Đội tuyển bóng đá quốc gia Turkmenistan
| Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội | |||
| Biệt danh | Ngựa ô | ||
|---|---|---|---|
| Hiệp hội | Liên đoàn bóng đá Turkmenistan | ||
| Liên đoàn châu lục | AFC (Châu Á) | ||
| Liên đoàn khu vực | CAFA (Trung Á) | ||
| Huấn luyện viên trưởng | Ante Miše | ||
| Đội trưởng | Arslanmyrat Amanow | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Arslanmyrat Amanow (44) | ||
| Ghi bàn nhiều nhất | Arslanmyrat Amanow (13) | ||
| Sân nhà | Sân vận động Ashgabat | ||
| Mã FIFA | TKM | ||
| |||
| Hạng FIFA | |||
| Hiện tại | 138 | ||
| Cao nhất | 86 (4.2004) | ||
| Thấp nhất | 174 (9.2007) | ||
| Hạng Elo | |||
| Hiện tại | 148 | ||
| Cao nhất | 81 (31.3.2004) | ||
| Thấp nhất | 154 (27.3.2018) | ||
| Trận quốc tế đầu tiên | |||
(Almaty, Kazakhstan; 1 tháng 6 năm 1992) | |||
| Trận thắng đậm nhất | |||
(Ashgabat, Turkmenistan; 19 tháng 11 năm 2003) | |||
| Trận thua đậm nhất | |||
(Dushanbe; Tajikistan; 22 tháng 6 năm 1997) (Thành phố Kuwait, Kuwait; 10 tháng 2 năm 2000) (Doha, Qatar; 31 tháng 5 năm 2004) (Riffa, Bahrain; 3 tháng 8 năm 2005) (Goyang, Hàn Quốc; 5 tháng 6 năm 2021) (Tehran, Iran; 21 tháng 3 năm 2024) | |||
| Sồ lần tham dự | (Lần đầu vào năm -) | ||
| Kết quả tốt nhất | - | ||
| Cúp bóng đá châu Á | |||
| Sồ lần tham dự | 2 (Lần đầu vào năm 2004) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vòng 1 (2004 và 2019) | ||
Đội tuyển bóng đá quốc gia Turkmenistan (tiếng Turkmen: Türkmenistanyň milli futbol ýygyndysy) là đội tuyển đại diện cho Turkmenistan trong các trận đấu bóng đá nam quốc tế. Đội do Liên đoàn Bóng đá Turkmenistan – cơ quan quản lý bóng đá tại quốc gia này – điều hành. Sân nhà của Turkmenistan là sân vận động Köpetdag, và huấn luyện viên trưởng hiện tại là Mergen Orazow. Đội tuyển trực thuộc FIFA và Liên đoàn Bóng đá châu Á (AFC).
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Turkmenistan là trận gặp đội tuyển Kazakhstan vào năm 1992. Đội đã hai lần tham dự Cúp bóng đá châu Á là các vào năm 2004 và 2019, tuy nhiên đều không vượt qua được vòng bảng. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là 2 ngôi vị á quân của Challenge Cup giành được vào các năm 2010 và 2012.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]Sau khi Turkmenistan giành độc lập, đội tuyển đã thi đấu trận đầu tiên với Kazakhstan vào ngày 1 tháng 6 năm 1992, và gặp Uzbekistan – một quốc gia láng giềng Trung Á – vào ngày 28 tháng 6 cùng năm.
Những năm 2000
[sửa | sửa mã nguồn]
Turkmenistan giành quyền tham dự Asian Cup 2004 sau khi vượt qua vòng loại, nằm ở bảng G cùng Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Syria và Sri Lanka. Mùa thu năm 2003, tại lượt đi vòng loại World Cup 2006, Turkmenistan gây ấn tượng mạnh khi đánh bại Afghanistan 11–0 trên sân Ashgabat. Ở trận này, Begench Kuliyev và Rejepmyrat Agabaýew cùng lập hat-trick, Guvanchmuhammet Ovekov ghi cú đúp, còn Nazar Bayramov, Omar Berdiyev và Didarklych Urazov cũng ghi tên mình lên bảng tỷ số. Ở trận lượt về, Turkmenistan tiếp tục thắng 2–0, cả hai bàn đều do Begench Kuliyev ghi. Tháng 12 năm 2003, nhờ thành tích ở vòng loại Asian Cup 2004 và World Cup 2006, đội tuyển Turkmenistan lần đầu tiên lọt vào Top 100 trên BXH FIFA, đạt vị trí thứ 99 – cột mốc lịch sử của bóng đá nước này. Tại Asian Cup 2004 diễn ra ở Trung Quốc, Turkmenistan rơi vào bảng C cùng các đối thủ Uzbekistan, Ả Rập Xê Út và Iraq. Đội bị loại ngay vòng bảng sau hai thất bại và một trận hòa trước Ả Rập Xê Út.
Những năm 2010
[sửa | sửa mã nguồn]Tháng 2 năm 2010, đội tuyển quốc gia Turkmenistan được dẫn dắt bởi Ýazguly Hojageldyýew, HLV của CLB HTTU Aşgabat.[3] Dưới sự chỉ đạo của ông, đội sang Sri Lanka tham dự AFC Challenge Cup 2010. Lần đầu tiên trong lịch sử, Turkmenistan lọt vào trận chung kết, nhưng lại để thua trước Triều Tiên trên loạt sút luân lưu. Cũng trong năm đó, Liên đoàn Bóng đá Turkmenistan đã gửi lời mời HLV gốc Turkmen Kurban Berdyev – người đang dẫn dắt FC Rubin Kazan – về tiếp quản đội tuyển.[4][5] Tháng 3 năm 2011, Turkmenistan vượt qua vòng loại để góp mặt ở vòng chung kết AFC Challenge Cup 2012, sau khi đánh bại Pakistan, Đài Loan và hòa Ấn Độ tại Kuala Lumpur. Mùa hè năm 2011, trong khuôn khổ vòng loại World Cup 2014, đội đối đầu Indonesia ở vòng hai. Sau trận hòa 1–1 tại Ashgabat, Turkmenistan thất bại 3–4 ở lượt về và thua chung cuộc 4–5, qua đó bị loại.
Mùa đông năm 2012, đội tập huấn tại Thổ Nhĩ Kỳ để chuẩn bị cho AFC Challenge Cup 2012, trong đó có trận giao hữu thua Romania 0–4. Tháng 3 năm 2012, Turkmenistan tới Kathmandu dự vòng chung kết AFC Challenge Cup 2012. Đội thắng Nepal 3–0, Maldives 3–1, và hòa Palestine 0–0 ở vòng bảng. Ở bán kết, Turkmenistan vượt qua Philippines 2–1 nhưng tiếp tục để thua Triều Tiên 1–2 trong trận chung kết, lặp lại kịch bản năm 2010. Tháng 10 năm 2012, Turkmenistan được mời tham dự Cúp VFF 2012 tại TP. Hồ Chí Minh, giành ngôi á quân sau khi thắng Việt Nam và Lào, nhưng thua đội tuyển sinh viên Hàn Quốc 0–4 ở trận cuối.
Ngày 23 tháng 3 năm 2013, Turkmenistan đánh bại Campuchia 7–0 tại Manila tại vòng loại AFC Challenge Cup 2014. Ở vòng tiếp theo, đội được xử thắng 3–0 trước Brunei do đối thủ bỏ cuộc.[6] Ở trận cuối, Turkmenistan thua Philippines 0–1 nhưng vẫn giành quyền vào vòng chung kết nhờ thành tích đội nhì bảng tốt nhất cùng Lào.[7] Tháng 1 năm 2014, Rahym Kurbanmämmedow trở lại dẫn dắt đội tuyển. Sau ba đợt tập huấn trong tháng 5, Turkmenistan tham dự AFC Challenge Cup 2014, nhưng bị loại ngay từ vòng bảng, đồng nghĩa với việc mất cơ hội dự Asian Cup 2015..[8][9][10] Đến tháng 6 năm 2014, sau màn trình diễn thất vọng, toàn bộ ban huấn luyện, bao gồm HLV trưởng, đều bị sa thải.[11]

Mùa xuân năm 2015, Amangylyç Koçumow được bổ nhiệm làm HLV trưởng để chuẩn bị cho vòng loại World Cup 2018. Khởi đầu của đội rất tệ khi thua Guam – một trong những đội yếu nhất châu Á – 0–1. Ngày 16 tháng 6 năm 2015, lần đầu tiên trong lịch sử, Turkmenistan thi đấu một trận ngoài Ashgabat, trên sân Spot toplumy tại Dashoguz trước 10.000 khán giả, và hòa Iran 1–1. Sau đó, đội thua Oman 1–3. Trong các trận sân nhà diễn ra tại sân Köpetdag tháng 10 năm 2016, Turkmenistan thắng Ấn Độ 2–1 và Guam 1–0. Tháng 11, đội đá giao hữu với UAE và thua 1–5, rồi tiếp tục thất bại 1–3 trước Iran ở vòng loại. Ngày 17 tháng 11 năm 2016, Turkmenistan gây bất ngờ khi đánh bại Oman 2–1 trên sân nhà. Ở giai đoạn cuối, đội tiếp tục thắng Ấn Độ 2–1. Chung cuộc, Turkmenistan đứng thứ ba bảng D, không đủ điều kiện đi tiếp vòng loại World Cup 2018, nhưng vẫn giành quyền đá vòng loại Asian Cup 2019.

Trở lại Asian Cup
[sửa | sửa mã nguồn]Turkmenistan cuối cùng đã giành quyền tham dự Asian Cup 2019 – lần thứ hai trong lịch sử, sau khi kết thúc vòng loại ở vị trí nhì bảng sau Bahrain. Tại vòng chung kết, Turkmenistan nằm chung bảng với Nhật Bản, láng giềng Uzbekistan và Oman. Ở trận ra quân, Turkmenistan chơi khá ấn tượng trước “ông lớn châu Á” Nhật Bản, thậm chí còn vươn lên dẫn trước cho đến cuối hiệp một, nhưng cuối cùng vẫn thất bại với tỷ số 2–3. Trận kế tiếp gặp Uzbekistan lại trở thành “thảm họa”, khi Turkmenistan lựa chọn lối chơi đôi công với đối thủ giàu kinh nghiệm hơn, dẫn đến thất bại nặng nề 0–4, cả bốn bàn thua đều đến trong hiệp một. Trận cuối cùng gặp Oman, Turkmenistan đã nỗ lực chống trả, song vẫn thua 1–3 với hai bàn quyết định của Oman được ghi ở những phút cuối trận. Kết thúc vòng bảng, Turkmenistan bị loại mà không giành nổi điểm nào. Sau giải đấu, HLV Ýazguly Hojageldyýew đã từ chức. Tháng 3 năm 2019, Liên đoàn Bóng đá Turkmenistan bổ nhiệm HLV người Croatia Ante Miše dẫn dắt đội tuyển theo bản hợp đồng có thời hạn một năm.[12] Một chuyên gia Croatia khác, Sandro Tomić, cũng được mời tham gia ban huấn luyện để hỗ trợ phát triển bóng đá Turkmenistan nói chung chứ không chỉ riêng đội tuyển quốc gia. Trận đấu đầu tiên của Ante Miše sau 3 tháng là trận giao hữu hòa 0–0 với Uganda.[13]
Tại vòng loại Asian Cup 2023, Turkmenistan nằm chung bảng với chủ nhà Malaysia, Bahrain và Bangladesh. Họ để thua Malaysia (1–3), Bahrain (0–1), dù thắng Bangladesh (2–1) nhưng vẫn không thể giành vé dự vòng chung kết. Năm 2023, Turkmenistan tham dự kỳ CAFA Nations Cup đầu tiên, được tổ chức tại Kyrgyzstan và Uzbekistan. Đến tháng 11 cùng năm, trong khuôn khổ vòng loại World Cup 2026 và Asian Cup 2027, Turkmenistan để thua Uzbekistan 1–3 và hòa Hồng Kông 2–2.
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Thành tích tại các giải đấu
[sửa | sửa mã nguồn]Giải vô địch bóng đá thế giới
[sửa | sửa mã nguồn]| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB | ST | T | H | B | BT | BB | ||
| Một phần của |
Một phần của | |||||||||||||||
| Không phải thành viên FIFA | Không phải thành viên FIFA | |||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 6 | 2 | 0 | 4 | 8 | 13 | ||||||||||
| 6 | 4 | 0 | 2 | 12 | 7 | |||||||||||
| 8 | 4 | 1 | 3 | 21 | 10 | |||||||||||
| 10 | 3 | 2 | 5 | 9 | 13 | |||||||||||
| 2 | 0 | 1 | 1 | 4 | 5 | |||||||||||
| 8 | 4 | 1 | 3 | 10 | 11 | |||||||||||
| 6 | 3 | 0 | 3 | 8 | 11 | |||||||||||
| 6 | 0 | 2 | 4 | 4 | 14 | |||||||||||
| Chưa xác định | Chưa xác định | |||||||||||||||
| Tổng | – | 0/8 | – | – | – | – | – | – | 52 | 20 | 7 | 25 | 76 | 84 | ||
Cúp bóng đá châu Á
[sửa | sửa mã nguồn]| Vòng chung kết | Vòng loại | |||||||||||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | Hạng | ST | T | H | B | BT | BB | ST | T | H | B | BT | BB | ||
| Một phần của |
Một phần của | |||||||||||||||
| Không phải thành viên AFC | Không phải thành viên AFC | |||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | 4 | 0 | 1 | 3 | 3 | 8 | ||||||||||
| 4 | 3 | 0 | 1 | 15 | 6 | |||||||||||
| Vòng 1 | 12th | 3 | 0 | 1 | 2 | 4 | 6 | 6 | 4 | 2 | 0 | 10 | 2 | |||
| Không tham dự | Không tham dự | |||||||||||||||
| Không vượt qua vòng loại | AFC Challenge Cup | |||||||||||||||
| Vòng bảng | 21st | 3 | 0 | 0 | 3 | 3 | 10 | 14 | 7 | 2 | 5 | 19 | 21 | |||
| Không vượt qua vòng loại | 9 | 4 | 0 | 5 | 11 | 16 | ||||||||||
| Chưa xác định | Chưa xác định | |||||||||||||||
| Tổng | Vòng bảng | 2/18 | 6 | 0 | 1 | 5 | 7 | 16 | 37 | 18 | 5 | 14 | 58 | 53 | ||
- Giải AFC Challenge Cup 2010 được sử dụng như một vòng loại để xác định suất tham dự Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2011.
Cúp AFC Challenge
[sửa | sửa mã nguồn]| AFC Challenge Cup | |||||||
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Năm | Kết quả | ST | T | H | B | BT | BB |
| Không tham gia | |||||||
| Vòng bảng | 3 | 1 | 1 | 1 | 6 | 2 | |
| Á quân | 5 | 3 | 2 | 0 | 6 | 2 | |
| Á quân | 5 | 3 | 1 | 1 | 9 | 4 | |
| Vòng bảng | 3 | 1 | 0 | 2 | 6 | 6 | |
| Tổng | Á quân | 16 | 8 | 4 | 4 | 27 | 14 |
Đại hội Thể thao châu Á
[sửa | sửa mã nguồn]- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
| Chủ nhà/Năm | Thành tích | ST | T | H | B | BT | BB |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1951 đến 1990 | Không tham dự, là một phần của Liên Xô | ||||||
| Tứ kết | 5 | 1 | 3 | 1 | 7 | 9 | |
| 6 | 3 | 2 | 1 | 10 | 9 | ||
| Tổng cộng | 2 lần tứ kết | 11 | 4 | 5 | 2 | 17 | 18 |
Cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn]Đội hình hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]Các cầu thủ dưới đây đã được triệu tập cho trận đấu thuộc vòng loại Asian Cup 2027 gặp Thái Lan vào tháng 6 năm 2025.[14]
Số lần ra sân và bàn thắng được tính đến ngày 10 tháng 6 năm 2025, sau trận đấu với Thái Lan.
| Số | VT | Cầu thủ | Ngày sinh (tuổi) | Trận | Bàn | Câu lạc bộ |
|---|---|---|---|---|---|---|
| 1 | TM | Rasul Çaryýew | 30 tháng 9, 1999 | 8 | 0 | |
| 17 | TM | Rüstem Ahallyýew | 16 tháng 11, 2002 | 4 | 0 | |
| 20 | TM | Kakageldi Berdiýew | 24 tháng 2, 2004 | 0 | 0 | |
| 2 | HV | Zafar Babajanow | 9 tháng 2, 1987 | 12 | 1 | |
| 3 | HV | Güýçmyrat Annagulyýew | 10 tháng 6, 1996 | 21 | 2 | |
| 4 | HV | Mekan Saparow (captain) | 22 tháng 4, 1994 | 34 | 2 | |
| 5 | HV | Abdy Bäşimow | 12 tháng 12, 1995 | 20 | 1 | |
| 12 | HV | Ybraýym Mämmedow | 13 tháng 1, 1996 | 8 | 0 | |
| 21 | HV | Yhlas Saparmämmedow | 25 tháng 2, 1997 | 9 | 1 | |
| 23 | HV | Arzuwguly Sapargulýyew | 27 tháng 7, 2001 | 1 | 0 | |
| 7 | TV | Ahmet Ataýew | 19 tháng 9, 1990 | 37 | 1 | |
| 16 | TV | Teýmur Çaryýew | 26 tháng 11, 2000 | 10 | 1 | |
| 18 | TV | Mirza Beknazarow | 15 tháng 5, 2000 | 7 | 0 | |
| 19 | TV | Welmyrat Ballakow | 4 tháng 4, 1999 | 11 | 0 | |
| 6 | TĐ | Meýlis Diniýew | 11 tháng 7, 2000 | 3 | 0 | |
| 8 | TĐ | Ýazgylyç Gurbanow | 7 tháng 3, 1997 | 7 | 1 | |
| 9 | TĐ | Altymyrat Annadurdyýew | 13 tháng 4, 1993 | 35 | 9 | |
| 10 | TĐ | Elman Tagaýew | 2 tháng 6, 1989 | 19 | 3 | |
| 11 | TĐ | Didar Durdyýew | 16 tháng 7, 1993 | 21 | 3 | |
| 13 | TĐ | Mihail Titow | 18 tháng 10, 1997 | 10 | 2 | |
| 14 | TV | Şanazar Tirkişow | 16 tháng 2, 1997 | 12 | 2 | |
| 15 | TV | Daýanç Meredow | 15 tháng 2, 2003 | 2 | 0 | |
| 22 | TĐ | Rahman Myratberdiýew | 31 tháng 10, 2001 | 3 | 0 | |
Huẩn luyện viên
[sửa | sửa mã nguồn]Ban huấn luyện hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]| Vị trí | Tên |
|---|---|
| Head coach | |
| Goalkeeper coaches | |
| Assistant coaches | |
| Assistant coaches | |
| Assistant coaches |
Huấn luyện viên trong lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]
Baýram Durdyýew (1992–1996)
Elguja Gugushvili (1996–1997)
Täçmyrat Agamyradow (1997–1998)
Viktor Pozhechevskyi (1998–1999)
Gurban Berdyýew (1999)
Röwşen Muhadow (1999–2000)
Täçmyrat Agamyradow (2000–2001)
Volodymyr Bezsonov (2002–2003)
Rahym Gurbanmämmedow (2003–2004)
Boris Grigorýanc (2005)
Amangylyç Goçumow (2005–2006)
Rahym Gurbanmämmedow (2007–2009)
Boris Grigorýanc (2009–2010)
Ýazguly Hojageldyýew (2010–2014)
Rahym Gurbanmämmedow (2014)
Amangylyç Koçumow (2015–2016)
Ýazguly Hojageldyýew (2017–2019)
Ante Miše (2019–2020)
Röwşen Muhadow (2021)
Ýazguly Hojageldyýew (2021)
Said Seýidow (2022[15][16]–present)
Thành tích đối đầu
[sửa | sửa mã nguồn]Danh sách dưới đây trình bày thành tích đối đầu quốc tế mọi thời đại của đội tuyển bóng đá quốc gia Turkmenistan trước các đối thủ.
- Tính đến 11 tháng 6 năm 2024
| Đội tuyển | ST | T | H | B | BT | BB | HS | Liên đoàn |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 5 | 4 | 0 | 1 | 21 | 3 | +18 | AFC | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 1 | -1 | UEFA | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 2 | 3 | -1 | UEFA | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 1 | +1 | AFC | |
| 6 | 0 | 2 | 4 | 4 | 15 | -11 | AFC | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 15 | 0 | +15 | AFC | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 | +3 | AFC | |
| 3 | 3 | 0 | 0 | 12 | 1 | +11 | AFC | |
| 4 | 0 | 1 | 3 | 3 | 10 | -7 | AFC | |
| 5 | 5 | 0 | 0 | 13 | 2 | +11 | AFC | |
| 1 | 0 | 1 | 0 | 1 | 1 | 0 | UEFA | |
| 2 | 1 | 0 | 1 | 1 | 1 | 0 | AFC | |
| 4 | 1 | 3 | 0 | 5 | 2 | +3 | AFC | |
| 5 | 3 | 1 | 1 | 9 | 7 | 0 | AFC | |
| 5 | 1 | 1 | 3 | 8 | 11 | -3 | AFC | |
| 10 | 2 | 3 | 6 | 9 | 19 | -10 | AFC | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 2 | 6 | -4 | AFC | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 2 | 3 | -1 | AFC | |
| 4 | 2 | 0 | 2 | 4 | 5 | -1 | AFC | |
| 2 | 0 | 1 | 1 | 0 | 2 | –2 | UEFA / AFC | |
| 7 | 1 | 4 | 2 | 7 | 6 | +1 | AFC | |
| 5 | 1 | 0 | 4 | 4 | 16 | -12 | AFC | |
| 5 | 0 | 2 | 3 | 4 | 13 | -9 | AFC | |
| 3 | 2 | 0 | 1 | 6 | 2 | +4 | AFC | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 9 | 3 | +6 | AFC | |
| 4 | 1 | 0 | 3 | 5 | 8 | -3 | AFC | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 1 | 2 | -1 | UEFA | |
| 2 | 0 | 0 | 2 | 1 | 4 | -3 | AFC | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 6 | 2 | +4 | AFC | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 2 | 1 | +1 | AFC | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 8 | 0 | +8 | AFC | |
| 6 | 1 | 0 | 5 | 5 | 11 | -6 | AFC | |
| 1 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | AFC | |
| 1 | 1 | 0 | 0 | 3 | 0 | +3 | AFC | |
| 4 | 2 | 0 | 2 | 7 | 4 | +3 | AFC | |
| 3 | 0 | 0 | 3 | 1 | 8 | -7 | AFC | |
| 1 | 0 | 0 | 1 | 0 | 4 | -4 | UEFA | |
| 4 | 0 | 1 | 3 | 2 | 7 | -5 | AFC | |
| 3 | 1 | 1 | 1 | 5 | 6 | -1 | AFC | |
| 6 | 5 | 1 | 0 | 12 | 2 | +10 | AFC | |
| 2 | 0 | 1 | 1 | 2 | 6 | -4 | AFC | |
| 7 | 2 | 2 | 3 | 6 | 11 | -5 | AFC | |
| 3 | 1 | 1 | 1 | 6 | 5 | +1 | AFC | |
| 4 | 1 | 1 | 2 | 4 | 9 | -5 | AFC | |
| 1 | 0 | 1 | 0 | 0 | 0 | 0 | AFC | |
| 11 | 0 | 0 | 11 | 5 | 30 | -25 | AFC | |
| 6 | 5 | 0 | 1 | 12 | 4 | +8 | AFC | |
| 3 | 3 | 0 | 0 | 7 | 1 | +6 | AFC | |
| Tổng | 138 | 53 | 26 | 59 | 215 | 216 | –1 |
^a Đội tuyển Turkmenistan dự kiến sẽ đối đầu với Brunei tại vòng loại AFC Challenge Cup 2014. Tuy nhiên, do Brunei rút lui khỏi giải đấu, Turkmenistan được xử thắng với tỷ số 3–0 cho trận đấu này.
Các cầu thủ nổi tiếng
[sửa | sửa mã nguồn]- Khakha Gogoladze
- Rakhim Kurbanmamedov
- Redjep Murad Agabaev
- Valeri Gulyan
- Aleksandr Ignatov
- Guvanchmuhamed Ovekov
- Begench Kuliyev
- Kurbangeldi Durdiyev
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 18 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
- ^ Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- ^ "Главным тренером сборной Туркменистана по футболу назначен Язкули Ходжагельдыев – Интернет-газета Turkmenistan.Ru". www.turkmenistan.ru. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ "Курбан Бердыев проконсультирует туркменскую сборную". www.tatcenter.ru. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ "Бердыев проконсультирует сборную Туркменистана". www.championat.com. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ "Государственное информационное агентство Туркменистана – TDH". tdh.gov.tm. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ "AFC CHALLENGE CUP 2014". the-afc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ "AFC Challenge Cup: Philippines 2–0 Turkmenistan – AFC". www.the-afc.com. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ "AFC Challenge Cup: Afghanistan 3–1 Turkmenistan – AFC". www.the-afc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ "AFC Challenge Cup: Turkmenistan 5–1 Laos – AFC". www.the-afc.com. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ ihyzmatlary.com. "Не имеющая 8 месяцев главного тренера сборная Туркменистана скоро узнает соперников в квалификации ЧМ-2018 – Спорт". turkmenportal.com. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 23 tháng 5 năm 2017.
- ^ Анте Мише: «Я не Гарри Поттер, чтобы сборная Туркменистана сразу заиграла на высоком уровне» Lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2019 tại Wayback Machine at turkmenportal.com, 28 March 2019
- ^ "Сборные Туркменистана и Уганды сыграли вничью в товарищеском матче | Спорт". Туркменистан, интернет портал о культурной, деловой и развлекательной жизни в Туркменистане. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 9 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2019.
- ^ "Final Squad".
- ^ "TFF". Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2024.
- ^ "Саид Сеидов назначен главным тренером сборной Туркменистана по футболу Спорт". Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2024.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Đội tuyển bóng đá quốc gia Turkmenistan Lưu trữ ngày 3 tháng 6 năm 2008 tại Wayback Machine trên trang chủ của FIFA
- Đội tuyển bóng đá quốc gia Turkmenistan trên Facebook