Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
FIFA World Rankings logo.svg
Top 10 đội dẫn đầu tính đến 7 tháng 4, 2016[1]
Thứ hạng Đội tuyển Số điểm
1  Argentina 1532
2  Bỉ 1352
3  Chile 1348
4  Colombia 1337
5  Đức 1309
6  Tây Ban Nha 1277
7  Brasil 1251
8  Bồ Đào Nha 1184
9  Uruguay 1158
10  Anh 1069
Bảng xếp hạng trên FIFA.com

Bảng xếp hạng FIFA (BXH FIFA) là hệ thống xếp hạng dành cho các đội tuyển bóng đá nam trong các Liên đoàn bóng đá, hiện nay dẫn đầu đang là Argentina. Các đội bóng quốc gia thành viên của FIFA, nơi điều hành các hoạt động bóng đá trên toàn thế giới, được xếp hạng dựa trên kết quả các trận đấu và đội có nhiều thắng lợi nhất sẽ được xếp hạng cao nhất. 1 hệ thống điểm được sử dụng, điểm được thưởng dựa trên kết quả các trận đấu quốc tế được FIFA công nhận. Trước hệ thống hiện nay, BXH được dựa trên thành tích của đội bóng trong 4 năm gần nhất, với nhiều kết quả gần hơn và nhiều trận đấu quan trọng hơn thì có ảnh hưởng nặng hơn cho việc giúp mang lại vị trí cao cho đội bóng.

Hệ thống xếp hạng được sửa chữa sau World Cup 2006 với thông báo quan trọng về chuỗi xếp hạng mới được đưa ra vào ngày 12 tháng 6 năm 2009. Sự thay đổi quan trọng nhất là những vị trí bây giờ được dựa trên kết quả qua 4 năm trước thay vì 8 năm. Sự thay đổi được hiểu là để đáp lại sự chỉ trích cho rằng những thứ hạng không thể hiện cân xứng với sức mạnh thực tế của các đội tuyển. (Xem phần Những sự chỉ trích).

Những hệ thống khác đã được đặt ra, giống như hệ số Elo bóng đá thế giới, dựa trên hệ thống hệ số Elo dùng trong cờ vuacờ vây, xếp hạng các đội trên cơ sở tất cả các thời kì. UFWC (Giải vô địch bóng đá thế giới không chính thức) xếp hạng các đội vào số trận bảo vệ danh hiệu vô không chính thức của đội bóng, một phần thưởng được nghĩ ra chỉ duy nhất mục đích đó.

Các nước có điểm xuất sắc (hạng 1-10)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Quốc gia Điểm Hạng Quốc gia Điểm
1  Bỉ 1494 6  Brasil 1251
2  Argentina 1455 7  Bồ Đào Nha 1219
3  Tây Ban Nha 1370 8  Colombia 1211
4  Đức 1347 9  Anh 1106
5  Chile 1293 10  Áo 1091

Các nước có điểm rất cao (hạng 11-30)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Quốc gia Điểm Hạng Quốc gia Điểm
11  Uruguay 1074 21  Bosna và Hercegovina 905
12  Thụy Sĩ 1050 22  México 898
13  Ecuador 1040 23  Nga 895
14  Hà Lan 994 24  Pháp 868
15  Ý 991 25  Slovakia 860
16  România 980 25  Cộng hòa Séc 860
17  Wales 974 27  Ukraina 842
18  Croatia 958 28  Bờ Biển Ngà 828
19  Hungary 945 29  Bắc Ireland 825
20  Thổ Nhĩ Kỳ 933 30  Cộng hòa Ireland 825

Các nước có điểm cao (31-60)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Quốc gia Điểm Hạng Đội Điểm
31  Costa Rica 799 46  Scotland 609
32  Hoa Kỳ 793 47  Phần Lan 606
33  Cabo Verde 790 48  Tunisia 603
34  Ba Lan 787 49  Trinidad và Tobago 598
35  Thụy Điển 771 50  Na Uy 597
36  Albania 746 51  Jamaica 590
36  Algérie 746 51  Serbia 590
38  Iceland 724 53  Hàn Quốc 580
39  Hy Lạp 706 54  Congo 579
40  Đan Mạch 692 55  Ả Rập Saudi 571
41  Ghana 691 55  Ai Cập 571
42  Paraguay 652 57  CHDC Congo 570
43  Peru 644 58  Nhật Bản 569
44  Iran 626 59  Slovakia 565
45  Sénégal 621 60  Panama 564

Các nước có điểm khá (hạng 61-100)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Quốc gia Điểm Hạng Hạng Điểm
61  Slovenia 565 81  Libya 427
62  Uganda 553 82  Trung Quốc 413
63  Mali 552 83  Venezuela 412
64  UAE 547 84  Qatar 404
65  Panama 544 85  Montenegro 403
66  Nigeria 540 86  Jordan 398
67  Zambia 516 87  Iraq 395
68  Belarus 514 88  Canada 388
69  Guinea Xích đạo 504 89  Burkina Faso 385
70  Bolivia 500 90  Estonia 379
71  Israel 498 91  Rwanda 375
72  Bulgaria 494 92  Antigua & Barbuda 371
73  Uzbekistan 489 93  Togo 368
74  Nam Phi 486 93  Guatemala 368
75  Ả Rập Saudi 474 95  Botswana 363
76  Maroc 469 96  Nicaragua 357
77  Gabon 468 96  Quần đảo Faroe 357
78  Bénin 458 98  Honduras 349
79  Haiti 453 99  El Salvador 344
80  Síp 441 99  Oman 344

Các nước có điểm trung bình (hạng 101-140)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Quốc gia Điểm Hạng Quốc gia Điểm
101  Kenya 339 121  Armenia 285
102  Latvia 338 121  Bahrain 285
103  Niger 337 121  Sierra Leone 285
103  Liberia 337 121  Thái Lan 285
105  Angola 333 125  Syria 278
105  Malawi 327 126  Tanzania 277
107  Kyrgyzstan 324 127  Litva 274
108  Zimbabwe 322 128  Belize 273
109  Mozambique 316 129  Madagascar 272
110  Burundi 307 130  Sudan 271
111  Mauritanie 302 131  Palestine 267
111  Cộng hòa Trung Phi 302 132  Kazakhstan 266
113  Triều Tiên 301 133  Swaziland 265
113  Tchad 301 133  Namibia 265
115  Aruba 298 135  Philippines 264
116  Azerbaijan 296 136  Cuba 259
117  Turkmenistan 294 136  Hồng Kông 259
118  Ethiopia 291 138  Macedonia 257
119  Saint Kitts & Nevis 289 139  Nam Sudan 246
120  Gruzia 286 140  Liban 245

Các nước có điểm thấp (hạng 141-170)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng

Quốc gia Điểm Hạng Quốc gia Điểm
141  Kuwait 242 156  Guam 169
142  Luxembourg 237 157  Maldives 159
143  Saint Vincent & Grenadines 221 158  Myanmar 155
144  Saint Lucia 216 159  Bermuda 154
145  Barbados 214 160  Cộng hòa Dominica 150
146  Việt Nam 209 161  Guyana 144
147  Guiné-Bissau 207 162  Malta 143
148  Singapore 196 163  Ấn Độ 139
148  Tajikistan 196 163  Grenada 139
150  Curaçao 192 165  Liechtenstein 135
150  New Zealand 192 165  Gambia 135
152  Lesotho 186 167  Quần đảo Cook 128
153  Afghanistan 183 167  Samoa 128
154  Moldova 172 167  Samoa 128
155  São Tomé và Príncipe 170 170  Đông Timor 127

Các nước có điểm rất thấp (hạng 171-200)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Quốc gia Điểm Hạng Quốc gia Điểm
171  Malaysia 126 186  Fiji 68
172  Mauritius 120 187  Montserrat 67
172  Puerto Rico 120 188  Sri Lanka 61
174  Comoros 119 189  Suriname 57
175  Yemen 114 190  Seychelles 56
176  Dominica 107 190  Tahiti 56
177  Quần đảo Virgin (Mỹ) 88 192  Bhutan 49
177  Lào 88 193  Vanuatu 47
179  Bangladesh 87 194  Ma Cao 44
180  Indonesia 84 195  Quần đảo Cayman 42
181  Campuchia 83 196  Nepal 41
182  Trung Hoa Đài Bắc 80 197  Quần đảo Turks & Caicos 33
182  Nouvelle-Calédonie 80 198  San Marino 28
184  Brunei 74 199  Quần đảo Virgin (Anh) 27
185  Pakistan 72 200  Quần đảo Solomon 26

Các nước có điểm kém (hạng 201-209)[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Quốc gia Điểm Hạng Quốc gia Điểm
201  Mông Cổ 6 204  Djibouti 0
201  Andorra 6 204  Somalia 0
203  Papua New Guinea 4 204  Eritrea 0
204  Anguilla 0 204  Tonga 0
204  Bahamas 0

Phân hạng theo từng châu lục[sửa | sửa mã nguồn]

Top 10 nước có chỉ số điểm cao nhất[sửa | sửa mã nguồn]

châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
19  Bờ Biển Ngà 950 Rất cao 44  Sénégal 661 Cao
28  Algérie 845 Rất cao 48  Congo 638 Cao
33  Ghana 778 Rất cao 50  Guinée 621 Cao
39  Cabo Verde 745 Cao 57  Ai Cập 585 Cao
40  Tunisia 711 Cao 59  Cameroon 583 Cao

Bắc, Trung, Nam Mỹ và Caribe[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
2  Argentina 1455 Xuất sắc 13  Ecuador 1074 Rất cao
5  Chile 1273 Xuất sắc 22  México 898 Rất cao
6  Brasil 1251 Xuất sắc 32  Hoa Kỳ 784 Cao
8  Colombia 1211 Xuất sắc 37  Costa Rica 759 Cao
11  Uruguay 1074 Rất cao 46  Paraguay 647 Cao

Châu Á & châu Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
87  Iraq 398 Khá 74  Uzbekistan 470 Khá
51  Hàn Quốc 617 Cao 80  Ả Rập Saudi 432 Khá
53  Nhật Bản 607 Cao 84  Trung Quốc 405 Khá
57  Úc 585 Cao 86  Qatar 401 Khá
65  UAE 543 Khá 85  Jordan 399 Khá

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
1  Bỉ 1494 Xuất sắc 10  Áo 1091 Xuất sắc
3  Tây Ban Nha 1370 Xuất sắc 12  Thụy Sĩ 1050 Rất cao
4  Đức 1347 Xuất sắc 14  Hà Lan 994 Rất cao
7  Bồ Đào Nha 1219 Xuất sắc 15  Ý 991 Rất cao
9  Anh 1106 Xuất sắc 15  România 980 Rất cao

Top 10 nước có số điểm thấp nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Phi[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
204  Eritrea 0 Kém 172  Comoros 120 Rất thấp
204  Somalia 0 Kém 164  Gambia 135 Thấp
204  Djibouti 0 Kém 156  São Tomé và Príncipe 170 Thấp
189  Seychelles 56 Rất thấp 153  Lesotho 185 Thấp
174  Mauritius 119 Rất thấp 146  Guiné-Bissau 207 Thấp

Bắc, Trung, Nam Mỹ và Caribe[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
204  Anguilla 0 Kém 191  Suriname 55 Rất thấp
204  Bahamas 0 Kém 187  Montserrat 67 Rất thấp
198  Quần đảo Virgin (Anh) 27 Rất thấp 177  Quần đảo Virgin (Mỹ) 88 Rất thấp
197  Quần đảo Turks & Caicos 33 Rất thấp 176  Dominica 107 Thấp
196  Quần đảo Cayman 42 Rất thấp 172  Puerto Rico 120 Thấp

Châu Á & châu Úc[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
203  Papua New Guinea 4 Kém 193  Vanuatu 47 Rất thấp
201  Mông Cổ 6 Kém 192  Nepal 49 Rất thấp
200  Quần đảo Solomon 26 Rất thấp 189  Tahiti 56 Rất thấp
195  Ma Cao 44 Rất thấp 188  Bhutan 67 Rất thấp
194  Sri Lanka 45 Rất thấp 186  Fiji 68 Rất thấp

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng Đội Điểm Phân loại Hạng Đội Điểm Phân loại
201  Andorra 7 Kém 142  Luxembourg 237 Thấp
198  San Marino 28 Rất thấp 136  Macedonia 257 Thấp
164  Liechtenstein 135 Thấp 129  Kazakhstan 266 Trung bình
162  Malta 143 Thấp 126  Litva 274 Trung bình
155  Maldives 172 Thấp 123  Armenia 285 Trung bình

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội dẫn đầu BXH FIFA
Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha Đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý Đội tuyển bóng đá quốc gia Argentina Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức Đội tuyển bóng đá quốc gia Ý Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức

Vào tháng 12 năm 1992, FIFA lần đầu tiên công bố 1 danh sách thứ tự xếp hạng của các liên đoàn thành viên quy định 1 cơ sở để so sánh sức mạnh của các đội bóng. Từ tháng 8 năm sau, với sự tài trợ từ Coca Cola, danh sách được cập nhật thường xuyên hơn, được công bố trong đa số các tháng.[2] Những thay đổi quan trọng được tiến hành vào năm 1999 và 1 lần nữa vào năm 2006, để chống lại các chỉ trích nhằm vào hệ thống.[3] Số thành viên của FIFA tăng lên từ 167 thành 208 từ khi BXH ra đời. Trong lịch sử có 1 số trường hợp thành viên bị loại khỏi bảng xếp hạng vì không thi đấu 1 trận đấu quốc tế được công nhận nào trong hơn 4 năm, đó là São Tomé và Príncipe (từ tháng 12 năm 2007 đến tháng 11 năm 2011) và Papua New Guinea (từ tháng 7 đến tháng 9 năm 2011).

Thay đổi năm 1999[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi BXH ban đầu được giới thiệu, 1 đội nhận được 1 điểm cho 1 trận hòa và 3 điểm cho 1 trận thắng trong các trận thi đấu được FIFA công nhận, cũng tương tự như hệ thống tính điểm trong các giải đấu. Đây là 1 phương pháp tính toán khá đơn giản, nhưng FIFA đã nhanh chóng nhận ra rằng có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến các trận đấu quốc tế. Để đáp ứng các mục tiêu công bằng, khách quan và để so sánh chính xác sức mạnh tương xứng của nhiều quốc gia khác nhau, hệ thống được cập nhật. Các thay đổi chủ yếu như sau:

  • bảng xếp hạng điểm được tăng cường bởi 10 nhân tố.
  • phương pháp tính được thay đổi để đem vào các nhân tố tính toán bao gồm:
    • số bàn thắng ghi được hay thừa nhận thua.
    • trận đấu sân nhà hay sân khách.
    • tính quan trọng của trận đấu hay cuộc thi.
    • sức mạnh khu vực của đối thủ.
  • 1 số điểm cố định được không nhất thiết trận đó thắng hay hòa.
  • đội thua vẫn có thể nhận điểm.

2 danh hiệu mới được giới thiệu như là một phần của hệ thống:

Sự thay đổi đó làm cho hệ thống BXH phức tạp hơn, nhưng nó giúp cải thiện độ chính xác bởi vì nó đã toàn diện hơn.

Thay đổi năm 2006[sửa | sửa mã nguồn]

FIFA thông báo rằng hệ thống xếp hạng được cải tiến sau World Cup 2006. Thời gian đánh giá được giảm bớt từ 8 năm xuống còn 4 năm, và 1 phương pháp tính toán đơn giản hơn được sử dụng cho đến bây giờ để quyết định vị trí xếp hạng.[4] Lợi thế số bàn thắng ghi được trên sân nhà hay sân khách không còn đem vào để tính toán nữa. Các khía cạnh khác như tầm quan trọng của các loại trận khác nhau đã được xem xét lại. Bộ phương pháp tính toán và bảng xếp hạng sửa đổi đầu tiên được thông báo vào ngày 12 tháng 6 năm 2006.

Sự thay đổi này được bắt nguồn ít nhất là từ một phần của cuộc chỉ trích lan rộng dành cho hệ thống xếp hạng trước kia. Nhiều người yêu bóng đá có cảm giác rằng nó không chính xác, đặc biệt khi so sánh với các hệ thống xếp hạng khác và cho rằng nó không đáp ứng đủ để phản ánh những thay đổi trong thành tích của từng đội bóng. Các thứ hạng cao đầy bất ngờ gần đây của Cộng hoà SécMỹ đã vấp phải sự hoài nghi và ảnh hưởng tiêu cực đến sự tín nhiệm vào hệ thống dưới con mắt của nhiều nhà thể thao. Màn trình diễn nghèo nàn và việc bị loại sớm của 2 đội bóng trên tại vòng chung kết World Cup 2006 làm xuất hiện lên lòng tin vào các chỉ trích.

Các đội dẫn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi hệ thống được giới thiệu, Đức là đội đầu tiên dẫn đầu sau khoảng thống trị kéo dài của họ khi đã 3 lần lọt vào trận chung kết của 3 VCK World Cup gần nhất và ho đã chiến thắng 1 trong 3 lần đó. Brasil nắm vị trí dẫn đầu trong hành trình đến World Cup 1994 sau khi thắng 8 và thua 1 trong 9 trận vòng loại, ghi được 20 bàn và để lọt lưới chỉ 4 bàn. Ýếp đầu sau đó trong 1 thời gian ngắn khi đã hoàn thành thành công đợt vòng loại World Cup, sau đó đã bị Đức lấy lại. Sự thành công trong chiến dịch vòng loại dài giúp cho Brasil dẫn đầu BXH trong một thời gian ngắn. Đức lại dẫn đầu trong suốt VCK World Cup 1994, cho đến khi Brasil vô địch kì World Cup đó giúp họ có được một thời gian dẫn đầu rất lâu gần 7 năm cho đến khi họ bị vượt qua bởi Pháp, 1 đội mạnh trong thời gian đó khi đã vô địch World Cup 1998Euro 2000. Thành công tại World Cup 2002 giúp cho Brasil lấy lại vị trí đầu và giữ đến tháng 2 năm 2007, khi Ý trở lại dẫn đầu lần đầu tiên kể từ năm 1993 sau khi vô địch World Cup 2006 tổ chức tại Đức. Một tháng sau, Argentina lên thế chỗ Ý nhưng đã bị Ý lấy lại vào tháng 4. Sau chiến thắng tại Copa América 2007 vào tháng 7, Brasil trở lại nhưng chỉ 3 tháng sau vị trí này đã thuộc về Argentina. Vào tháng 7 năm 2008, Tây Ban Nha tiếp quản vị trí dẫn đầu lần đầu tiên sau khi vô địch Euro 2008. Brasil xếp thứ 6 nhưng đã trở lại dẫn đầu sau chiến thắng tại FIFA Confederations Cup 2009.

Mục đích của bảng xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

BXH được dùng bởi FIFA để xếp hạng sự phát triển và khả năng của các đội bóng thuộc các quốc gia thành viên, và đòi hỏi họ tạo nên "1 thước đo chính xác để so sánh các đội".[2] Chúng được dùng như một phần kết quả tính toán, hay 1 cơ sở toàn bộ để chọn hạt giống cho các giải đấu. Tại vòng loại World Cup 2010, BXH sẽ được sử dụng để chọn hạt giống cho các bảng trong các vòng loại khu vực thành viên bao gồm CONCACAF (sử dụng BXH tháng 5), CAF (sử dụng BXH tháng 7), và UEFA sử dụng BXH tháng 11 năm 2007.

Ngoài ra BXH này còn dùng để quyết định người đoạt 2 giải thưởng cho các đội bóng quốc gia hàng năm dựa trên cơ sở thành tích trong BXH.

Những sự chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Từ khi giới thiệu vào năm 1993, BXH FIFA đã là vấn đề của nhiều cuộc tranh luận, đặc biệt là về cách tính kết quả và những cách biệt thông thường về đẳng cấp và thứ hạng giữa một vài đội bóng. Ví dụ như Na Uy được xếp hạng 2 vào tháng 10 năm 1993tháng 7-8 năm 1995,[5]Mỹ xếp hạng 4 năm 2006, thực sự ngạc nhiên ngay cả với các cầu thủ của chính họ.[6] Tuy nhiên, những sự chỉ trích về BXH không chân thực vẫn tiếp diễn ngay cả sau khi đưa ra công thức tính mới, với việc Israel leo lên hạng 15 vào tháng 11 năm 2008 cũng làm cho báo chí nước này rất bất ngờ,[7][8][9] với việc Israel bỏ lỡ cơ hội lớn để chen chân vào top 10 sau khi thua Latvia tại lượt cuối của vòng loại.[10]

Trước tháng 7 năm 2006, 1 trong những chỉ trích chính là BXH được tính bởi thành tích của đội bóng trong vòng 8 năm, và vị trí xếp hạng của đội không liên quan gì đến thành tích gần đây của đội.[5][11] Sự chỉ trích này được giảm đôi chút với việc giới thiệu công thức tính mới, kết quả được tính trong 4 năm, giới thiệu vào tháng 7 năm 2006.

Sự thiếu sót được nhận thấy trong hệ thống của FIFA đã bắt đầu cho sự hình thành một số BXH khác từ những nhà thống kê về bóng đá [5] bao gồm Hệ số Elo bóng đáRSSSF (Tổ chức thống kê nghiệp dư bóng đá thế giới).

Phương pháp tính toán gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Sau World Cup 2006, 1 thủ tục tính toán mới sửa lại của BXH FIFA được công bố; đó là một thủ tục được đơn giản đáng kể. BXH mới được soạn ra để đáp lại sự chỉ trích từ các phương tiện truyền thông.[2] Cuộc họp có sự tham dự của các nhân viên FIFA và các nhà chuyên môn, và một lượng lớn các nghiên cứu được quản lý bởi nhóm người này, kết quả của các nghiên cứu sẽ nằm trong hệ thống mới.[2] Hệ thống mới được phê chuẩn tại Leipzig vào ngày 7 tháng 12 năm 2005 bởi ủy ban hành pháp của FIFA. Những thay đổi đáng chú ý bao gồm giảm đi lợi thế sân nhà-sân khách và số bàn thắng từ cách tính, và đơn giản hóa nhiều khía cạnh của hệ thống.

Hệ thống này, giống như các hệ thống trước, là rất giống các hệ thống của các giải vô địch quốc gia, dù những thay đổi bảo đảm rằng nó sẽ tiếp tục đại diện cho thành tích các đội bất chấp thi đấu với số trận khác nhau mỗi năm, và gặp các đội với sức mạnh khác nhau. Các nhân tố có trong cách tính như sau:

  • Kết quả trận đấu
  • Cấp bậc của trận đấu
  • Sức mạnh của đối thủ
  • Sức mạnh khu vực.

Kết quả thực tế của đội là điểm trung bình đạt được trong năm; các trận từ 4 năm trước được cân nhắc, với số điểm sẽ cao hơn nếu các trận được thi đấu gần hơn. Đội bóng phải thi đấu ít nhất 5 trận trong vòng 12 tháng để tăng thêm điểm.

Thắng, hòa hoặc thua[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm trước, một hệ thống cho điểm rắc rối được sử dụng, dựa vào đối thủ mạnh thế nào, và hiệu số bàn thắng-thua; thua mà được thêm điểm chỉ khi gặp đội mạnh hơn, nếu đạt được một trận đấu tốt. Với hệ thống mới này thì sự cho điểm đơn giản hơn: 3 điểm cho một trận thắng, 1 điểm cho một trận hòa và 0 điểm cho một trận thua, tương tự với các hệ thống của các giải quốc gia trên toàn thế giới.

Trong các trận đấu phân định thắng thua bằng loạt sút penalty 11m thì đội thắng được 2 điểm, đội thua được 1 điểm.

Kết quả Điểm
Thắng 3
Thắng (penalty) 2
Hòa 1
Thua (penalty) 1
Thua 0

Loại trận[sửa | sửa mã nguồn]

Các trận đấu khác nhau có tính chất quan trọng khác nhau, và FIFA đã đánh giá điều đó bằng cách sử dụng hệ thống phụ, trong đó trận quan trọng nhất là vòng chung kết World Cup,[12] và thấp nhất là các trận giao hữu. FIFA muốn công nhận các trận giao hữu cũng quan trọng, từ khi họ hình thành các trận nửa chính thức tính trong bảng xếp hạng.[13] Dù thế nào, FIFA không có kế hoạch điều chỉnh cho các đội ngay tức khắc trong các giải quan trọng.[14][15]

Số nhân về loại trận như sau:

Loại trận Số nhân
Giao hữu x 1,0
Vòng loại World Cup và các châu lục x 2,5
Vòng chung kết các châu lục và FIFA Confederations Cup x 3,0
Các trận trong vòng chung kết World Cup x 4,0

Sức mạnh của đối thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Hiển nhiên, một chiến thắng trước đối thủ có thứ hạng cao là một thành tích đáng kể hơn nhiều một chiến thắng trước đối thủ có thứ hạng thấp hơn, vì thế cho nên sức mạnh của đối thủ cũng là một nhân tố tính toán. Hệ thống mới dùng nhân tố sức mạnh đó dựa trên BXH. Hệ thống cũ thì dựa trên chênh lệch điểm số. Công thức tính là:

HS =\frac{200-TH}{100}

trong đó:

HS là hệ số sức mạnh của đội
TH là thứ hạng của đội

Các ngoại lệ như đội hạng 1 có hệ số nhân là 2, và các đội từ hạng 150 trở xuống được quy cho hệ số nhân tối thiểu là 0.5.

  • Ví dụ 1: thứ hạng của đội là 8:

\frac{200-8}{100}=1.92

vậy hệ số nhân của đội là 1,92
  • Ví dụ 2: thứ hạng của đội là 125:

\frac{200-125}{100}=0.75

vậy hệ số nhân của đội là 0,75
  • Ví dụ 3: thứ hạng của đội là 188:

Dưới hạng 150, nên hệ số nhân của đội là 0,5

Vị trí xếp hạng được lấy dựa trên BXH FIFA công bố gần nhất trước trận đấu.[16]

BXH công bố trước tháng 7 năm 2006 là quá khứ và không dùng cho công thức tính mới. Để thay thế, FIFA đã lấy BXH năm 1996 để áp dụng cho công thức mới và bây giờ dùng BXH mới để tính toán.[17]

Xem chi tiết sự giảm điểm của các đội bóng trong top 20 BXH tháng 11 năm 2007.[18]

Sức mạnh khu vực[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài hệ số về thứ hạng, FIFA còn cân nhắc về sức mạnh cân xứng của các liên đoàn thành viên trong cách tính. Mỗi liên đoàn được cho thêm hệ số từ 0.85 đến 1.0, dựa trên thánh tích của các liên đoàn trong 3 kì World Cup gần nhất. Các hệ số đó như sau:[19]

Liên đoàn Trước World Cup 2006 Từ World Cup 2006 đến nay
UEFA (châu Âu) 1.00 0,99
CONMEBOL (Nam Mĩ) 0.98 1,00
CONCACAF (Bắc, Trung Mĩ và Caribê) 0.85 0,85
AFC (châu Á) 0.85 0,85
CAF (châu Phi) 0.85 0,85
OFC (châu Đại Dương) 0.85 0,85

Hệ số trong cách tính là số trung bình cộng hệ số của 2 liên đoàn của 2 đội thi đấu:

KV = \frac{D1 + D2}{2}

trong đó:

KV là hệ số nhân sức mạnh của khu vực
D1 là sức mạnh khu vực của đội thứ nhất
D2 là sức mạnh khu vực của đội thứ hai.

Thời gian đánh giá[sửa | sửa mã nguồn]

Các trận trong vòng 4 năm (48 tháng) sẽ được cho điểm, nhưng có điểm tặng thêm cho các trận gần nhất. Trước đây thới gian tính là 8 năm. Điểm thêm về thới gian như sau:

Thời gian Hệ số nhân
Trong vòng 12 tháng x 1,0
Từ 12-24 tháng x 0.5
Từ 24-36 tháng x 0.3
Từ 36-48 tháng x 0.2

Công thức xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Số điểm cuối cùng cho một trận đấu được nhân với 100 và làm tròn đến háng số nguyên.

DXH =\ 100(KQ\ \times\ LT\ \times\ HS\ \times\ KV) trong đó:

DXH là số điểm được tính.
KQ là kết quả trận đấu. (xem phần kết quả)
LT là tính chất quan trọng của trận đấu. (xem phần loại trận)
HS là sức mạnh của đối thủ. (xem phần sức mạnh của đối thủ)
KV là sức mạnh khu vực. (xem phần sức mạnh khu vực)

Kết quả của tất cả trận đấu trong năm được tính trung bình (5 trận gần nhất). Điểm trung bình trong 4 năm, tính bởi hệ số nhân trên, được cộng thêm vào để đạt được số điểm cuối cùng.

Ví dụ[sửa | sửa mã nguồn]

Những ví dụ dưới đây sử dụng các đội bóng và các liên đoàn bóng đá giả thiết, và các trận đấu được thừa nhận trong vòng 12 tháng:

  • Amplistan được xếp thứ 2 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá XYZ (hệ số 1.0);
  • Bestrudia được xếp thứ 188 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá ABC (hệ số 0.88);
  • Conesto được xếp thứ 39 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá QRS (hệ số 0.98);
  • Delphiz được xếp thứ 30 thế giới và là thành viên của liên đoàn bóng đá HIJ (hệ số 0.94).

Trận giao hữu gi­ữa Amplistan và Bestrudia. Amplistan thắng 2–1.

Trận Đội Điểm kết quả Loại trận Sức mạnh của đối thủ Sức mạnh khu vực Điểm xếp hạng
Amplistan gặp Bestrudia (giao hữu)
Kết quả: 2–1
Amplistan
Bestrudia
3
0
1.0
1.0
0.50
1.98
0.94
0.94
141
0

Bestrudia được 0 điểm vì thua trận, nên tất cả các nhân tố nhân với hệ số là 0.

Số điểm của Amplistan được tính như sau:

  • 3 điểm cho 1 trận thắng;
  • hệ số về loại trận là 1.0 (trận giao hữu);
  • hệ số về sức mạnh của đối thủ là 0.50 (Bestrudia xếp hạng 188 nên có hệ số tối thiểu là 0.50);
  • hệ số về sức mạnh khu vực là 0.94 (hệ số trung bình của 2 liên đoàn);
  • hệ số nhân là 100.

Một vài ví dụ:

Trận Đội Điểm kết quả Loại trận Sức mạnh của đối thủ Sức mạnh khu vực Điểm xếp hạng
Amplistan gặp Bestrudia (giao hữu)
Kết quả: 1–2
Amplistan
Bestrudia
0
3
1.0
1.0
0.50
1.98
0.94
0.94
0
558
Amplistan gặp Bestrudia (giao hữu)
Kết quả: 1–1
Amplistan
Bestrudia
1
1
1.0
1.0
0.50
1.98
0.94
0.94
47
186
Amplistan gặp Bestrudia (VCK World Cup)
Kết quả: 2–1
Amplistan
Bestrudia
3
0
4.0
4.0
0.50
1.98
0.94
0.94
564
0
Amplistan gặp Bestrudia (VCK World Cup)
Kết quả: 1–1 (Bestrudia thắng bằng penalties)
Amplistan
Bestrudia
1
2
4.0
4.0
0.50
1.98
0.94
0.94
188
1488
Amplistan gặp Conesto (giao hữu)
Kết quả: 1–2
Amplistan
Conesto
0
3
1.0
1.0
1.61
1.98
0.99
0.99
0
588
Conesto gặp Delphiz (VCK cúp châu lục)
Kết quả: 4–0
Conesto
Delphiz
3
0
2.5
2.5
1.70
1.61
0.96
0.96
1224
0
Conesto gặp Delphiz (VCK cúp châu lục)
Kết quả: 0–1
Conesto
Delphiz
0
3
2.5
2.5
1.70
1.61
0.96
0.96
0
1159
Conesto gặp Amplistan (VCK World Cup)
Kết quả: 0–0 (Amplistan thắng bằng penalties)
Conesto
Amplistan
1
2
4.0
4.0
1.98
1.61
0.99
0.99
784
1275

Conesto được nhiều điểm hơn so với Bestrudia trong trận gặp cùng Amplistan vì có hệ số khu vực cao hơn.

Công thức tính toán giai đoạn 1999-2006[sửa | sửa mã nguồn]

Vào năm 1999, FIFA giới thiệu một hệ thống tính toán được sửa đổi, kết hợp nhiều thay đổi trong sự trả lời những sự chỉ trích về bảng xếp hạng không thích hợp. Để xếp hạng tất cả các trận đấu, số bàn thắng và tính quan trọng của trận đấu được ghi lại, và được sử dụng cho thủ tục tính toán. Chỉ các trận của các đội tuyển quốc gia nam lớn tuổi mới được tính. Các hệ thống xếp hạng riêng rẽ được dùng cho các cấp khác như các đội tuyển nữ và tuyển trẻ, ví dụ như Bảng xếp hạng bóng đá nữ FIFA. Bảng xếp hạng bóng đá nữ đã và đang dựa một hệ thống như là một kiểu của Hệ số Elo bóng đá thế giới.[20]

Công thức tính toán giai đoạn 1993-1999[sửa | sửa mã nguồn]

Công thức xếp hạng giai đoạn 1993-1999 rất đơn giản và nhanh chóng trở nên được chú ý đến vì thiếu các nhân tố phụ. Các đội nhận được 3 điểm cho 1 trận thắng và 1 điểm cho 1 trận hòa.

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi năm FIFA trao 2 giải thưởng cho các quốc gia thành viên, dựa vào thành tích trên bảng xếp hạng. Đó là:

Đội bóng của năm[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng của năm được trao cho đội bóng mà có tổng số điểm nhận được trong 7 trận là tốt nhất. Bảng dưới đây cho biết 3 đội bóng hay nhất của từng năm.[21]

Năm Hạng nhất Hạng nhì Hạng ba
1993  Đức  Ý  Brasil
1994  Brasil  Tây Ban Nha  Thụy Điển
1995  Brasil  Đức  Ý
1996  Brasil  Đức  Pháp
1997  Brasil  Đức  Cộng hòa Séc
1998  Brasil  Pháp  Đức
1999  Brasil  Cộng hòa Séc  Pháp
2000  Brasil  Pháp  Argentina
2001  Pháp  Argentina  Brasil
2002  Brasil  Pháp  Tây Ban Nha
2003  Brasil  Pháp  Tây Ban Nha
2004  Brasil  Pháp  Argentina
2005  Brasil  Cộng hòa Séc  Hà Lan
2006  Brasil  Ý  Argentina
2007  Argentina  Brasil  Ý
2008  Tây Ban Nha  Đức  Hà Lan
2009  Tây Ban Nha  Brasil  Hà Lan
2010  Tây Ban Nha  Hà Lan  Đức
2011  Tây Ban Nha  Hà Lan  Đức
2012  Tây Ban Nha  Đức  Argentina
2013  Tây Ban Nha  Đức  Argentina
2014  Đức  Argentina  Colombia
2015  Bỉ  Argentina  Tây Ban Nha

Đội bóng tiến bộ nhất của năm[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng tiến bộ nhất của năm được trao cho đội bóng mà có sự thăng tiến trên bảng xếp hạng tốt nhất trong năm. Trong bảng xếp hạng FIFA, không đơn giản cho đội bóng nào để có thể vươn lên nhiều nhất, nhưng một công thức tính mới được đưa ra để giải thích các sự thật rằng nó trở nên khó kiếm nhiều điểm mà đội bóng có thể.[2] Công thức được dùng là số điểm có vào cuối năm (z) nhân với số điểm nhận được trong năm (y). Đội nào có chỉ số cao nhất trong công thức này sẽ nhận giải. Bảng dưới đây cho ta thấy top 3 đội tiến bộ nhất trong từng năm.[21]

Giải này không còn là một giải chính thức kể từ năm 2006.

Năm Hạng nhất Hạng nhì Hạng ba
1993  Colombia  Bồ Đào Nha  Maroc
1994  Croatia  Pháp  Uzbekistan
1995  Jamaica  Trinidad và Tobago  Cộng hòa Séc
1996  Nam Phi  Paraguay  Canada
1997  Nam Tư  Bosna và Hercegovina  Iran
1998  Croatia  Pháp  Argentina
1999  Slovenia  Cuba  Uzbekistan
2000  Nigeria  Honduras  Cameroon
2001  Costa Rica  Úc  Honduras
2002  Sénégal  Wales  Brasil
2003  Bahrain  Oman  Turkmenistan
2004  Trung Quốc  Uzbekistan  Bờ Biển Ngà
2005  Ghana  Ethiopia  Thụy Sĩ
2006  Ý  Đức  Pháp

Trong khi giải thưởng này không còn dùng vì sự thay đổi vào năm 2006, FIFA đã đưa ra một danh sách 'Những đội thăng tiến nhất' trong bảng xếp hạng từ năm 2007.[22]. Công thức tính dựa vào sự thay đổi điểm số trong năm (khác với công thức dùng trong thời gian từ 1993 đến 2006). Kết quả của các năm sau cũng có cônh thức tính cũng tương tự.

Năm Tiến bộ nhất Thứ hai Thứ ba
2007  Mozambique  Na Uy  Nouvelle-Calédonie
2008  Tây Ban Nha  Montenegro  Nga
2009  Brasil  Algérie  Slovenia
2010  Hà Lan  Montenegro  Botswana
2011  Wales  Sierra Leone  Bosna và Hercegovina
2012  Colombia  Ecuador  Mali
2013  Ukraina  Armenia  Hoa Kỳ
2014  Đức  Slovakia  Bỉ

Lịch trình xếp hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng xếp hạng được công bố hàng tháng, thường vào ngày thứ năm. Hạn chót cho các trận đấu để được cân nhắc là ngày thứ Năm trước ngày công bố.[23]

Lịch công bố BXH 2016
Ngày công bố
7 tháng 1
4 tháng 2
3 tháng 3
7 tháng 4
5 tháng 5
2 tháng 6
14 tháng 7
11 tháng 8
15 tháng 9
20 tháng 10
24 tháng 11
22 tháng 12

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “The FIFA/Coca-Cola World Ranking - Ranking Table”. FIFA. Truy cập 3 tháng 12, 2015. 
  2. ^ a ă â b c “Thủ tục trong Bảng xếp hạng FIFA”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập 28 tháng 3, 2008. 
  3. ^ “Bảng xếp hạng FIFA sửa lại”. FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). 6 tháng 7 năm 2006. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 12 năm 2008. Truy cập 28 tháng 3, 2008. 
  4. ^ “Sự mong đợi to lớn”. FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). 17 tháng 5 năm 2006. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 6, 2008. Truy cập 28 tháng 3, 2008. 
  5. ^ a ă â “Điều khó hiểu trong bảng xếp hạng”. BBC Sport. 21 tháng 12, 2000. 
  6. ^ “FIFA sửa lại bảng xếp hạng mới”. AP. 2 tháng 6, 2006. 
  7. ^ “Chủ tịch FIFA khen ngợi sự làm việc của IFA”. The Jerusalem Post. 29 tháng 8, 2008. Truy cập 13 tháng 2, 2009. Blatter cũng được hỏi về vị trí không chính xác của Israel. Mặc dù không có tham gia 1 cuộc thi đấu quan trọng nào trong 38 năm, Israel vẫn được xếp hang 16 thế giới, xếp trên cả một số đội như Hi Lạp, Thụy Điển, Đan Mạch và Anh, vừa mới tụt 2 bậc. 
  8. ^ “Bóng đá: Bảng xếp hạng FIFA chứng kiến Israel leo lên hạng 15 một cách đầy bất ngờ”. The Jerusalem Post. 13 tháng 12, 2008. Truy cập 13 tháng 2, 2009. Israel tiếp tục thăng tiến trên BXH của FIFA, leo lên hạng 15-vị trí tốt nhất của họ. Điều ngạc nhiên là một đội bóng chưa từng lọt vào bất kì giải đấu lớn nào trong 38 năm qua kể từ World Cup 1970, lại xếp trên một số đội như Hi Lạp (18), Nigeria (22), Thụy Điển (29), Scotland (33), Đan Mạch (34) và CH Ai Len (36). 
  9. ^ “Lời mới nhất: Đã đến lúc giải thoát cho bảng xếp hạng FIFA”. The Jerusalem Post. 14 tháng 11, 2008. Truy cập 13 tháng 2, 2009. Israel vươn lên hạng 16 trong BXH mới nhất của FIFA, trên cả Mexico (25), Nigeria (22), Mỹ (24) và Colombia (40), chỉ đáp ứng một phần cho tính hiệu quả của BXH. 
  10. ^ “Xem lại bảng xếp hạng FIFA tháng 11, 2008 (II)”. Football-Rankings.info. 20 tháng 10, 2008. Truy cập 13 tháng 2, 2009. Israel sẽ cải thiện (một lần nữa!) vị trí tốt nhất của họ, vượt qua hạng 15. Nếu họ thắng (thay vì hòa) trong trận gặp Latvia, họ sẽ ngang bằng với Nga (hạng 8). 
  11. ^ “FIFA Rankings”. Travour.com. 1 tháng 6, 2006. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 7 năm 2006. 
  12. ^ Từ vòng chung kết nghĩa là 'giải đấu cuối cùng' (trái với các giải vòng loại)
  13. ^ “Bảng xếp hạng FIFA: Vào trọng tâm” (PDF). FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). 7 tháng 6, 2006. Truy cập 21 tháng 7, 2007. 
  14. ^ “Thay đổi của bảng xếp hạng năm 2006: Thường xuyên hỏi về bảng xếp hạng FIFA” (PDF). Fédération Internationale de Football Association. Truy cập 21 tháng 6, 2007. 
  15. ^ Tuy nhiên, chủ nhà World Cup 2010, Nam Phi cũng tham dự Vòng loại khu vực châu Phi mặc dù được đặc cách lọt thẳng; nguyên nhân là vì CAF kết hợp vòng loại World Cup với vòng loại CAN CUP nên Nam Phi phải tham gia 2 vòng loại chẳng dính dáng gì đến nhau. Nam Phi cuối cùng đã bị loại khỏi CAN CUP.
  16. ^ Sai sót trong bảng xếp hạng FIFA tháng 11, 2008 (II)
  17. ^ FIFA đã tính nhầm... hay họ cố tình?
  18. ^ Kết quả bảng xếp hạng FIFA tháng 11,2007
  19. ^ Số điểm được tính như thế nào?
  20. ^ “Hệ thống xếp hạng bóng đá nữ”. FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). Truy cập 28 tháng 4, 2008. 
  21. ^ a ă Giải thưởng Đội bóng của năm trên website của RSSSF
  22. ^ Top các đội thăng tiến nhiều nhất trong năm trên website của FIFA(PDF)
  23. ^ Thời gian công bố bảng xếp hạng FIFA trên website của FIFA

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]