Giải bóng đá Ngoại hạng Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Barclays Premier League
Quốc gia  Anh
 Wales
Liên đoàn UEFA
Thành lập 20 tháng 2 năm 1992
Số đội 20
Vị trí
trong hệ thống
1
Hạng dưới Football League Championship
Cúp quốc gia Cúp FA
Cúp của giải Cúp Liên đoàn
Cúp quốc tế UEFA Champions League
UEFA Europa League
Đương kim vô địch Leicester City
(2015–16)
Vô địch nhiều nhất Manchester United (13 lần)
Đối tác truyền thông Sky SportsBT Sport (trực tiếp)
Sky SportsBBC (diễn biến)
Website Premierleague.com
2015–16

Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (tiếng Anh: Premier League) là giải đấu cao nhất của các câu lạc bộ bóng đá Anh. Giải bóng đá ngoại hạng Anh tồn tại như một công ty với 20 đội bóng thành viên đóng vai trò như những cổ đông. Mùa giải bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 5, với 38 vòng đấu và tổng cộng 380 trận đấu. Hầu hết các trận đấu diễn ra vào thứ bảy và chủ nhật, đôi khi có 1 trận đấu diễn ra vào tối thứ haithứ sáu. Một số vòng đấu có thể diễn ra vào giữa tuần (thứ 4-5), và luôn có 2 vòng đấu diễn ra vào "ngày tặng quà" - boxing day 26/12, và ngày đầu tiên của năm mới 1/1. Hiện nay giải đấu được tài trợ bởi công ty tài chính Barclays và do đó có tên chính thức là Barclays Premier League. Bên ngoài nước Anh, nó thường được biết đến với tên gọi English Premier League.

Giải bóng đá Ngoại hạng Anh là giải đấu nhận được sự chú ý nhiều nhất trên thế giới với hơn 212 quốc gia xin đăng ký bản quyền phát sóng, ước tính có 643 triệu ngôi nhà được phát sóng trực tiếp và 4,7 tỷ khán giả truyền hình.[1] Trong mùa giải 2014-15, Lượng khán giả trung bình đến sân là 36000 người, xếp thứ hai của bất kỳ giải đấu bóng đá chuyên nghiệp nào chỉ sau Bundesliga với 43500 lượt khán giả.[2] Giải đấu này còn là một thể loại giải đấu kiểu mẫu trên thế giới, vì dù ở bất kỳ thứ hạng nào, thì các cổ động viên vẫn luôn đến sân cổ vũ cho đội họ yêu thích, một điều hiếm nước nào có được.[3]

Tại Việt Nam, giải được phát sóng trên các kênh K+, Tổng Công ty Truyền hình Cáp Việt Nam (Bóng Đá TV + Thể thao TV), Đài Truyền hình Việt Nam (VTV6), Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (HTV Thể thao), Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội (HN 1+ HN 2), Công ty Truyền hình cáp Saigontourist (SCTV15 + SCTV HD Thể thao + BTV5), Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC (VTC3 + VTC3HD), trong đó K+ độc quyền các trận ngày Chủ nhật và độc quyền thêm các trận đấu sớm ngày thứ bảy (vào các khung giờ 18h45 hoặc 19h45 – giờ Việt Nam). Bên cạnh đó, cũng chỉ duy nhất K+ được ưu tiên lựa chọn độc quyền một trận đấu của ngày thứ bảy khi không có các trận đấu sớm, được ưu tiên lựa chọn độc quyền một trận đấu của các vòng giữa tuần và quyền ưu tiên phát sóng độc quyền một trận đấu diễn ra vào ngày chủ nhật của vòng đấu cuối cùng.[4]

Trong số 47 câu lạc bộ đã tham dự kể từ khi giải đấu thành lập năm 1992, có 6 câu lạc bộ đã giành được danh hiệu: Manchester United (13), Chelsea (4), Arsenal (3), Manchester City (2), Blackburn Rovers (1) và Leicester City (1). Nhà vô địch hiện nay là Leicester City, đội bóng đã giành được danh hiệu trong mùa giải 2015–16.

Lịch sử hình thành[sửa | sửa mã nguồn]

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm 80 của thế kỉ trước, bóng đá Anh đã gặp phải những khó khăn to lớn nhất từ trước đến nay. Các sân vận động xuống cấp, nạn Hooligan lan tràn. Các đội bóng của nước Anh bị loại khỏi các cúp châu Âu trong vòng 5 năm sau thảm họa ở sân vận động Heysel của nước Bỉ, thảm họa đã khiến cho 39 cổ động viên thiệt mạng trong trận chung kết cúp C1 giữa LiverpoolJuventus năm 1985.[5] Kể từ đó, giải vô địch quốc gia Anh bị xuống cấp trầm trọng. Đến năm 1989, bóng đá Anh lại phải chứng kiến thảm hoạ Hillsbrough với 96 cổ động viên thiệt mạng và hơn 150 người khác bị thương tại trận bán kết cúp FA giữa LiverpoolNottingham Forest. Trước tình hình đó, Lord Justice Taylor đã đề nghị rằng cần phải có cải cách lại toàn bộ hệ thống điều hành và cấu trúc các sân vận động bóng đá trên toàn nước Anh – hình thức sân vận động không có rào chắn từ đó mà ra đời.[6]

Tuy nhiên vào những năm 1990, Đội tuyển bóng đá Anh thi đấu thành công ở kỳ World Cup 1990 khi lọt vào vòng bán kết, cơ quan quản lý bóng đá châu Âu, dỡ bỏ lệnh cấm 5 năm cho các Câu lạc bộ bóng đá Anh được chơi ở đấu trường châu Âu vào năm 1990 (kết quả là Manchester United vô địch Cúp Winners UEFA Cup vào năm 1991).

Giải bóng đá hạng nhất Anh (tên tiếng Anh: Football League First Division) vốn được xem là giải bóng đá cấp cao nhất của bóng đá Anh kể từ năm 1888, nhưng thua kém so với Serie ALa Liga về số lượng khán giả, khoản thu và một vài cầu thủ hàng đầu của bóng đá Anh phải chuyển ra nước ngoài thi đấu.[7]

Cuộc cách mạng triệt để[sửa | sửa mã nguồn]

Phải đối mặt với quá nhiều vấn đề, đặc biệt là sự xuống cấp của giải đấu dẫn đến việc không thể thu hút được các ngôi sao đã khiến cho các câu lạc bộ của Anh bất mãn. Đầu năm 1988, 10 câu lạc bộ đã dọa sẽ tách ra thành lập một giải đấu riêng nhằm chiếm trọn lợi nhuận rất cao từ truyền hình. Do đó, việc cần thiết nhất lúc bấy giờ là một cuộc đại cải cách nếu như các câu lạc bộ cũng như nền bóng đá Anh muốn phát triển và hưng thịnh.[8][9]

Một bản Hiệp ước của các thành viên sáng lập đã được ký ngày 17 tháng 7 năm 1991 để hình thành nên những nguyên tắc cơ bản cho việc thành lập giải Ngoại Hạng Anh (Premier League) bây giờ.[10] Giải đấu đã có sự tách biệt về mặt thương mại với giải Football League và Liên đoàn bóng đá, nhờ đó mà nó có thể tự do ký kết những hợp đồng phát sóng và tài trợ của riêng mình. Vào ngày 20 tháng 2 năm 1992, các câu lạc bộ giải hạng nhất đã đồng loạt rời khỏi giải Football League và 3 tháng sau đó, Premier League được thành lập như một công ty trách nhiệm hữu hạn. Ban lãnh đạo giải đấu đã quyết định nhượng lại toàn bộ bản quyền truyền hình cho Sky TV. Ở thời điểm đó, việc ép buộc các cổ động viên phải trả phí để xem 1 chương trình thể thao trực tiếp là 1 khái niệm gần như mới, nhưng chất lượng của giải đấu kết hợp với chiến lược marketing của Sky đã nâng Premier League lên tầm cao mới. Bên cạnh đó, việc gia tăng về doanh thu đã đảm bảo rằng các CLB Anh có thể cạnh tranh trên quy mô toàn cầu về phí chuyển nhượng và về mức lương - một nhân tố quan trọng để thu hút những cầu thủ xuất sắc nhất từ nước ngoài hội tụ về Barclays Premier League.[11]

Mùa giải 1992-1993 là mùa giải đầu tiên của Giải bóng đá Ngoại hạng Anh và ban đầu có 22 câu lạc bộ tham dự. Bàn thắng đầu tiên tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh được ghi bởi cầu thủ Brian Deane của Sheffield United trong chiến thắng 2-1 trước Manchester United.[12] Danh sách 22 câu lạc bộ đầu tiên của Giải bóng đá Ngoại hạng Anh bao gồm: Arsenal, Aston Villa, Blackburn Rovers, Chelsea, Coventry City, Crystal Palace, Everton, Ipswich Town, Leeds United, Liverpool, Manchester City, Manchester United, Middlesbrough, Norwich City, Nottingham Forest, Oldham Athletic, Queens Park Rangers, Sheffield United, Sheffield Wednesday, Southampton, Tottenham Hotspur, và Wimbledon.[13]

"Big Four" thống trị (những năm 2000)[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải A C L MU
1999 - 2000 2 5 4 1
2000 - 2001 2 6 3 1
2001 - 2002 1 6 2 3
2002 - 2003 2 4 5 1
2003 - 2004 1 2 4 3
2004 - 2005 2 1 5 3
2005 - 2006 4 1 3 2
2006 - 2007 4 2 3 1
2007 - 2008 3 2 4 1
2008 - 2009 4 3 2 1
2009 - 2010 3 1 7 2
Kết thúc mùa giải 11 8 8 11
Bảng kết quả xếp hạng của nhóm 'Big Four' trong những năm 2000.

Một điều đặc biệt ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh vào giữa những năm 2000 là sự thống trị mà người ta gọi là "Big Four" bao gồm 4 câu lạc bộ bóng đá Arsenal, Chelsea, LiverpoolManchester United. Trong thập kỷ này từ 2002 - 2009, họ chiếm ưu thế trong 4 vị trí hàng đầu trên bảng xếp hạng, điều này gây ra sự nhàm chán cho giải đấu.[14][15]

Cơ cấu tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bóng đá Ngoại hạng Anh hoạt động như 1 Công ty Cổ phần với 20 câu lạc bộ thành viên, mỗi câu lạc bộ là một cổ đông, nắm một lá phiếu biểu quyết về các vấn đề như thay đổi quy tắc và hợp đồng. Các câu lạc bộ bầu ra một chủ tịch, giám đốc điều hành và ban giám đốc để giám sát hoạt động hàng ngày của giải đấu.[16] Chủ tịch hiện tại là ông Dave Richards được bổ nhiệm vào tháng 4 năm 1999 và Giám đốc điều hành là ông Richard Scudamore được bổ nhiệm vào tháng 11 năm 1999.[17]

Giải bóng đá Ngoại hạng Anh tham gia vào Hiệp hội các Câu lạc bộ châu Âu, được tham gia vào các giải đấu do UEFA tổ chức như UEFA Champions LeagueUEFA Europa League.[18]

Nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Giải bóng đá Ngoại hạng Anh đã được tài trợ từ năm 1993. Các nhà tài trợ được đặt tên nhà tài trợ theo tên giải đấu. Đã có ba nhà tài trợ kể từ khi hình thành giải đấu này.[19]

  • 1992–1993: Không có nhà tài trợ (FA Premier League)
  • 1993–2001: Carling (FA Carling Premiership)[7]
  • 2001–2004: Barclaycard (FA Barclaycard Premiership)[7]
  • 2004–nay: Barclays (Barclays Premier League; FA Barclays Premiership đến năm 2007)[7][20]

Barclays sẽ chấm dứt tài trợ sau mùa 2015-16, BTC cho biết sẽ không có thêm nhà tài trợ giải đấu nào nữa.

Cũng như nhà tài trợ chính cho giải đấu, Giải bóng đá Ngoại hạng Anh có một số đối tác và nhà cung cấp phụ kiện thể thao khác.[21] Nhà cung cấp bóng chính thức cho giải đấu là Hãng Nike đã có hợp đồng kể từ mùa giải bóng 2000-2001 khi hãng này thay thế Hãng Mitre.[22]

  • 1992: Không có nhà tài trợ bóng
  • 1993-1995:Mitre Pro Max
  • 1995-2000:Mitre Ultimax
  • 2000-2004:Nike Geo Merlin
  • 2004-2006:Nike Total 90 Aerow
  • 2006-2008:Nike Total 90 Aerow II
  • 2008-2009:Nike Total 90 Omni
  • 2009-2010:Nike T90 Ascente
  • 2010-2011:Nike T90 Tracer
  • 2011-2012:Nike T90 Seitiro
  • 2012-2013:Nike Maxim 
  • 2013-2014:Nike Incyte
  • 2014-2015:Nike Ordem
  • 2015-2016:Nike Ordem 3

Danh sách các đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách vô địch theo mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Vô địch Á quân
1992–93 Manchester United Aston Villa
1993–94 Manchester United Blackburn Rovers
1994–95 Blackburn Rovers Manchester United
1995–96 Manchester United Newcastle United
1996–97 Manchester United Newcastle United
1997–98 Arsenal Manchester United
1998–99 Manchester United Arsenal
1999–2000 Manchester United Arsenal
2000–01 Manchester United Arsenal
2001–02 Arsenal Liverpool
2002–03 Manchester United Arsenal
2003–04 Arsenal Chelsea
2004–05 Chelsea Arsenal
2005–06 Chelsea Manchester United
2006–07 Manchester United Chelsea
2007–08 Manchester United Chelsea
2008–09 Manchester United Liverpool
2009–10 Chelsea Manchester United
2010–11 Manchester United Chelsea
2011–12 Manchester City Manchester United
2012–13 Manchester United Manchester City
2013–14 Manchester City Liverpool
2014–15 Chelsea Manchester City
2015–16 Leicester City Arsenal

Các đội vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Các kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đội bóng giàu thành tích nhất: Manchester United với 13 lần ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh và 20 lần tại giải bóng đá cấp cao nhất nước Anh.
  • Đội bóng bất bại cả mùa: Arsenal - Mùa giải 2003 - 2004 đã vô địch với 26 trận thắng, 12 trận hòa và không thua trận nào.
  • Đội bám trụ lâu nhất ở giải đấu cao nhất của nước Anh: Arsenal (từ mùa 1919 - nay), chưa xuống hạng kể từ khi được thăng hạng 1919.

Nếu tính từ khi Premier League ra đời thì có tới tổng cộng 7 câu lạc bộ chơi trọn vẹn tất cả các mùa bóng, đó là: Arsenal, Aston Villa, Chelsea, Everton, Liverpool. Manchester UnitedTottenham Hotspur.

  • Đội đạt số điểm cao nhất trong một mùa bóng: Chelsea FC đang giữ kỷ lục với số điểm 95 (29 trận thắng, 8 trận hòa và 1 trận thua) mùa bóng 2004-2005.
  • Đội có số ngày giữ ngôi đầu bảng Ngoại hạng Anh nhiều nhất trong một mùa giải:
  • Đội ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải:
  • Đội bóng có lượng cổ động viên đến sân trung bình cao nhất: Manchester United (75.350 khán giả).

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Chuyển nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cầu thủ chuyển đi đến giải khác với giá cao nhất: Gareth Bale (85 triệu bảng) từ Tottenham Hotspur sang Real Madrid vào tháng 9 năm 2013.
  • Cầu thủ chuyển đến từ giải đấu khác với giá cao nhất: Ángel Di María (59,7 triệu bảng) từ Real Madrid sang Manchester United vào năm 2014.

Mạng xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Số lượng fan của 1 số đội bóng trong mạng xã hội Facebook[23]
Ngôn ngữ Số fan(triệu người)
Manchester United
  
66.294%
Arsenal
  
33.425%
Chelsea
  
43.497%
Liverpool
  
26.143%
Manchester City
  
19.568%
Everton
  
2.164%
Newcastle United
  
1.720%
Tottenham Hotspur
  
6.868%
Aston Villa
  
2.144%

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “History and time are key to power of football, says Premier League chief”. The Times. Ngày 3 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2013. 
  2. ^ “German Bundesliga Stats: Team Attendance – 2010–11”. Soccernet. ESPN. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ Kassies, Bert (ngày 22 tháng 11 năm 2012). “UEFA ranking of European leagues”. Bert Kassies. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2012. 
  4. ^ “Người hâm mộ thất vọng vì K+ độc quyền Ngoại hạng Anh”. 
  5. ^ “1985: English teams banned after Heysel”. BBC Archive (BBC). Ngày 31 tháng 5 năm 1985. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2006. 
  6. ^ “The Taylor Report”. Football Network. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007. 
  7. ^ a ă â b “A History of The Premier League”. Premier League. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2007. 
  8. ^ The big five were Manchester United, Liverpool, Tottenham, Everton and Arsenal
  9. ^ Evans, Anthony; Conolly, Thomas; Lai, Stephen; Whitfield, Matthew; Bainbridge, James; Mellor, Andrew (ngày 27 tháng 12 năm 2005). “Kerry Packer (1937–2005)”. The Filter^. 
  10. ^ “In the matter of an agreement between the Football Association Premier League Limited and the Football Association Limited and the Football League Limited and their respective member clubs”. HM Courts Service (HM Government). 2006. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2007. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2006. 
  11. ^ “Super Ten Losing Ground”. New Straits Times. Ngày 14 tháng 7 năm 1988. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2013. 
  12. ^ Shaw, Phil (ngày 17 tháng 8 năm 1992). “The Premier Kick-Off: Ferguson's false start”. The Independent. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2010. 
  13. ^ “Final 1992/1993 English Premier Table”. Soccerbase. Racing Post. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010. 
  14. ^ Northcroft, Jonathan (ngày 11 tháng 5 năm 2008). “Breaking up the Premier League's Big Four”. The Sunday Times. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2011. 
  15. ^ “The best of the rest”. Soccernet (ESPN). Ngày 29 tháng 1 năm 2007. Truy cập ngày 27 tháng 11 năm 2007. 
  16. ^ “Our relationship with the clubs”. Premier League. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 11 năm 2006. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2006. 
  17. ^ Nakrani, Sachin (ngày 10 tháng 6 năm 2008). “Premier League v England time-line”. The Guardian. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2010. 
  18. ^ “European Club Association: General Presentation”. European Club Association. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010. 
  19. ^ “Barclays nets Premier League deal”. BBC News (BBC). Ngày 27 tháng 9 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010. 
  20. ^ “Barclays renews Premier sponsorship”. premierleague.com. Premier League. Ngày 23 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 10 năm 2009. 
  21. ^ “Partners”. premierleague.com. Premier League. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010. 
  22. ^ Northcroft, Jonathan (ngày 4 tháng 10 năm 2009). “The Premier League's goal rush”. The Sunday Times. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2010. 
  23. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên singstat1

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hammam, Sam (14 tháng 1 năm 2000). The Wimbledon We Have. London: Wimbledon FC. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]