC Sport. ngày 28 tháng 11 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
    McKenzie, Andrew (ngày 11 tháng 5 năm 2008). "Birmingham 4-1 Blackburn". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2008.
    Fletcher, Paul (ngày 3 tháng 5 năm 2009). "Birmingham clinch top-flight spot". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 5 năm 2009.
  58. 1 2 "Yeung takeover rubber-stamped". Sky Sports. ngày 11 tháng 11 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2019.
  59. Roopanarine, Les (ngày 9 tháng 5 năm 2010). "Bolton 2-1 Birmingham". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 5 năm 2010. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2010.
  60. 1 2 "Carling Cup final: McLeish hails 'greatest achievement'". BBC Sport. ngày 27 tháng 2 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  61. "Aston Villa appoint Alex McLeish as manager". BBC Sport. ngày 17 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2012.
  62. "Chris Hughton appointed as new Norwich City manager". BBC Sport. ngày 7 tháng 6 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2012.
  63. Hart, Simon (ngày 3 tháng 5 năm 2014). "Bolton 2 Birmingham 2 match report: Paul Caddis gets Birmingham out of jail". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 10 năm 2015. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2017.
  64. "Gary Rowett: Birmingham City appoint Burton boss as manager". BBC Sport. ngày 27 tháng 10 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2014.
  65. de Menezes, Jack (ngày 14 tháng 12 năm 2016). "Birmingham City: Gianfranco Zola confirmed as manager just hours after Gary Rowett is sacked". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2017.
  66. James, Stuart (ngày 6 tháng 5 năm 2017). "Fallen giants: how Nottingham Forest, Birmingham and Blackburn fell so far". The Observer. London. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2017.
    James, Stuart (ngày 7 tháng 5 năm 2017). "Redknapp completes Birmingham's great escape with win at Bristol City". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2017.
  67. "Harry Redknapp: Birmingham City sack manager after poor run". BBC Sport. ngày 16 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2017.
  68. "Steve Cotterill: Birmingham City appoint former Bristol City boss as new manager". BBC Sport. ngày 29 tháng 9 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 7 tháng 10 năm 2017.
  69. "Birmingham City appoint Garry Monk as manager after Steve Cotterill departs". The Observer. London. ngày 4 tháng 3 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 18 tháng 4 năm 2018.
    "Birmingham City 3-1 Fulham". BBC Sport. ngày 6 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2018.
  70. Stone, Simon (ngày 13 tháng 6 năm 2019). "Garry Monk: Birmingham City manager remains at Blues following exit rumours". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2019.
    "Club statement: Garry Monk". Birmingham City F.C. ngày 18 tháng 6 năm 2019. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2019, quoted in full at Dicken, Alex (ngày 18 tháng 6 năm 2019). "This was Birmingham City's damning final message to Garry Monk after sacking". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
    Hughes, Matt (ngày 20 tháng 6 năm 2019). "Monk 'sacked over agent row'". The Times. London. tr. 72. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2022 qua Gale OneFile: News.
  71. "Pep Clotet: Birmingham City appoint caretaker as new head coach". BBC Sport. ngày 4 tháng 12 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 12 năm 2019. Truy cập ngày 4 tháng 12 năm 2019.
  72. "Championship season set to restart on 20 June as coronavirus lockdown eases". BBC Sport. ngày 31 tháng 5 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  73. Dale, James (ngày 11 tháng 6 năm 2020). "Birmingham City: EFL wins appeal but Blues avoid punishment". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  74. Pilnick, Brent (ngày 22 tháng 7 năm 2020). "Birmingham City 1-3 Derby County". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  75. "Lee Bowyer: Birmingham City appoint new head coach after Aitor Karanka steps down". BBC Sport. ngày 16 tháng 3 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 16 tháng 3 năm 2021.
  76. "Lee Bowyer: Birmingham City head coach sacked by Championship club". BBC Sport. ngày 2 tháng 7 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2022.
  77. Stone, Simon (ngày 13 tháng 6 năm 2022). "Laurence Bassini: Former Watford owner hopes to complete Birmingham City takeover". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2022.
  78. Metcalf, Sam (ngày 8 tháng 12 năm 2022). "Blues sale collapses as owners end discussions with MaxCo". The Business Desk West Midlands. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2023.
  79. "Birmingham City: Shelby Companies Limited completes takeover". BBC Sport. ngày 13 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2023.
  80. Hamilton, Tom (ngày 3 tháng 8 năm 2023). "Tom Brady becomes minority owner at Birmingham City". ESPN. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2023.
  81. Felt, Hunter (ngày 7 tháng 8 năm 2023). "Obsessive drive and bioceramic PJs: what Tom Brady brings to Birmingham City". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2023.
  82. Dicken, Alex (ngày 9 tháng 10 năm 2023). "Tom Wagner and Garry Cook must answer big questions after Birmingham City sack John Eustace". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2023.
  83. "Club statement: John Eustace". Birmingham City F.C. ngày 9 tháng 10 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 10 năm 2023. Truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2023.
  84. Scott, Ged (ngày 2 tháng 1 năm 2024). "Wayne Rooney: Birmingham City sack manager after just 15 games in charge". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2024.
  85. "Tony Mowbray: Birmingham City name ex-Sunderland boss as manager". BBC Sport. ngày 8 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2024.
  86. "Gary Rowett returns to Birmingham on interim basis as Tony Mowbray takes medical leave of absence". Sky Sports. ngày 19 tháng 3 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2024.
  87. Dicken, Alex (ngày 4 tháng 5 năm 2024). "Gary Rowett outlines his position on Birmingham City future after relegation confirmed". Birmingham Live. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2024.
  88. Sessions, George (ngày 6 tháng 6 năm 2024). "Birmingham appoint Chris Davies as new manager on four-year deal". The Independent (bằng tiếng Anh). Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2025.
  89. "Birmingham win League One title after Wrexham draw". 12 tháng 4 năm 2025. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  90. Speller, Glenn (ngày 13 tháng 4 năm 2025). "Birmingham City 0-2 Peterborough United". BBC Sport. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  91. 1 2 "Knighthead completes Birmingham City Football Club acquisition". Birmingham City F.C. ngày 7 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 10 tháng 11 năm 2025.
  92. "Birmingham City's US owners complete takeover of women's team". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 2 năm 2026. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2026.
  93. Lewis (2000), tr. 25.
  94. Edwards, Norman (1957). The Blues 1875-1956. Birmingham: Evening Despatch. tr. 2.
  95. "Sky Bet Championship 2015-2016". Historical Football Kits. Dave Moor. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2016.
  96. "Birth of the Blues was not a glamour story". Evening Mail: 9. ngày 20 tháng 3 năm 1956.
  97. "Small Heath Alliance v Great Marlow". Bucks Free Press: 3. ngày 15 tháng 2 năm 1884.
  98. "Influential and Classic Football Kits". Historical Football Kits. Dave Moor. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2008. Truy cập ngày 23 tháng 11 năm 2008.
  99. Matthews (2000), tr. 56-57.
  100. 1 2 "Birmingham City" (PNG). Classic Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2010.
  101. "Room 101 The Worst Kits Ever". Historical Football Kits. Dave Moor. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2012.
  102. Lewis (2000), tr. 31.
  103. Ball, Kev (ngày 24 tháng 1 năm 2012). "Darren Purse speaks to Joys and Sorrows". Joys and Sorrows. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2018.
  104. Lewis (2000), tr. 27-29.
  105. 1 2 3 4 5 "Birmingham City". Historical Football Kits. Dave Moor. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2024.
  106. The design recorded at the college did not include the ribbon and was blazoned as "A football ensigned by a terrestrial globe proper". This was granted as an heraldic badge to the English Football League and was licensed to Birmingham City. Phillips, David Llewelyn (Spring 2015). "Badges and 'Crests': The Twentieth-Century Relationship Between Football and Heraldry" (PDF). The Coat of Arms. XI Part I (229): 40, 41, 44. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 24 tháng 12 năm 2021. Truy cập ngày 31 tháng 1 năm 2022.
  107. Jones, Stuart (ngày 6 tháng 7 năm 1985). "Death sentence passed on innocent". The Times. London. tr. 23. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020 qua Gale Primary Sources.
  108. Swain, Martin (ngày 8 tháng 1 năm 1987). "Lotta bottle Blues!". Birmingham Evening Mail. tr. 68. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023 qua Newspapers.com.
  109. Lillington, Catherine (ngày 3 tháng 8 năm 2011). "Birmingham City announce shirt sponsorship deal with RationalFX". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
    "Birmingham City FC announce major shirt sponsorship deal with EZE Group". Birmingham City F.C. ngày 15 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
    Tattum, Colin (ngày 23 tháng 7 năm 2013). "Blues reveal new away kit". Birmingham Mail. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
    Walker, Andy (ngày 9 tháng 6 năm 2014). "Official: Birmingham City announce Zapaygo as new principal partner". Birmingham City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 1 năm 2020.
  110. "Blues partner with Nike". Birmingham City F.C. ngày 25 tháng 6 năm 2020. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2020.
  111. "2024/25 Home Shirt now on sale online". Birmingham City F.C. ngày 20 tháng 6 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2024.
  112. Dicken, Alex (ngày 13 tháng 6 năm 2024). "Birmingham City unveil 2024/25 home kit after Nike deal upgrade". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2024.
  113. 1 2 3 4 5 Matthews (1995), tr. 57-59.
  114. Smith, Martin (ngày 26 tháng 12 năm 2006). "Birmingham hope curse has run course". The Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2024.
  115. Marsden, Bob (tháng 3 năm 1987). A.B.C. of Small Heath and Bordesley Green Past and Present. Small Heath Local History Society. tr. 44. St. Andrew's [Church] was erected in 1846, the fifth and last to be built by the Church Building Society. It was an unsuitable site, and for many years after its building, the only dwellings nearby were huts where brickworkers lived, a few cottages, and an occasional gipsy camp.
  116. Rollin (1990), tr. 81.
  117. Matthews (2000), tr. 20-21.
  118. "Fifth round official figures". The Times. London. ngày 13 tháng 2 năm 1939. tr. 5. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020 qua Gale Primary Sources.
  119. 1 2 3 Matthews (2000), tr. 193-196.
  120. Sharrock, Gordon (ngày 22 tháng 2 năm 1999). "Wanderers middle men hailed as the best". Bolton Evening News. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  121. Tattum, Colin (ngày 27 tháng 4 năm 2009). "Railway End to be named after Blues legend Gil Merrick". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2013.
  122. Connor, Neil (ngày 26 tháng 10 năm 2005). "Blues unveil stadium plan". Birmingham Post. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009.
  123. Tattum, Colin (ngày 24 tháng 12 năm 2006). "Blues still hoping for new stadium". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2013.
  124. Tattum, Colin (ngày 9 tháng 3 năm 2007). "Blues revive bid for new stadium". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2013.
  125. "Localism Act 2011 Chapter 20 Section 88". UK Parliament. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013.
  126. 1 2 Barnfield, Stacey (ngày 2 tháng 11 năm 2013). "Birmingham City fans succeed in getting St Andrew's awarded Asset of Community Value status". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013.
  127. Dick, Brian (ngày 14 tháng 6 năm 2018). "Birmingham City sign St Andrew's naming rights deal". Birmingham Post. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018.
  128. Dicken, Alex (ngày 15 tháng 11 năm 2023). "Birmingham City issue St Andrew's stadium update as grand opening edges closer". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 3 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 3 năm 2024.
  129. "Birmingham City announces naming rights partnership with Knighthead" (Thông cáo báo chí). Birmingham City F.C. ngày 26 tháng 1 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2024.
  130. 1 2 "Rivalry Uncovered!" (PDF). The Football Fans Census. tháng 12 năm 2003. tr. 3. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 29 tháng 7 năm 2012.
  131. Kendrick, Mat (ngày 8 tháng 2 năm 2010). "So was Craig Gardner a boyhood Villan or a Bluenose?". Birmingham Post. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2013.
  132. "Sleeping Iron Giant". National Recording Project. Public Monuments and Sculpture Association. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017.
  133. Lewis (2000), tr. 167-168.
  134. Woodward, Eric (ngày 27 tháng 10 năm 1966). "Blues say "Let's Go With Beau"". Evening Mail: 16.
  135. "Official Blues supporters' clubs". Birmingham City F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017.
  136. Lawton, James (ngày 18 tháng 6 năm 2005). "Bowyer and Birmingham given notice that fans' loyalty to the shirt is not blind". The Independent. London. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009.
  137. Tattum, Colin (ngày 12 tháng 5 năm 2008). "Thanks for the noise, Alex McLeish tells Birmingham City fans". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2013.
    "David Gold 'hurt' by Birmingham City fans attacks". Birmingham Mail. ngày 12 tháng 5 năm 2008. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2013.
  138. Matthews (1995), tr. 120.
  139. "Welcome". Blues Trust. ngày 27 tháng 5 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013.
  140. Thomas, Dave, biên tập (ngày 13 tháng 5 năm 2000). Made in Brum.
    "About MIB". Made in Brum. ngày 11 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2013.
  141. "Birmingham City Fanzines". Midlands Memorabilia. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 2 năm 2013.
  142. Gall (2006).
  143. Murray, Bill (1994). Football: A History of the World Game. Aldershot: Scolar Press. tr. 184. ISBN 978-1-85928-091-1., cited in Greenfield, Steve; Osborn, Guy (1996). "After the Act? The (re)construction and regulation of football fandom". Journal of Civil Liberties. 1. ISSN 1362-3451. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2009 qua urban75.org.
  144. "Keep Right On". Birmingham City Swedish Supporters Club. Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2008.
  145. Dillon, William; Lauder, Harry. "The End of the Road". A Celebration of Sir Harry Lauder "Laird of the Music Hall". Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2008.
  146. "Every prospect of a good final". The Times. London. ngày 5 tháng 5 năm 1956. tr. 4. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020 qua Gale Primary Sources.
  147. Boyden, Malcolm (ngày 6 tháng 3 năm 1993). "Ross finds ways to turn airwaves blue". The Times. London. tr. 35. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2020 qua Gale Primary Sources. Govan was the man who first sang the Blues anthem Keep Right on to the End of the Road on the way to Birmingham's 1956 FA Cup quarter-final against Arsenal. The song spread quickly among the players—and then to the fans.
  148. Lewis (2000), tr. 63.
  149. Lewis (2000), tr. 11.
  150. Matthews (1995), tr. 35.
  151. Birmingham City plc (company flotation prospectus). Shore Capital for Birmingham City plc. tháng 2 năm 1993. tr. 1.
  152. "Karren Brady (Birmingham City Football Club)". Growing Business (17). tháng 3 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2009.
  153. "Annual Report and Financial Statements 2008" (PDF). Birmingham City plc. ngày 13 tháng 1 năm 2009. tr. 16. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2009.
  154. "Birmingham takeover terminated". Raidió Teilifís Éireann. ngày 20 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  155. "Birmingham takeover terminated". Raidió Teilifís Éireann. ngày 20 tháng 12 năm 2007. Lưu trữ bản gốc ngày 16 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  156. "Hong Kong bid for Birmingham City". BBC News. ngày 21 tháng 8 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2014. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2014.
  157. "Change of company name, stock short name and exchange of share certificates" (PDF). Hong Kong Stock Exchange. ngày 19 tháng 1 năm 2010. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 8 tháng 4 năm 2011.
  158. "Birmingham City owner Carson Yeung denied UK trip". BBC News. ngày 11 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012.
  159. "Conditions for resumption of trading of the shares of the company" (PDF). Hong Kong Stock Exchange. ngày 28 tháng 12 năm 2011. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 5 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012.
  160. "Birmingham City placed under transfer embargo". BBC Sport. ngày 2 tháng 3 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 3 năm 2012.
  161. Tattum, Colin (ngày 26 tháng 11 năm 2012). "Peter Pannu: 'If people don't have the money, they should just shut up'". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2012.
  162. "Birmingham City FC parent company resumes trading". BBC News. ngày 7 tháng 2 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014.
  163. Li, Grace (ngày 3 tháng 3 năm 2014). "Birmingham City boss Carson Yeung found guilty of money-laundering". Reuters. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2023. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
  164. Tattum, Colin (ngày 15 tháng 5 năm 2014). "Birmingham City takeover saga drawing to a conclusion". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2014.
  165. Conn, David (ngày 14 tháng 1 năm 2015). "Birmingham quizzed by Football League over Carson Yeung's influence". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015.
  166. Harris, Bryan (ngày 11 tháng 1 năm 2015). "Key figures in Birmingham City's Hong Kong parent firm are sacked then reinstated". South China Morning Post. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015.
  167. "Announcement: Appointment of receivers" (PDF). Hong Kong Stock Exchange. ngày 17 tháng 2 năm 2015. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2015.
  168. "Birmingham City FC statement". Birmingham City F.C. ngày 17 tháng 2 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2017.
  169. "Birmingham City: Asian firm granted two-year exclusivity period". BBC Sport. ngày 25 tháng 6 năm 2015. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016.
    Dick, Brian (ngày 10 tháng 5 năm 2016). "Birmingham International Holdings receivers clear final major hurdle and near end to Carson Yeung era at Birmingham City". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016.
    Dick, Brian (ngày 7 tháng 6 năm 2016). "Birmingham City takeover analysis: Who is Paul Suen Cho Hung? What are his intentions for Blues?". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2016.
    "Birmingham International Holdings Limited (BIHL) has resumed trading". Birmingham City F.C. ngày 17 tháng 10 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 10 năm 2016.
  170. Ivery, Daniel (ngày 8 tháng 1 năm 2021). "BCFC Ownership: A Spaghetti Junction Problem". Almajir. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  171. "Birmingham City: St Andrew's sale helps reduce Blues losses for 2018-19 season". BBC Sport. ngày 7 tháng 1 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  172. Ireland, Shane (ngày 31 tháng 12 năm 2020). "Birmingham City confirm partial sale in major Hong Kong Stock Exchange update". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  173. "Birmingham City: Blues face new 12-year stadium lease deal". BBC Sport. ngày 1 tháng 4 năm 2021. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  174. Percy, John (ngày 13 tháng 6 năm 2020). "Birmingham City close to takeover by former Watford owner Laurence Bassini". Daily Telegraph. London. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  175. Stone, Simon (ngày 9 tháng 7 năm 2020). "Birmingham City: EFL still awaits takeover activity at Championship club". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  176. Slater, Matt (ngày 20 tháng 7 năm 2022). "Birmingham City takeover: the ex-Barcelona striker, British businessman and what happens now". The Athletic. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  177. "Birmingham City takeover: Proposed change of hands still under investigation by EFL". BBC Sport. ngày 3 tháng 11 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  178. "Birmingham City: Maxi Lopez consortium pulls out of bid to buy Blues". BBC Sport. ngày 2 tháng 12 năm 2022. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  179. "Birmingham City face EFL charge after takeover bid investigation". BBC Sport. ngày 20 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  180. "Birmingham City: English Football League says failed takeover broke owners test rules". BBC Sport. ngày 12 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2023.
  181. "Club statement: Ownership". Birmingham City F.C. ngày 12 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2023.
  182. "Birmingham City PLC Shareholder Breakdown" (PDF). Birmingham City plc. ngày 23 tháng 6 năm 2022. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2023 qua InCrowd Sports.
  183. "Inside information: Letters of intent in relation to the potential transactions" (PDF). Hong Kong Stock Exchange. ngày 12 tháng 4 năm 2023. Lưu trữ (PDF) bản gốc ngày 13 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2023.
  184. 1 2 "Knighthead completes Birmingham City Football Club acquisition". Knighthead Capital Management LLC. ngày 13 tháng 7 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 13 tháng 7 năm 2023 qua Birmingham City F.C.
  185. Dicken, Alex (ngày 7 tháng 6 năm 2023). "Tom Wagner strategy can end 12 years of misery after Birmingham City takeover". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2023.
  186. Dicken, Alex (ngày 14 tháng 7 năm 2023). "Every word Tom Wagner said on Gardner, Bellingham cash and 'transformational' kit deal". Birmingham Mail. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2023.
  187. "Share purchase agreement" (PDF). Hong Kong Stock Exchange. ngày 27 tháng 6 năm 2023. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2023. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2023.
  188. "Birmingham City FC Club Honours". Birmingham City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2011.
    "Honours". The Birmingham City FC Archive. Tony Jordan. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 3 năm 2005.
  189. "Birmingham Senior Cup". The Birmingham City FC Archive. Tony Jordan. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 5 năm 2005.
  190. Matthews (2000), tr. 30-31.
  191. "Last game to decide". Daily Mirror. London. ngày 2 tháng 5 năm 1946. tr. 4. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023 qua Newspapers.com.
  192. "Brum just there". Sunday Post. Glasgow. ngày 5 tháng 5 năm 1946. tr. 11.
  193. Rollin (2005), tr. 247.
  194. "Team records". The Birmingham City FC Archive. Tony Jordan. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2003.
  195. Matthews (2000), tr. 12-15.
  196. Includes caps won while on loan from Fulham. Dewart, Jonny (biên tập). "Maik Taylor". NIFG. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2012.
  197. "Record Results". The Birmingham City FC Archive. Tony Jordan. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 3 năm 2005.
  198. 1 2 "Birmingham City: Records". Statto.com. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2014.
  199. Matthews (2000), tr. 240.
  200. 1 2 "Jude Bellingham signs for Borussia Dortmund from Birmingham". Sky Sports. ngày 20 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2020.
  201. "Birmingham break League One record to buy Stansfield". BBC Sport. ngày 30 tháng 8 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 31 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2024.
    Pallatt, James (ngày 1 tháng 9 năm 2024). "Huge Jay Stansfield clause revealed after record Birmingham City transfer". Birmingham Live. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 10 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2024.
    Dorsett, Rob (ngày 1 tháng 9 năm 2024). "Jay Stansfield: Birmingham City complete League One record deal to sign striker from Fulham". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2024.
  202. 1 2 Sources for squad numbers: "Blues reveal Chris Davies' squad numbers". Birmingham City F.C. ngày 9 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2024.
  203. 1 2 "Teams: Mens: Squad list". Birmingham City F.C. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 8 năm 2024. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2024.
  204. 1 2 Sources for representative nationality: "Birmingham City: Players from A–Z". worldfootball.net. HeimSpiel Medien. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 10 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 1 năm 2025.
  205. "Squads – English Football League One 2024/2025: Birmingham City". Football Squads. Truy cập ngày 11 tháng 8 năm 2024.
  206. "Tommy Fogarty moves on loan to Boston United". Bcfc.com. Birmingham City FC. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2025.
  207. "Taylor Gardner-Hickman joins Blackburn Rovers on loan". Bcfc.com. Birmingham City FC. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2025.
  208. "Marc Leonard joins Hearts on loan". BCFC.com. Birmingham City FC. Truy cập ngày 23 tháng 1 năm 2026.
  209. "Scott Wright Joins Dundee on Loan". BCFC.com. Birmingham City FC. Truy cập ngày 3 tháng 2 năm 2026.
  210. "Bellingham expresses his gratitude". Birmingham City F.C. ngày 23 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 2 năm 2021. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2023.
  211. Dhaliwal, Jaskirt (ngày 10 tháng 10 năm 2005). "Birmingham City Ladies Football Club history". BBC Birmingham. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2013.
    Leighton, Tony (ngày 8 tháng 11 năm 2009). "New Birmingham City owners pledge to support women's team". The Guardian. London. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2013.
    Leighton, Tony (ngày 26 tháng 5 năm 2012). "FA Women's Cup: Birmingham beat Chelsea on penalties in final". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 12 tháng 2 năm 2013.
  212. "Women's History". Birmingham City F.C. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  213. "Ladies to be renamed Birmingham City Women". Birmingham City F.C. ngày 3 tháng 7 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 10 năm 2020. Truy cập ngày 3 tháng 8 năm 2020.
  214. "Birmingham City Football Club announces leadership transition". Birmingham City FC. ngày 16 tháng 1 năm 2025. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2025.
  215. Wheeler, Dan (ngày 24 tháng 6 năm 2025). "Jeremy Dale: Birmingham City appoint interim CEO permanently". BBC Sport. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2025.
  216. Dick, Brian (ngày 13 tháng 2 năm 2025). "Birmingham City announce Craig Gardner promotion". Birmingham Mail. Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2025.
  217. "Blues add Ben Petty to Chris Davies' staff". Birmingham City F.C. ngày 17 tháng 6 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 6 năm 2024. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2024.
  218. "Nathan Gardiner joins Blues staff". Birmingham City F.C. ngày 4 tháng 7 năm 2024. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2024.
  219. 1 2 Matthews (1995), tr. 62-63.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Birmingham City F.C.

Bản mẫu:Bóng đá West Midlands

  1. 1 2 Some sources give the record attendance as 66.844: these include the records page of Birmingham City F.C.'s website[51] and Rothmans Football Yearbook.[116] Others, including the history page of Birmingham City F.C.'s website,[9] Matthews' Encyclopedia,[117] and The Times newspaper from the Monday following the match,[118] say 67.341.
Lỗi chú thích: Tồn tại thẻ <ref> cho nhóm chú thích với tên "upper-alpha", nhưng không tìm thấy thẻ <references group="upper-alpha"/> tương ứng