Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nhật Bản
Japan national football team crest.png
Biệt danhサムライ・ブルー
(Samurai Blue)
Hiệp hộiHiệp hội bóng đá Nhật Bản (JFA)
Liên đoàn châu lụcAFC (Châu Á)
Liên đoàn khu vựcEAFF (Đông Á)
HLV trưởngMoriyasu Hajime
Đội trưởngTakumi Minamino
Thi đấu nhiều nhấtEndō Yasuhito (152)
Ghi bàn nhiều nhấtKamamoto Kunishige (75)[1]
Sân nhàSân vận động Quốc gia Nhật Bản
Mã FIFAJPN
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 28 Giữ nguyên (16 tháng 7 năm 2020)[2]
Cao nhất9 (3.1998)
Thấp nhất62 (12.1992)
Hạng Elo
Hiện tại 30 Tăng 2 (1 tháng 8 năm 2020)[3]
Cao nhất8 (8.2001, 3.2002)
Thấp nhất123 (9.1962)
Trận quốc tế đầu tiên
 Nhật Bản 0–5 Trung Quốc 
(Tokyo, Nhật Bản; 9 tháng 5 năm 1917)[4]
Trận thắng đậm nhất
 Nhật Bản 15–0 Philippines 
(Tokyo, Nhật Bản; 27 tháng 9 năm 1967)[5]
Trận thua đậm nhất
 Nhật Bản 2–15 Philippines 
(Tokyo, Nhật Bản; 10 tháng 5 năm 1917)[5][6]
Giải thế giới
Sồ lần tham dự6 (Lần đầu vào năm 1998)
Kết quả tốt nhấtVòng 16 đội, 2002, 20102018
Cúp bóng đá châu Á
Sồ lần tham dự10 (Lần đầu vào năm 1988)
Kết quả tốt nhấtVô địch, 1992, 2000, 20042011
Cúp Liên đoàn các châu lục
Sồ lần tham dự5 (Lần đầu vào năm 1995)
Kết quả tốt nhấtÁ quân: 2001

Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản (サッカー日本代表 (Soccer Nhật Bản Đại Biểu) Sakkā Nippon Daihyō?) là đại diện của Nhật Bản trong môn bóng đá được điều hành bởi Hiệp hội bóng đá Nhật Bản (JFA).

Nhật Bản là một trong những đội tuyển bóng đá thành công nhất châu Á, khi đã có 6 lần liên tiếp gần đây tham dự Giải bóng đá vô địch thế giới, trong đó có ba lần lọt vào vòng 2 các năm 2002, 20102018. Đội cũng đang nắm giữ kỷ lục vô địch Cúp bóng đá châu Á với 4 lần vào các năm 1992, 2000, 20042011. Nhật Bản từng giành ngôi Á quân tại Cúp Liên đoàn các châu lục 2001 và là một trong ba đội tuyển châu Á bên cạnh Úc và Ả Rập Xê Út từng lọt vào chung kết một giải đấu FIFA dành cho đội tuyển quốc gia. Ở cấp độ khu vực, đội từng có bốn lần lên ngôi vô địch Cúp bóng đá Đông Á (1992, 1995, 1998, 2013).

Đội tuyển Nhật Bản được các cổ động viên và truyền thông của họ gọi là Sakkā Nippon Daihyō (サッカー日本代表 (Soccer Nhật Bản Đại biểu)? Đội tuyển Bóng đá Nhật Bản), Nippon Daihyō (日本代表 (Nhật Bản Đại biểu)? Đội tuyển Nhật Bản), hay viết tắt là Daihyō (代表 (Đại biểu)? Đội tuyển). Đội không có biệt danh chính thức, trong khi gần đây JFA thường sử dụng Samurai Blue (サムライ・ブルー Samurai Burū?), còn truyền thông Nhật Bản thường gọi theo họ của huấn luyện viên đương nhiệm + "Japan", như hiện tại là Moriyasu Japan (森保ジャパン?).

Đối thủ kình địch chính của Nhật Bản tại đấu trường châu lục là nước láng giềng Hàn Quốc và gần đây là Úc. Ngoài ra, đội cũng phát triển sự kình địch với Ả Rập Xê ÚtTây Á.

Nhật Bản là đội đầu tiên bên ngoài châu Mỹ tham dự Cúp bóng đá Nam Mỹ với tư cách là khách mời. Đội đã được mời tham gia các giải năm 1999, 2011, 2015 và 2019, mặc dù họ chỉ chấp nhận tham gia hai lần vào các năm 19992019. Trong cả hai lần tham dự, đội đều không vượt qua được vòng bảng.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Trước thập niên 1990[sửa | sửa mã nguồn]

Trước cuối thập niên 1980, Nhật Bản không được xem là một nền bóng đá phát triển ở châu Á với dàn cầu thủ đội tuyển khi đó hầu hết vẫn thuộc trình độ nghiệp dư hoặc bán chuyên nghiệp, mặc dù tổ chức JFA đã được thành lập từ năm 1921. Trước chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản từng tham gia kỳ Olympic đầu tiên vào năm 1936 và lọt vào tứ kết. Đội cũng tham gia vòng loại World Cup 1938 và được xếp lịch để thi đấu với Đông Ấn Hà Lan, nhưng sau đó bất ngờ rút lui nên mất suất tham dự giải vào tay của đối thủ. [7]

Lần ra mắt sau chiến tranh của Nhật Bản là tại Đại hội Thể thao châu Á 1951 tại Ấn Độ. Nhật Bản tái gia nhập FIFA vào năm 1950 và bắt đầu thi đấu vòng loại World Cup 1954, nhưng để mất suất tham dự vào tay Hàn Quốc sau hai lượt trận đối đầu, nên bắt đầu phát triển một sự kình địch gay gắt với đối thủ láng giềng.

Dettmar Cramer trở thành huấn luyện viên của Nhật Bản vào năm 1960, và đã dẫn dắt đội vào vòng tứ kết tại Thế vận hội Mùa hè 1964Tokyo. Thành tích quan trọng đầu tiên của Nhật Bản ở cấp độ quốc tế là ở Thế vận hội Mùa hè 1968 tại Thành phố Mexico, nơi đội giành huy chương đồng. Mặc dù kết quả này giúp môn bóng đá được công nhận ngày càng nhiều ở Nhật Bản, nhưng việc không có một giải đấu quốc nội chuyên nghiệp đã cản trở sự phát triển của nền bóng đá nước này. Đội liên tục thất bại trong việc vượt qua vòng loại World Cup cho đến 30 năm sau.[8] Đặc biệt ở vòng loại World Cup 1986, Nhật Bản đã đứng rất gần cơ hội vượt qua vòng loại, nhưng lại để thua Hàn Quốc trong những trận đấu quyết định.

Từ thập niên 1990-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản lần đầu tiên góp mặt tại Cúp bóng đá châu Á vào năm 1988, nơi họ bị loại từ vòng bảng sau trận hòa với Iran và thua Hàn Quốc, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất và Qatar. Thất bại ở Asian Cup 1988 được xem là hậu quả từ việc thiếu một giải vô địch quốc gia chất lượng. Nhu cầu chuyên nghiệp hóa bóng đá nội trở thành hướng phát triển không thể tranh cãi sau sự đi lên thần tốc của nền kinh tế Nhật Bản.

Cuối thập niên 1980 chứng kiến ​​những động thái cụ thể nhằm chuyên nghiệp hóa môn bóng đá ở Nhật Bản. JFA đã giới thiệu hệ thống Cầu thủ được cấp phép đặc biệt vào năm 1986, cho phép một số lượng hạn chế các cầu thủ chuyên nghiệp thi đấu ở các giải bán chuyên trong nước. Các ủy ban hành động đã được tổ chức vào năm 1988 và 1989 để thảo luận về việc thành lập một giải đấu chuyên nghiệp toàn diện ở Nhật Bản. Năm 1991, các chủ sở hữu của Giải bóng đá bán chuyên Nhật Bản đồng ý giải tán giải đấu này và tái hình thành giải đấu chuyên nghiệp J.League, như một phần trong kế hoạch nâng cao vị thế của môn bóng đá tại Nhật Bản và cải thiện trình độ của đội tuyển quốc gia.

Năm 1992, ở kỳ Asian Cup 1992 tổ chức trên sân nhà, Nhật Bản đã đánh bại Ả Rập Xê Út 1-0 trong trận chung kết và đoạt chức vô địch Asian Cup lần đầu tiên trong lịch sử. Danh hiệu châu Á đầu tiên trở thành nguồn động lực mới cho bóng đá Nhật Bản. Một năm sau, J.League ra đời, khiến cho môn thể thao này càng trở nên phổ biến tại Nhật Bản, và trình độ của đội tuyển quốc gia nước này cũng ngày một cải thiện, bắt đầu trở thành một thế lực thực sự của bóng đá châu Á. Sự tiến bộ của đội tuyển Nhật Bản trong một thời gian ngắn đã trở thành nguồn cảm hứng và ví dụ về cách phát triển bóng đá.[9][10] Trong lần đầu tiên thi đấu ở vòng loại World Cup với dàn cầu thủ chuyên nghiệp, Nhật Bản đã suýt chút nữa giành vé dự World Cup 1994 sau trận hòa 2-2 đáng tiếc trước Iraq ở trận cuối cùng của vòng loại, một trận đấu mà họ chỉ cần thắng là giành vé. Đội cũng đã đánh bại được Hàn Quốc lần đầu tiên ở vòng loại World Cup, nhưng chung cuộc vẫn phải nhìn kình địch giành vé tới nước Mỹ. Nhiệm vụ tiếp theo của Nhật Bản là bảo vệ danh hiệu châu lục của họ tại Asian Cup 1996. Đội đã thắng tất cả các trận ở vòng bảng nhưng bị loại ở tứ kết sau trận thua 2–0 trước Kuwait.

Năm 1998, cơ hội tham dự World Cup trở nên rõ ràng với Nhật Bản khi giải đấu được mở rộng lên thành 32 đội còn châu Á lần đầu có 3,5 suất tham dự. Dù chưa thể giành vé trực tiếp, Nhật Bản vẫn kịp có tấm vé muộn thông qua loạt trận play-off, để có lần đầu tiên tham dự giải đấu lớn nhất hành tinh, nơi đội toàn thua cả ba trận vòng bảng với Argentina, CroatiaJamaica với những tỷ số tối thiểu. Những nỗ lực không mệt mỏi của người Nhật đã bắt đầu tạo ra sự thay đổi. Sau kỳ World Cup năm 1998, Nhật chưa bao giờ vắng mặt ở sân chơi này. Đến năm 2000, đội lại một lần nữa đánh bại Ả Rập Xê Út trong trận chung kết Asian Cup 2000, để có danh hiệu vô địch châu lục lần thứ hai.

Tới năm 2002, Nhật Bản trở thành đồng chủ nhà World Cup với Hàn Quốc trong lần đầu tiên giải đấu này được tổ chức tại châu Á. Đội lần đầu vượt qua vòng bảng giải đấu khi hòa Bỉ 2-2, thắng Nga 1-0 và Tunisia 2-0. Tuy nhiên, họ để thua 0-1 trước Thổ Nhĩ Kỳ, đội sau đó đạt hạng ba, ở vòng 16 đội. Đến kỳ Asian Cup 2004 tại Trung Quốc, Nhật Bản đã bảo vệ chức vô địch châu lục khi thắng Trung Quốc 3-1 ở chung kết trong bầu không khí thù địch đến từ các cổ động viên của đội chủ nhà, qua đó cân bằng thành tích vô địch Asian Cup với Iran và Ả Rập Xê Út (3 lần).

Năm 2006, Nhật Bản giành vé tham dự kỳ World Cup lần thứ ba liên tiếp tại Đức, nơi đội bị loại từ vòng bảng sau khi hòa Croatia 0-0, thua Úc 1-3 và thua Brasil 1-4. Đến kỳ Asian Cup tổ chức tại Đông Nam Á một năm sau đó, đội thất bại 2-3 trong trận bán kết với Ả Rập Xê Út, và thua Hàn Quốc trên loạt sút luân lưu trong trận tranh hạng ba.

Tuyển Nhật Bản trước trận giao hữu với Paraguay năm 2008

Nhật Bản tiếp tục vượt qua vòng loại World Cup 2010 và rơi vào bảng E cùng với Hà Lan, Đan MạchCameroon. Đây là kỳ World Cup mà Nhật Bản đã thi đấu xuất sắc, đánh bại Cameroon 1-0 và Đan Mạch 3-1, chỉ thua Hà Lan (đội sau đó giành ngôi Á quân) với tỷ số tối thiểu. Gặp Paraguay ở vòng 16 đội, các cầu thủ Nhật đã thi đấu nỗ lực khi cầm hòa đội bóng Nam Mỹ 0-0 sau 120 phút thi đấu, trước khi thua trên loạt sút luân lưu.

Sau kỳ World Cup trên đất Nam Phi, JFA bổ nhiệm Alberto Zaccheroni làm huấn luyện viên trưởng của ĐTQG. Ở kỳ Asian Cup 2011 tổ chức tại Qatar, Nhật Bản đã trình diễn một lối chơi thuyết phục. Đội đè bẹp Ả Rập Xê Út đến 5-0 ở vòng bảng, đánh bại Qatar 3-2 ở tứ kết và có một cuộc rượt đuổi tỷ số gay cấn với Hàn Quốc ở bán kết, trận đấu mà họ chỉ có thể thắng kình địch trên loạt sút luân lưu sau khi hòa 2-2 trong 120 phút. Gặp Úc trong trận chung kết, Nhật Bản phải trải qua một trận đấu căng thẳng nữa, khi hai đội giằng co và hòa không bàn thắng sau 90 phút. Tuy nhiên, đội đã bất ngờ ghi được bàn thắng trong hiệp phụ thứ hai để qua đó thắng 1-0 chung cuộc. Với chức vô địch Asian Cup lần thứ tư, Nhật Bản trở thành đội bóng châu Á giàu thành tích nhất ở sân chơi này.

Nhật Bản thi đấu thuyết phục ở vòng loại World Cup 2014, trở thành đội đầu tiên trên thế giới giành vé đến Brasil. Trước đó, đội đã chơi không tệ ở Cúp Liên đoàn các châu lục 2013 mặc dù toàn thua, bao gồm trận thua chủ nhà Brasil 0-3, thua Ý 3-4 và Mexico 1-2. Ở vòng chung kết World Cup 2014, Nhật Bản rơi vào một bảng đấu dễ thở khi các đối thủ chỉ là Colombia, Hy LạpBờ Biển Ngà. Tuy nhiên, đội lại bị loại ngay từ vòng bảng và chỉ có một trận hòa 0-0 trước Hy Lạp, trong khi thua Bờ Biển Ngà 1-2 và Colombia 1-4. Với kết quả này, Zaccheroni phải từ chức và Javier Aguirre được chọn vào chiếc ghế nóng. Aguirre bắt đầu một cuộc cải tổ mạnh mẽ đội bóng, chuyển sơ đồ đội hình 4–2–3–1 đã sử dụng từ lâu của Zaccheroni sang sơ đồ 4–3–3 của chính ông và áp dụng điều này với những cầu thủ đang thi đấu ở J.League, loại bỏ nhiều gương mặt quen thuộc. Tuy nhiên, Nhật Bản tiếp tục thi đấu sa sút ở Asian Cup 2015 tổ chức tại Úc và sớm thất bại trong việc bảo vệ danh hiệu, khi bị UAE loại ở tứ kết sau loạt sút luân lưu, dù toàn thắng ở vòng bảng trước đó; đánh dấu thành tích tệ nhất của đội tại Asian Cup sau 19 năm. Kết quả này khiến cho Aguirre mất ghế chỉ sau nửa năm tại nhiệm.

JFA lựa chọn Vahid Halilhodžić làm HLV mới vào tháng 3 năm 2015. Nhật Bản thi đấu thiếu thuyết phục ở vòng loại World Cup 2018, để hòa đội bóng Đông Nam Á Singapore 0-0 trên sân nhà ở vòng loại thứ hai và thua UAE 1–2 trên sân nhà ở vòng loại thứ ba. Tuy nhiên, đội đã liên tiếp giành được những kết quả khả quan trong các trận đấu tiếp theo với Iraq, Úc và Thái Lan, với 5 chiến thắng và 2 trận hòa, dù đó đều là những chiến dịch rất khó nhọc. Vào ngày 31 tháng 8 năm 2017, Nhật Bản đánh bại Úc với tỷ số 2–0 trên sân nhà, qua đó giúp họ giành vé tham dự World Cup 2018 tại Nga, cũng là kỳ World Cup lần thứ sáu liên tiếp của đội. Tuy nhiên, JFA đã quyết định sa thải Halilhodžić vào ngày 9 tháng 4 năm 2018, chỉ mười tuần trước khi vòng chung kết World Cup diễn ra, với lý do mối quan hệ rạn nứt giữa huấn luyện viên và cầu thủ, và kết quả giao hữu kém cỏi gần đây, và bổ nhiệm Nishino Akira, người từng nắm đội Olympic Nhật Bản tại Thế vận hội Mùa hè 1996, với tư cách là huấn luyện viên mới.[11]

Các cầu thủ Nhật Bản trước trận đấu với Iran ở bán kết Cúp bóng đá châu Á 2019

World Cup 2018, Nhật Bản rơi vào bàng H cùng các đội Colombia, SenegalBa Lan. Đội bất ngờ giành chiến thắng 2-1 trước Colombia trong thế hơn người từ ngay phút thứ tư của trận đấu, đánh dấu chiến thắng đầu tiên của một đội bóng châu Á trước đại diện Nam Mỹ ở đấu trường World Cup. Trong lượt trận thứ hai gặp Senegal, các cầu thủ Nhật đã thi đấu quật khởi trước lối đá giàu thể lực của đội bóng châu Phi, để có trận hòa 2-2 đầy kịch tính. Ở lượt cuối vòng bảng, dù để thua Ba Lan 0-1, nhưng Nhật Bản vẫn giành quyền vào vòng 16 đội nhờ hơn Senegal (đội cũng có 4 điểm) ở chỉ số fair-play.[12] Gặp Bỉ ở vòng 16 đội, đội bất ngờ dẫn 2-0 nhờ các bàn thắng của Haraguchi GenkiInui Takashi, nhưng lại để thua ngược 2-3 ngay trong 90 phút thi đấu chính thức. Đây là lần thứ ba Nhật Bản lọt vào vòng 16 đội ở một kỳ World Cup, và cũng là thành tích tốt nhất của đội ở đấu trường này. Sau giải đấu khá thành công, hai trụ cột là Honda KeisukeHasebe Makoto quyết định từ giã đội tuyển quốc gia.

Nhật Bản tham dự Asian Cup 2019 với đội hình được trẻ hóa đáng kể, khi nhiều trụ cột như Kagawa Shinji hay Okazaki Shinji không được triệu tập, thay vào đó là những nhân tố mới như Minamino Takumi, Doan Ritsu hay Tomiyasu Takehiro. Đội thi đấu suôn sẻ trong bảng đấu có Turkmenistan, Oman và Uzbekisatan khi toàn thắng cả ba trận. Tuy nhiên, lối chơi của đội ở vòng loại trực tiếp đã bị chỉ trích vì quá thực dụng, với những chiến thắng suýt sao trước Ả Rập Xê Út và Việt Nam.[13][14] Dù vậy, Nhật Bản bất ngờ thi đấu thuyết phục khi gặp Iran ở bán kết, trận đấu mà họ đánh bại đối thủ này đến ba bàn không gỡ. Gặp Qatar ở chung kết, tuy nhiên, Nhật Bản đã không thể có chức vô địch châu Á lần thứ năm khi để thua 1-3, trong một trận đấu mà hàng phòng ngự của họ liên tiếp mắc sai lầm.[15]

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Tên
Huấn luyện viên trưởng Nhật Bản Moriyasu Hajime
Trợ lý huấn luyện viên Nhật Bản Teguramori Makoto
Huấn luyện viên thể lực Nhật Bản Hayakawa Naoki
Huấn luyện viên thủ môn Nhật Bản Hamano Yukiya

Kết quả thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

2021[sửa | sửa mã nguồn]

2022[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới đây là đội hình 24 cầu thủ được triệu tập cho Vòng loại World Cup 2022 (Vòng 3) lần lượt gặp  Oman Trung Quốc vào các ngày 2 tháng 9 và 7 tháng 9 năm 2021.[16][17][18]
Số liệu thống kê tính đến ngày 7 tháng 9 năm 2021 sau trận gặp Trung Quốc.

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
1TM Kawashima Eiji 20 tháng 3, 1983 (38 tuổi) 93 0 Pháp Strasbourg
1TM Gonda Shūichi 3 tháng 3, 1989 (32 tuổi) 24 0 Nhật Bản Shimizu S-Pulse
1TM Tani Kosei 22 tháng 11, 2000 (20 tuổi) 0 0 Nhật Bản Shonan Bellmare

2HV Nagatomo Yuto 12 tháng 9, 1986 (35 tuổi) 127 4 Cầu thủ tự do
2HV Yoshida Maya (Đội trưởng) 24 tháng 8, 1988 (33 tuổi) 109 11 Ý Sampdoria
2HV Tomiyasu Takehiro 5 tháng 11, 1998 (22 tuổi) 24 1 Ý Bologna
2HV Ueda Naomichi 24 tháng 10, 1994 (26 tuổi) 16 1 Pháp Nîmes
2HV Muroya Sei 5 tháng 4, 1994 (27 tuổi) 16 0 Đức Hannover 96
2HV Sasaki Sho 2 tháng 10, 1989 (31 tuổi) 13 1 Nhật Bản Sanfrecce Hiroshima
2HV Nakayama Yuta 16 tháng 2, 1997 (24 tuổi) 5 0 Hà Lan PEC Zwolle
2HV Yamane Miki 22 tháng 12, 1993 (27 tuổi) 4 1 Nhật Bản Kawasaki Frontale

3TV Haraguchi Genki 9 tháng 5, 1991 (30 tuổi) 63 11 Đức Union Berlin
3TV Shibasaki Gaku 28 tháng 5, 1992 (29 tuổi) 51 3 Tây Ban Nha Leganés
3TV Endo Wataru 9 tháng 2, 1993 (28 tuổi) 30 2 Đức VfB Stuttgart
3TV Ito Junya 9 tháng 3, 1993 (28 tuổi) 26 5 Bỉ Genk
3TV Dōan Ritsu 16 tháng 6, 1998 (23 tuổi) 21 3 Hà Lan PSV
3TV Kamada Daichi 5 tháng 8, 1996 (25 tuổi) 15 4 Đức Eintracht Frankfurt
3TV Kubo Takefusa 4 tháng 6, 2001 (20 tuổi) 13 0 Tây Ban Nha Mallorca
3TV Morita Hidemasa 10 tháng 5, 1995 (26 tuổi) 9 2 Bồ Đào Nha Santa Clara

4 Osako Yuya 18 tháng 5, 1990 (31 tuổi) 51 24 Nhật Bản Vissel Kobe
4 Furuhashi Kyogo 20 tháng 1, 1995 (26 tuổi) 8 3 Scotland Celtic
4 Onaiwu Ado 8 tháng 11, 1995 (25 tuổi) 2 3 Pháp Toulouse

Triệu tập gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Schmidt Daniel 3 tháng 2, 1992 (29 tuổi) 7 0 Bỉ Sint-Truiden v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
TM Nakamura Kosuke 27 tháng 2, 1995 (26 tuổi) 6 0 Bồ Đào Nha Portimonense v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
TM Nishikawa Shusaku 18 tháng 6, 1986 (35 tuổi) 31 0 Nhật Bản Urawa Red Diamonds v.  Mông Cổ, 30 tháng 3 năm 2021
TM Maekawa Daiya 8 tháng 9, 1994 (27 tuổi) 0 0 Nhật Bản Vissel Kobe v.  Mông Cổ, 30 tháng 3 năm 2021

HV Sakai Hiroki 12 tháng 4, 1990 (31 tuổi) 65 1 Pháp Marseille v.  Oman, 2 tháng 9 năm 2021INJ
HV Ogawa Ryoya 24 tháng 11, 1996 (24 tuổi) 5 0 Nhật Bản FC Tokyo v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
HV Taniguchi Shogo 15 tháng 7, 1991 (30 tuổi) 5 0 Nhật Bản Kawasaki Frontale v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
HV Nakatani Shinnosuke 24 tháng 3, 1996 (25 tuổi) 3 0 Nhật Bản Nagoya Grampus v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
HV Hashioka Daiki 17 tháng 5, 1999 (22 tuổi) 2 0 Bỉ Sint-Truiden v.  Myanmar, 28 tháng 5 năm 2021
HV Sugawara Yukinari 28 tháng 6, 2000 (21 tuổi) 1 0 Hà Lan AZ v.  Myanmar, 28 tháng 5 năm 2021
HV Hatanaka Shinnosuke 25 tháng 8, 1995 (26 tuổi) 8 0 Nhật Bản Yokohama F. Marinos v.  Mông Cổ, 30 tháng 3 năm 2021
HV Matsubara Ken 16 tháng 2, 1993 (28 tuổi) 1 0 Nhật Bản Yokohama F. Marinos v.  Mông Cổ, 30 tháng 3 năm 2021
HV Anzai Koki 31 tháng 5, 1995 (26 tuổi) 5 0 Bồ Đào Nha Portimonense v.  Bờ Biển Ngà, 13 tháng 10 năm 2020

TV Minamino Takumi 16 tháng 1, 1995 (26 tuổi) 31 16 Anh Southampton v.  Oman, 2 tháng 9 năm 2021INJ
TV Itakura Ko 27 tháng 1, 1997 (24 tuổi) 5 1 Đức Schalke 04 v.  Oman, 2 tháng 9 năm 2021INJ
TV Hashimoto Kento 16 tháng 8, 1993 (28 tuổi) 13 1 Nga Rostov v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
TV Kawabe Hayao 8 tháng 9, 1995 (26 tuổi) 4 1 Thụy Sĩ Grasshoppers v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
TV Sakamoto Tatsuhiro 22 tháng 10, 1996 (24 tuổi) 2 0 Nhật Bản Cerezo Osaka v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
TV Miyoshi Koji 26 tháng 3, 1997 (24 tuổi) 5 2 Bỉ Antwerp v.  Myanmar, 28 tháng 5 năm 2021
TV Endo Keita 22 tháng 1, 1997 (24 tuổi) 2 0 Đức Union Berlin v.  Myanmar, 28 tháng 5 năm 2021
TV Inagaki Sho 25 tháng 12, 1991 (29 tuổi) 1 2 Nhật Bản Nagoya Grampus v.  Mông Cổ, 30 tháng 3 năm 2021
TV Esaka Ataru 31 tháng 5, 1992 (29 tuổi) 1 0 Nhật Bản Kashiwa Reysol v.  Mông Cổ, 30 tháng 3 năm 2021
TV Wakizaka Yasuto 11 tháng 6, 1995 (26 tuổi) 1 0 Nhật Bản Kawasaki Frontale v.  Mông Cổ, 30 tháng 3 năm 2021
TV Harakawa Riki 18 tháng 8, 1993 (28 tuổi) 0 0 Nhật Bản Cerezo Osaka v.  Hàn Quốc, 25 tháng 3 năm 2021 INJ
TV Okugawa Masaya 14 tháng 4, 1996 (25 tuổi) 0 0 Áo Red Bull Salzburg v.  Panama, 13 tháng 11 năm 2020 WD

Asano Takuma 10 tháng 11, 1994 (26 tuổi) 28 6 Đức VfL Bochum v.  Kyrgyzstan, 15 tháng 6 năm 2021
Suzuki Musashi 11 tháng 2, 1994 (27 tuổi) 9 1 Bỉ Beerschot v.  México, 17 tháng 11 năm 2020
Okazaki Shinji 16 tháng 4, 1986 (35 tuổi) 119 50 Tây Ban Nha Huesca v.  Cameroon, 9 tháng 10 năm 2020INJ
  • INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương.
  • PRE Đội hình sơ bộ.
  • RET Đã chia tay đội tuyển quốc gia.

Kỷ lục[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu dưới đây là các trận đấu mà Hiệp hội bóng đá Nhật Bản cho là chính thức.[19][20][21]

Tính tới ngày 7 tháng 9 năm 2021:

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên Thời gian Kết quả
Trận Thắng Hòa Thua % Thắng
Nhật Bản Nishida Masujiro 1923 2 0 0 2 0%
Nhật Bản Yamada Goro 1925 2 0 0 2 0%
trống 1925 2 1 0 1 50%
Nhật Bản Suzuki Shigeyoshi (lần 1) 1930 2 1 1 0 50%
Nhật Bản Takenokoshi Shigemaru (lần 1) 1934 3 1 0 2 33.33%
Nhật Bản Suzuki Shigeyoshi (lần 2) 1936 2 1 1 0 50%
Nhật Bản Takenokoshi Shigemaru (lần 2) 1940 1 1 0 0 100%
Nhật Bản Ninomiya Hirokazu 1951 3 1 1 1 33.33%
Nhật Bản Takenokoshi Shigemaru (lần 3) 1954–56 12 2 4 6 16.66%
Nhật Bản Kawamoto Taizo 1958 2 0 0 2 0%
Nhật Bản Takenokoshi Shigemaru (lần 4) 1958–59 12 4 2 6 33.33%
trống 1960 1 0 0 1 0%
Nhật Bản Takahashi Hidetoki 1961–1962 14 3 2 9 21.43%
Nhật Bản Naganuma Ken (lần 1) 1963–1969 31 18 7 6 58.06%
Nhật Bản Okano Shunichiro 1970–1971 19 11 2 6 57.90%
Nhật Bản Naganuma Ken (lần 2) 1972–1976 42 16 6 20 38.09%
Nhật Bản Ninomiya Hiroshi 1976–1978 27 6 6 15 22.22%
Nhật Bản Shimomura Yukio 1979–1980 14 8 4 2 57.14%
Nhật Bản Watanabe Masashi 1980 3 2 0 1 66.67%
Nhật Bản Kawabuchi Saburo 1980–1981 10 3 2 5 30%
Nhật Bản Mori Takaji 1981–1985 43 22 5 16 51.16%
Nhật Bản Ishii Yoshinobu 1986–1987 17 11 2 4 64.70%
Nhật Bản Yokoyama Kenzo 1988–1991 24 5 7 12 20.83%
Hà Lan Hans Ooft 1992–1993 27 16 7 4 59.25%
Brasil Paulo Roberto Falcão 1994 9 3 4 2 33.33%
Nhật Bản Kamo Shu 1994–1997 46 23 10 13 50%
Nhật Bản Okada Takeshi (lần 1) 1997–1998 15 5 4 6 33.33%
Pháp Philippe Troussier 1998–2002 50 23 16 11 46%
Brasil Zico 2002–2006 71 37 16 18 52.11%
Bosna và Hercegovina Ivica Osim 2006–2007 20 13 5 3 65%
Nhật Bản Okada Takeshi (lần 2) 2007–2010 50 26 13 11 52%
Nhật Bản Hara Hiromi (tạm quyền) 2010 2 2 0 0 100%
Ý Alberto Zaccheroni 2010–2014 55 30 12 13 54.54%
México Javier Aguirre 2014–2015 10 7 1 2 70%
Bosna và Hercegovina Vahid Halilhodžić 2015–2018 12 7 4 1 57.58%
Nhật Bản Nishino Akira 2018 7 2 1 4 28.57%
Nhật Bản Moriyasu Hajime 2018– 0 0 0 0 —%

Các giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

*Gồm cả các trận hòa trong vòng loại trực tiếp quyết định bằng sút luân lưu. Viền đỏ chỉ giải đấu là chủ nhà. Vàng, Bạc, Đồng lần lượt chỉ kết thúc ở vị trí thứ 1, 2 và 3. Chữ đậm chỉ thành tích tốt nhất.

FIFA World Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Nhật Bản đã bắt đầu liên tục tham dự vòng chung kết World Cup từ năm 1998 tại Pháp; trong đó có 3 lần lọt vào vòng 16 đội vào các năm là năm 2002, 2010 và 2018.

Thành tích tại VCK FIFA World Cup Thành tích tại Vòng loại
Chủ nhà/ Năm Kết quả Vị trí Tr T H B BT BB Tr T H B BT BB
1930 Không tham dự - - - - - -
1934 - - - - - -
1938 Bỏ cuộc 3 2 1 0 8 1
1950 Bỏ cuộc 38 30 4 4 35 12
1954 Không vượt qua vòng loại 2 0 1 1 3 7
1958 Không tham dự - - - - - -
1962 Không vượt qua vòng loại 2 0 0 2 1 4
1966 Không tham dự - - - - - -
1970 Không vượt qua vòng loại 4 0 2 2 4 8
1974 4 1 0 3 5 4
1978 4 0 1 3 0 5
1982 4 2 0 2 4 2
1986 8 5 1 2 15 5
1990 6 2 3 1 7 3
1994 13 9 3 1 35 6
Pháp 1998 Vòng bảng 31 3 0 0 3 1 4 15 9 5 1 51 12
Hàn QuốcNhật Bản 2002 Vòng 16 đội 9 4 2 1 1 5 3 - - - - - -
Đức 2006 Vòng bảng 28 3 0 1 2 2 7 12 11 0 1 25 5
Cộng hòa Nam Phi 2010 Vòng 16 đội 9 4 2 1 1 4 2 14 8 4 2 23 9
Brasil 2014 Vòng bảng 29 3 0 1 2 2 6 14 8 3 3 30 8
Nga 2018 Vòng 16 đội 15 4 1 1 2 6 7 18 13 3 2 44 7
Qatar 2022 đến CanadaHoa KỳMéxico 2026 Chưa xác định - - - - - -
Tổng cộng Vòng 16 đội 6/21 21 5 5 11 20 29 120 68 26 26 247 85

AFC Asian Cup[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản là đội bóng giàu thành tích nhất ở đấu trường châu lục Asian Cup với 4 lần vô địch cùng 1 lần Á quân.