Giải bóng đá vô địch châu Âu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải bóng đá vô địch châu Âu
Thành lập 1960
Khu vực (UEFA)
Số đội 24 (Vòng chung kết)
55 (Vòng loại)
Các cuộc thi liên quan Cúp Liên đoàn các châu lục
Đương kim vô địch hiện tại  Bồ Đào Nha
(lần thứ nhất)
Đội tuyển thành công nhất  Đức
 Tây Ban Nha
(cùng 3 lần)
Trang chủ Trang chủ
Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020

Giải bóng đá vô địch châu Âu (tên thường gọi: UEFA EURO) là giải bóng đá chính thức được tổ chức 4 năm một lần giữa các đội tuyển bóng đá châu Âu do Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) tổ chức. Người đầu tiên nêu ý tưởng thành lập giải đấu này là Tổng thư ký Liên đoàn bóng đá Pháp (FFF) Henri Delauney. Giải đầu tiên diễn ra tại Pháp năm 1960 và nhà vô địch đầu tiên là Liên Xô. Tính đến nay, ĐứcTây Ban Nha là 2 quốc gia đoạt chức vô địch nhiều lần nhất, cùng 3 lần đăng quang.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Ý tưởng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu được tổng thư ký Liên đoàn bóng đá Pháp Henri Delaunay đề xuất từ năm 1927 nhưng mãi đến năm 1958 (3 năm sau khi Henri Delaunay qua đời) giải đấu mới được tổ chức. Chiếc cúp vô địch được đặt tên Henri Delaunay để tưởng nhớ đến công lao khai sinh giải đấu của ông.

Euro 1960 tại Pháp là giải vô địch bóng đá châu Âu đầu tiên được UEFA tổ chức. Đội vô địch là Liên Xô, sau khi đánh bại Nam Tư 2–1 trong trận chung kết tại Paris. Giải đấu được tổ chức theo hình thức loại trực tiếp với 17 đội tham dự. Có nhiều sự vắng mặt đáng chú ý khi các đội mạnh như Tây Đức, Ý hay Anh từ chối tham dự giải. Các đội đá 2 lượt đi và về theo thể thức sân nhà-sân khách cho tới vòng bán kết. 4 đội mạnh nhất sẽ tham dự vòng chung kết được tổ chức ở một trong 4 nước giành quyền vào bán kết. Ở tứ kết, Tây Ban Nha từ chối đến Liên Xô và rút khỏi giải đấu, vì vậy lọt vào bán kết có 3 đại diện Đông Âu: Liên Xô, Nam Tư và Tiệp Khắc, cùng đội chủ nhà Pháp. Ở bán kết, Liên Xô dễ dàng vượt qua Tiệp Khắc tại Marseille với tỉ số 3–0. Trận bán kết còn lại có tới 9 bàn thắng và kết thúc với tỉ số 5–4 nghiêng về Nam Tư. Nam Tư đã 2 lần bị đối phương dẫn trước với khoảng cách 2 bàn, nhưng đã lật ngược tình thế thành công. Tiệp Khắc đánh bại Pháp 2–0 để giành vị trí thứ 3. Trong trận chung kết, Nam Tư ghi bàn trước, nhưng Liên Xô, có trong đội hình thủ môn huyền thoại Lev Yashin, gỡ hòa ở phút 49. Sau 90 phút, tỷ số là 1–1 và Viktor Ponedelnik ghi bàn khi hiệp phụ thứ 2 còn 7 phút nữa là kết thúc, để mang chiếc cúp vô địch châu Âu đầu tiên về cho Liên Xô.

Euro 1964 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 2 do UEFA tổ chức theo chu kỳ 4 năm một lần. Vòng chung kết diễn ra tại Tây Ban Nha và chức vô địch sau đó đã thuộc về nước chủ nhà sau khi họ vượt qua đương kim vô địch Liên Xô 2–1 trong trận chung kết. Giải đấu lần này vẫn theo thể thức loại trực tiếp như giải lần đầu tiên với 29 đội bóng tham dự. Chỉ có Hy Lạp bỏ cuộc sau trận hòa với Albania. Do số đội lẻ nên đương kim vô địch Liên Xô cùng 2 đội ÁoLuxembourg qua bốc thăm không phải tham dự vòng loại đầu tiên. Các cặp đấu tiến hành đấu loại trực tiếp theo thể thức sân nhà – sân khách cho tới bán kết. Bốn đội cuối cùng sẽ thi đấu vòng chung kết được tổ chức tại một trong bốn nước có đội bóng tham dự. Ở giải này, Luxembourg trở thành khắc tinh của các đội bóng lớn khi hạ Hà Lan 3-2 sau hai lượt, và thủ hòa với Đan Mạch 3–3 và 2–2, trước khi thất bại 0–1 ở trận tái đấu. Đan Mạch gây bất ngờ nhất khi lọt vào tới vòng chung kết, cùng với Liên Xô, Tây Ban Nha và Hungary. Tại bán kết, Liên Xô đánh bại Đan Mạch 3–0 tại Barcelona và Tây Ban Nha hạ Hungary 2-1 sau 2 hiệp phụ ở Madrid với bàn thắng quyết định của Amancio. Tây Ban Nha đã bỏ cuộc khỏi giải đấu trước năm 1960 khi từ chối thi đấu với Liên Xô, nhưng lần này nhà độc tài Franco đã cho phép đội nhà thi đấu với những người Xô viết. Trước hơn 79.000 khán giả tại sân Santiago Bernabéu ở Madrid, chủ nhà thắng 2–1 nhờ bàn thắng muộn của Marcelino.

Euro 1968 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 3 diễn ra tại Ý từ ngày 5 cho đến 10 tháng 6 năm 1968. So với các giải đấu trước, vòng loại kỳ Euro lần này có thay đổi khi lần đầu tiên áp dụng thể thức các đội được chia bảng, đấu vòng tròn tính điểm. Đây cũng là kỳ Euro duy nhất có 2 trận chung kết. Đội tuyển chủ nhà Ý phải đợi đến trận đấu lại mới vượt qua được Nam Tư để giành chức vô địch châu Âu đầu tiên trong lịch sử của mình. Đây cũng là lần thứ 2 đội bóng vùng Balkan thất bại trong trận đấu cuối cùng của giải, sau chức á quân giành được vào năm 1960.

Euro 1972 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 4 diễn ra tại Bỉ từ ngày 14 cho đến ngày 18 tháng 6, 1972. Tại giải, đội tuyển Tây Đức giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Với việc giành thêm chức vô địch thế giới 2 năm sau đó tại World Cup 1974, đội Tây Đức trở thành tuyển quốc gia đầu tiên đồng thời giữ hai danh hiệu Đương kim vô địch châu Âu và vô địch thế giới.

Euro 1976 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 5 diễn ra tại Nam Tư, từ ngày 16 cho đến ngày 20 tháng 6 năm 1976. Tại giải, đội tuyển Tiệp Khắc giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Đây là giải đấu cuối cùng, vòng chung kết chỉ quy tụ 4 đội bóng và nước chủ nhà đăng cai vòng chung kết phải thi đấu vòng loại. Kể từ giải lần sau, vòng chung kết sẽ được mở rộng cho 8 đội tham gia, bao gồm 7 đội vượt qua vòng loại và quốc gia được chọn đăng cai vòng chung kết. Một điều đáng lưu ý nữa ở giải là tất cả các trận đấu đều buộc phải thi đấu hiệp phụ để phân định thắng thua. Trận chung kết giữa Tiệp Khắc và Tây Đức là trận đấu đầu tiên trong lịch sử bóng đá quốc tế có áp dụng hình thức sút penalty sau 2 hiệp phụ để phân thắng bại.

Euro 1980 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 6 diễn ra tại Ý từ ngày 11 cho đến ngày 22 tháng 6 năm 1980. Tại giải, đội tuyển Tây Đức giành chức vô địch châu Âu thứ hai của mình, và trở thành đội đầu tiên hai lần vô địch giải.

Euro 1984 là Giải vô địch quốc gia châu Âu lần thứ 7 diễn ra từ ngày 12 đến 27/6 năm 1984 tại Pháp. Vào thời điểm này, chỉ có 8 đội tham dự VCK, bao gồm 7 đội phải vượt qua vòng loại và nước chủ nhà. Dưới sự dẫn dắt của Michel Platini, Pháp đã xuất sắc giành chức vô địch trên sân nhà và đây cũng là danh hiệu lớn đầu tiên của họ.

Euro 1988 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ tám diễn ra tại Tây Đức từ ngày mùng 10 cho đến ngày 25 tháng 6 năm 1988. Tại giải, đội tuyển Hà Lan dưới sự dẫn dắt của bộ ba người "Hà Lan bay" (Marco van Basten, Ruud GullitFrank Rijkaard) giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình.

Euro 1992 được tổ chức ở Thụy Điển từ ngày 10 đến 26 tháng 6 năm 1992. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 9, được tổ chức bởi UEFA. Đan Mạch, đội đến Thụy Điển để thay thế cho Nam Tư (đã vượt qua vòng loại nhưng không tham gia được do có nội chiến xảy ra), đã tạo ra bất ngờ lớn khi giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình. Một đội tuyển khác "chính thức" không thi đấu vòng loại mà vẫn có mặt tại vòng chung kết Euro 1992 là đội tuyển SNG (tên tắt của Cộng đồng các Quốc gia Độc lập mới được tách ra từ Liên Xô). Năm 1991 Liên Xô tan vỡ và bị tách thành 15 nước độc lập, SNG được thành lập từ 12 nước trong 15 nước đó gồm Nga, Ukraina, Belarus, Azerbaijan, Gruzia, Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Kyrgyzstan, Armenia, Moldova and Tajikistan. Đội Liên Xô đã vượt qua vòng loại được thay thế bằng tuyển SNG. Tại Euro 1992 có một điều đáng chú ý nữa là lần đầu tiên tại một vòng chung kết một giải đấu bóng đá lớn, tên riêng của mỗi cầu thủ được in sau lưng áo đấu của mình.

Euro 1996 được tổ chức ở Anh từ ngày mùng 8 đến ngày 30 tháng 6 năm 1996. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 10, được tổ chức bởi UEFA. Đức trở thành đội đầu tiên ba lần đoạt chức vô địch châu Âu khi giành ngôi quán quân của giải. Đây là kỳ Euro đầu tiên có 16 đội tham dự vòng chung kết. UEFA đưa ra quyết định này khi ở trong thập kỷ 1980 và đầu thập kỷ 1990, đối với các đội bóng châu Âu, vượt qua vòng loại World Cup còn dễ hơn vượt qua vòng loại của giải vô địch châu lục mình; 14 trên tổng số 24 đội tham dự World Cup 1982, 19861990 là các đội bóng thuộc Cựu lục địa, trong khi vòng chung kết Euro vẫn giữ nguyên thể thức 8 đội.

Euro 2000 là giải vô địch bóng đá châu Âu thứ 11 được đồng tổ chức bởi Bỉ và Hà Lan (lần đầu tiên trong lịch sử Euro) từ 10 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 2000. Giải đấu có sự tham gia của 16 đội tuyển quốc gia. Trong đó trừ hai nước chủ nhà Bỉ và Hà Lan, 14 đội còn lại phải vượt qua được vòng loại để tới vòng chung kết. Pháp là đội vô địch giải đấu này, sau chiến thắng 2-1 trước Italia trong trận chung kết, bằng bàn thắng vàng.

Euro 2004 được tổ chức ở Bồ Đào Nha từ ngày 12 tháng 6 cho đến ngày mùng 4 tháng 7 năm 2004. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 12, được tổ chức bởi UEFA. Đội tuyển Hy Lạp gây bất ngờ lớn khi đoạt chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình, dù không được đánh giá cao trước khi giải diễn ra.

Euro 2008 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 13 do Liên đoàn bóng đá châu Âu (UEFA) tổ chức. Giải diễn ra trên các sân vận động của Áo và Thụy Sĩ từ ngày mùng 7 và kết thúc với trận chung kết trên sân vận động Ernst Happel Stadion vào ngày 29 tháng 6 năm 2008. Đây là lần thứ hai có hai quốc gia đồng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu. Lần trước vào năm 2000 do Bỉ và Hà Lan cùng đăng cai. Ở giải đấu này, Tây Ban Nha đã lần thứ hai vô địch Euro sau khi đánh bại Đức 1-0 ở trận chung kết nhờ pha lập công duy nhất của Fernando Torres.

Euro 2012 là giải vô địch bóng đá châu Âu thứ 14 và là lần thứ 3 được đăng cai tại 2 quốc gia là Ba LanUkraina. Giải bắt đầu từ ngày mùng 8 tháng 6 đến ngày mùng 2 tháng 7 năm 2012. Có tổng cộng 16 đội bóng tham dự chia thành 4 bảng A, B, C và D. Đây là giải đấu khẳng định sự thống trị của bóng đá Tây Ban Nha khi họ là đội bóng đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch Euro sau khi đánh bại Italia với tỷ số đậm 4–0 ở trận chung kết (đây là tỷ số đậm nhất trong một trận chung kết Euro). Qua đó kéo dài kỷ nguyên vinh quang khi họ có trong tay 3 chức vô địch của 3 giải đấu lớn liên tiếp là Euro 2008, World Cup 2010 và Euro 2012 (trong quá khứ đội tuyển Tây Đức cũng đã gần chạm đến kỷ lục này khi họ vô địch Euro 1972World Cup 1974 nhưng lại không bảo vệ được chức vô địch Euro 1976 dù đã vào tới trận chung kết).

Euro 2016 là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 15 và là lần thứ 3 tổ chức tại Pháp. Đây là giải đấu đầu tiên có sự góp mặt của 24 đội bóng tham dự. Kể từ giải đấu này có thêm vòng 16 đội cùng với 4 đội xếp thứ 3 có thành tích tốt nhất. Ở giải đấu này, đội tuyển Bồ Đào Nha đã giành chức vô địch Euro lần đầu tiên sau khi đánh bại chủ nhà Pháp 1-0 ở trận chung kết nhờ pha lập công duy nhất của Éder.

Các trận chung kết và tranh hạng ba[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Chủ nhà Chung kết Tranh hạng ba Số lượng các đội
Vô địch Tỉ số Á quân Hạng ba Tỉ số Hạng tư
1960
Chi tiết
 Pháp
Liên Xô
2–1 (h.p)(1)
Nam Tư

Tiệp Khắc
2–0
Pháp
4
1964
Chi tiết
 Tây Ban Nha
Tây Ban Nha
2–1
Liên Xô

Hungary
3–1 (h.p)(1)
Đan Mạch
4
1968
Chi tiết
 Ý
Ý
1–1 (h.p)
Play-off 2-0

Nam Tư

Anh
2–0
Liên Xô
4
1972
Chi tiết
 Bỉ
Tây Đức
3–0
Liên Xô

Bỉ
2–1
Hungary
4
1976
Chi tiết
 Nam Tư
Tiệp Khắc
2–2 (h.p)
(5–3) (11m)

Tây Đức

Hà Lan
3–2 (h.p)(1)
Nam Tư
4
1980
Chi tiết
 Ý
Tây Đức
2–1
Bỉ

Tiệp Khắc
1–1 (h.p)
(9–8) (11m)

Ý
8

Kể từ năm 1984, không có trận tranh hạng 3. Do đó, không có vị trí thứ 3 và vị trí thứ 4 được trao giải thưởng. Vòng bán kết được liệt kê theo thứ tự chữ cái.

Năm Chủ nhà Chung kết Hai đội thua ở bán kết Số
lượng
các
đội
Vô địch Tỉ số Á quân
1984
Chi tiết
 Pháp
Pháp
2–0
Tây Ban Nha
 Bồ Đào Nha Đan Mạch 8
1988
Chi tiết
 Tây Đức
Hà Lan
2–0
Liên Xô
 Tây Đức Ý 8
1992
Chi tiết
 Thụy Điển
Đan Mạch
2–0
Đức
 Hà Lan Thụy Điển 8
1996
Chi tiết
 Anh
Đức
2–1 (h.p) (2)
Cộng hòa Séc
 Anh Pháp 16
2000
Chi tiết
 Bỉ &
 Hà Lan

Pháp
2–1 (h.p) (2)
Ý
 Bồ Đào Nha Hà Lan 16
2004
Chi tiết
 Bồ Đào Nha
Hy Lạp
1–0
Bồ Đào Nha
 Hà Lan Cộng hòa Séc 16
2008
Chi tiết
 Áo &
 Thụy Sĩ

Tây Ban Nha
1–0
Đức
 Nga Thổ Nhĩ Kỳ 16
2012
Chi tiết
 Ba Lan &
 Ukraina

Tây Ban Nha
4–0
Ý
 Bồ Đào Nha Đức 16
2016
Chi tiết
 Pháp
Bồ Đào Nha
1–0 (h.p)(1)
Pháp
 Đức Wales 24
2020
Chi tiết
 Liên minh Châu Âu 24

(1) Trận đấu kết thúc sau 2 hiệp phụ.

(2) Trận đấu kết thúc theo luật bàn thắng vàng hay "cái chết bất ngờ".

Đội vô địch và á quân[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Vô địch Á quân
 Đức 3 (19721, 19801, 1996) 3 (19761, 1992, 2008)
 Tây Ban Nha 3 (1964*, 2008, 2012) 1 (1984)
 Pháp 2 (1984*, 2000) 1 (2016*)
 Liên Xô 1 (1960) 3 (1964, 1972, 1988)
 Ý 1 (1968*) 2 (2000, 2012)
 Cộng hòa Séc 1 (19762) 1 (1996)
 Bồ Đào Nha 1 (2016) 1 (2004*)
 Hà Lan 1 (1988)
 Đan Mạch 1 (1992)
 Hy Lạp 1 (2004)
 Nam Tư 2 (1960, 1968)
 Bỉ 1 (1980)
Bản đồ các quốc gia vô địch châu Âu
*: đội chủ nhà
1: với tư cách là Tây Đức
2: với tư cách là Tiệp Khắc

Kết quả của các nước chủ nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Nước đăng cai Chung kết
1960  Pháp Hạng tư
1964  Tây Ban Nha Vô địch
1968  Ý Vô địch
1972  Bỉ Hạng ba
1976  Nam Tư Hạng tư
1980  Ý Hạng tư
1984  Pháp Vô địch
1988  Tây Đức Bán kết
1992  Thụy Điển Bán kết
1996  Anh Bán kết
2000  Hà Lan Bán kết
 Bỉ Vòng bảng
2004  Bồ Đào Nha Á quân
2008  Áo
 Thụy Sĩ
Vòng bảng
2012  Ba Lan
 Ukraina
Vòng bảng
2016  Pháp Á quân

Kết quả của đương kim vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Đương kim vô địch Chung kết
1964  Liên Xô Á quân
1968  Tây Ban Nha Không vượt qua vòng loại
1972  Ý Không vượt qua vòng loại
1976  Tây Đức Á quân
1980  Tiệp Khắc Hạng ba
1984  Tây Đức Vòng bảng
1988  Pháp Không vượt qua vòng loại
1992  Hà Lan Bán kết
1996  Đan Mạch Vòng bảng
2000  Đức Vòng bảng
2004  Pháp Tứ kết
2008  Hy Lạp Vòng bảng
2012  Tây Ban Nha Vô địch
2016  Tây Ban Nha Vòng 16 đội

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ xuất sắc nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên
1996 Đức Matthias Sammer
2000 Pháp Zinedine Zidane
2004 Hy Lạp Theodoros Zagorakis
2008 Tây Ban Nha Xavi
2012 Tây Ban Nha Andrés Iniesta
2016 Pháp Antoine Griezmann

Vua phá lưới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tên Số bàn thắng
1960 Pháp François Heutte
Liên Xô Valentin Ivanov
Liên Xô Viktor Ponedelnik
Nam Tư Milan Galić
Nam Tư Dražan Jerković
2
1964 Hungary Ferenc Bene
Hungary Dezső Novák
Tây Ban Nha Jesús María Pereda
2
1968 Nam Tư Dragan Džajić 2
1972 Tây Đức Gerd Müller 4
1976 Tây Đức Dieter Müller 4
1980 Tây Đức Klaus Allofs 3
1984 Pháp Michel Platini 9
1988 Hà Lan Marco van Basten 5
1992 Đan Mạch Henrik Larsen
Đức Karlheinz Riedle
Hà Lan Dennis Bergkamp
Thụy Điển Tomas Brolin
3
1996 Anh Alan Shearer 5
2000 Hà Lan Patrick Kluivert
Cộng hòa Liên bang Nam Tư Savo Milošević
5
2004 Cộng hòa Séc Milan Baroš 5
2008 Tây Ban Nha David Villa 4
2012 Croatia Mario Mandžukić
Đức Mario Gómez
Ý Mario Balotelli
Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo
Nga Alan Dzagoev
Tây Ban Nha Fernando Torres (W)
3
2016 Pháp Antoine Griezmann 6

Các đội tham dự giải[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ thành tích tốt nhất của các quốc gia tham dự giải
Ghi chú
  • H1 – Vô địch
  • H2 – Á quân
  • H3 – Hạng ba (từ năm 1960 đến năm 1980)
  • H4 – Hạng tư (từ năm 1960 đến năm 1980)
  • BK – Bán kết (kể từ năm 1984)
  • TK – Tứ kết (kể từ năm 1996)
  • V16 – Vòng 16 đội (kể từ năm 2016)
  • VB – Vòng bảng (kể từ năm 1980)
  • Q — Đã vượt qua vòng loại của giải đấu sắp tới
  • — Không vượt qua vòng loại
  • × — Không tham dự / Bị cấm tham dự
  •    — Đội chủ nhà

Số đội tham dự vòng chung kết của mỗi giải đấu được viết trong ngoặc.

Đội tuyển 1960
(4)
1964
(4)
1968
(4)
1972
(4)
1976
(4)
1980
(8)
1984
(8)
1988
(8)
1992
(8)
1996
(16)
2000
(16)
2004
(16)
2008
(16)
2012
(16)
2016
(24)
2020
(24)
Số năm
 Albania × x VB CXĐ 1
 Anh × H3 VB VB VB BK VB TK TK V16 CXĐ 9
 Áo VB VB CXĐ 2
 Ba Lan VB VB TK CXĐ 3
 Bắc Ireland × V16 CXĐ 1
 Bỉ × H3 H2 VB VB TK CXĐ 5
 Bồ Đào Nha BK TK BK H2 TK BK H1 CXĐ 7
 Bulgaria VB VB CXĐ 2
 Croatia Một phần của  Nam Tư TK VB TK VB V16 CXĐ 5
 Đan Mạch H4 BK VB H1 VB VB TK VB CXĐ 8
 Đức 1 × × H1 H2 H1 VB BK H2 H1 VB VB H2 BK BK CXĐ 12
 Hà Lan × H3 VB H1 BK TK BK BK TK VB CXĐ 9
 Hungary H3 H4 V16 CXĐ 3
 Hy Lạp × VB H1 VB TK CXĐ 4
 Iceland x x x TK CXĐ 1
 Ireland VB VB V16 CXĐ 3
 Latvia Một phần của  Liên Xô VB CXĐ 1
 Na Uy VB CXĐ 1
 Nga 2 H1 H2 H4 H2 H2 VB VB VB BK VB VB CXĐ 11
 Pháp H4 H1 VB BK H1 TK VB TK H2 CXĐ 9
 România VB VB TK VB VB CXĐ 5
 Scotland × × VB VB CXĐ 2
 Cộng hòa Séc 3 H3 H1 H3 H2 VB BK VB TK VB CXĐ 9
 Serbia 4 H2 H2 H4 VB × [1] × TK CXĐ 5
 Slovakia Một phần của  Tiệp Khắc V16 CXĐ 1
 Slovenia Một phần của  Nam Tư VB CXĐ 1
 Tây Ban Nha × H1 VB H2 VB TK TK VB H1 H1 V16 CXĐ 10
 Thổ Nhĩ Kỳ VB TK BK VB CXĐ 4
 Thụy Điển × BK VB TK VB VB VB CXĐ 6
 Thụy Sĩ × VB VB VB V16 CXĐ 4
 Ukraina Một phần của  Liên Xô × [2] VB VB CXĐ 2
 Wales x BK CXĐ 1
 Ý × H1 H4 BK VB H2 VB TK H2 TK CXĐ 9

1: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Tây Đức

2: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Liên Xô và một lần với tư cách là Cộng đồng các Quốc gia Độc lập

3: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Tiệp Khắc

4: Tính cả các lần tham dự với tư cách là Nam Tư

Các đội chưa từng tham dự vòng chung kết Euro
 Andorra,  Armenia,  Azerbaijan,  Belarus,  Bosna và Hercegovina,  Síp,  Estonia,  Phần Lan,  Gruzia,  Gibraltar,  Israel,  Kazakhstan,  Kosovo,  Liechtenstein,  Litva,  Luxembourg,  Macedonia,  Malta,  Moldova,  Montenegro,  San Marino.

Xếp hạng theo số trận thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích
Đội vô địch Euro
Hạng
Đội Số trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua Hiệu số Điểm
01.  Đức 49 26 12 11 72 48 24 90
02.  Pháp 39 20 9 10 62 44 18 69
03.  Tây Ban Nha 40 19 11 10 55 36 19 68
04.  Ý 38 16 16 6 39 27 12 64
05.  Bồ Đào Nha 35 18 9 8 49 31 18 63
06.  Hà Lan 35 17 8 10 57 37 20 59
07.  Cộng hòa Séc 32 13 6 13 42 43 −1 45
08.  Nga 33 12 7 14 38 45 −7 43
09.  Anh 31 10 11 10 40 35 5 41
10.  Croatia 18 8 5 5 23 20 3 29
11.  Đan Mạch 27 7 6 14 30 43 −13 27
12.  Bỉ 17 7 2 8 22 25 −3 23
13.  Thụy Điển 20 5 6 9 25 24 1 21
14.  Hy Lạp 16 5 3 8 14 20 −6 18
15.  Thổ Nhĩ Kỳ 15 4 2 9 13 22 −9 14
16.  Wales 6 4 0 2 10 6 4 12
17.  Ba Lan 11 2 6 3 7 9 −2 12
18.  Thụy Sĩ 13 2 5 6 8 15 −7 11
19.  Serbia 14 3 2 9 22 39 −17 11
20.  Iceland 5 2 2 1 8 9 −1 8
21.  Hungary 8 2 2 4 11 14 −3 8
22.  Cộng hòa Ireland 10 2 2 6 6 17 −11 8
23.  România 16 1 5 10 10 21 −11 8
24.  Scotland 6 2 1 3 4 5 −1 7
25.  Na Uy 3 1 1 1 1 1 0 4
26.  Slovakia 4 1 1 2 3 6 −3 4
27.  Bulgaria 6 1 1 4 4 13 −9 4
28.  Albania 3 1 0 2 1 3 −2 3
29.  Bắc Ireland 4 1 0 3 2 3 −1 3
30.  Ukraina 6 1 0 5 2 9 −7 3
31.  Slovenia 3 0 2 1 4 5 −1 2
32.  Áo 6 0 2 4 2 7 −5 2
33.  Latvia 3 0 1 2 1 5 −4 1

Cập nhật lần cuối: 10/7/2016.

Các huấn luyện viên vô địch[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Huấn luyện viên Vô địch
1960 Liên Xô Gavriil Kachalin  Liên Xô
1964 Tây Ban Nha José Villalonga  Tây Ban Nha
1968 Ý Ferruccio Valcareggi  Ý
1972 Tây Đức Helmut Schön  Tây Đức
1976 Tiệp Khắc Václav Ježek  Tiệp Khắc
1980 Tây Đức Jupp Derwall  Tây Đức
1984 Pháp Michel Hidalgo  Pháp
1988 Hà Lan Rinus Michels  Hà Lan
1992 Đan Mạch Richard Møller-Nielsen  Đan Mạch
1996 Đức Berti Vogts  Đức
2000 Pháp Roger Lemerre  Pháp
2004 Đức Otto Rehhagel  Hy Lạp
2008 Tây Ban Nha Luis Aragonés  Tây Ban Nha
2012 Tây Ban Nha Vicente del Bosque  Tây Ban Nha
2016 Bồ Đào Nha Fernando Santos  Bồ Đào Nha

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Vượt qua vòng loại nhưng bị cấm tham dự vì chiến tranh Nam Tư, đội tuyển Đan Mạch được UEFA cho thay thế
  2. ^ Thuộc Cộng đồng các Quốc gia Độc lập

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]