Bước tới nội dung

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Đội tuyển bóng đá quốc gia
Tây Ban Nha
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhLa Furia Roja (Cơn thịnh nộ màu đỏ)[1][2]
La Roja (Đội quân đỏ)
La Furia (Cơn thịnh nộ)
Manada De Toros (Đàn bò tót)
Liên đoàn châu lụcUEFA (châu Âu)
Huấn luyện viên trưởngLuis de la Fuente
Đội trưởngRodri
Thi đấu nhiều nhấtSergio Ramos (180)[3]
Ghi bàn nhiều nhấtDavid Villa (59)
Mã FIFAESP
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 1 Giữ nguyên (ngày 19 tháng 1 năm 2026)[4]
Cao nhất1 (Tháng 7 năm 2008-tháng 6 năm 2009
Tháng 10 năm 2009–tháng 3 năm 2010
Tháng 7 năm 2010–tháng 7 năm 2011
Tháng 10 năm 2011–tháng 7 năm 2014)
Thấp nhất25 (Tháng 3 năm 1998)
Hạng Elo
Hiện tại 3 Tăng 2 (30 tháng 11 năm 2022)[5]
Cao nhất1 (Tháng 9 năm 1920-tháng 5 năm 1924
Tháng 9–tháng 12 năm 1925
Tháng 6 năm 2008–tháng 6 năm 2009
Tháng 7 năm 2010–tháng 6 năm 2013)
Thấp nhất19 (Tháng 6–tháng 10 năm 1969
Tháng 11 năm 1991)
Trận quốc tế đầu tiên
 Tây Ban Nha 1–0 Đan Mạch 
(Forest, Bỉ; 28 tháng 8 năm 1920)
Trận thắng đậm nhất
 Tây Ban Nha 13–0 Bulgaria 
(Madrid, Tây Ban Nha; 22 tháng 8 năm 1933)
Trận thua đậm nhất
 Ý 7–1 Tây Ban Nha 
(Amsterdam, Hà Lan; 4 tháng 6 năm 1928)
 Anh 7–1 Tây Ban Nha 
(Luân Đôn, Anh, 9 tháng 12 năm 1931)
Giải thế giới
Sồ lần tham dự17 (Lần đầu vào năm 1934)
Kết quả tốt nhấtVô địch (2010, 2026)
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Sồ lần tham dự12 (Lần đầu vào năm 1964)
Kết quả tốt nhấtVô địch (1964, 2008, 2012, 2024)
UEFA Nations League
Sồ lần tham dự2 (Lần đầu vào năm 2021)
Kết quả tốt nhấtVô địch (2023)
Cúp Liên đoàn các châu lục
Sồ lần tham dự2 (Lần đầu vào năm 2009)
Kết quả tốt nhấtÁ quân (2013)
Thành tích huy chương Thế vận hội
Bóng đá nam
Huy chương bạc – vị trí thứ hai Antwerp 1920 Tokyo 2020

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha (tiếng Tây Ban Nha: Selección de fútbol de España) là đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha và đại diện cho Tây Ban Nha trên bình diện quốc tế chính thức kể từ năm 1920 bắt đầu bằng trận đấu với Đan Mạch. Tây Ban Nha có những biệt danh như La Roja ("Đội Quân Màu Đỏ"), La Furia Roja ("Cơn Thịnh Nộ Màu Đỏ"), Manada De Toros ("Đàn Bò Tót"), La Furia Española ("Cơn Thịnh Nộ Của Tây Ban Nha") hay đơn giản là La Furia ("Cơn Thịnh Nộ"). Tây Ban Nha trở thành thành viên chính thức của FIFA vào năm 1904 nhưng Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha lại được thành lập vào năm 1909.

Tây Ban Nha nằm trong số 8 đội tuyển từng vô địch thế giới, ghi dấu ấn với bảy danh hiệu giành được ở World Cup 2010World Cup 2026, Euro 1964, Euro 2008, Euro 2012, Euro 2024UEFA Nations League 2022–23. Tây Ban Nha cũng đang nắm giữ kỷ lục 4 chức vô địch châu Âu sau khi lên ngôi tại Euro 2024. Tây Ban Nha cũng từng giữ kỷ lục có số trận bất bại liên tiếp nhiều nhất thế giới với 35 trận kéo dài trong gần 3 năm (đến khi đội tuyển Ý phá vỡ kỉ lục vào năm 2021 với 37 trận bất bại) và liên tục nhận giải thưởng "Đội bóng của năm" trong cả 6 năm hoàng kim từ 2008 đến 2013. Đội đã tham dự 17 trong tổng số 23 lần tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới (liên tục kể từ năm 1978) và 12 trong tổng số 17 lần tổ chức Giải vô địch bóng đá châu Âu.

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha được thành lập vào năm 1920, đại diện cho Tây Ban Nha tham dự Thế vận hội Mùa hè tổ chức tại Bỉ trong năm đó.

Tây Ban Nha có trận đấu đầu tiên vào ngày 29 tháng 8 năm 1920 đấu với Đội tuyển Đan Mạch. Trận đấu kết thúc với chiến thắng 1–0 cho Tây Ban Nha. Ở trận đấu tiếp theo, Tây Ban Nha không thể giành chiến thắng khi để thua Bỉ 1–3.

Những cuộc nội chiếnChiến tranh thế giới lần thứ hai làm Tây Ban Nha không thể chơi 1 trận đấu nào tại World Cup 1934World Cup 1950.

Tây Ban Nha có danh hiệu đầu tiên khi đánh bại Hungary 2–1 để tiến tới trận chung kết và thi đấu với Liên Xô. Tây Ban Nha tiếp tục giành chiến thắng 2–1 để có danh hiệu lớn đầu tiên sau 44 năm.

World Cup 1982

[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1976, Tây Ban Nha được chọn là chủ nhà của World Cup 1982, được kỳ vọng rất cao nhưng Tây Ban Nha chỉ vào được tới vòng 2.

Cựu huấn luyện viên Real Madrid Miguel Muñoz, người đã dẫn dắt Tây Ban Nha trong năm 1969, trở lại và huấn luyện tuyển. Vòng loại Euro 1984 thì Tây Ban Nha nằm ở bảng 7 cùng với Hà Lan, Ireland, IcelandMalta. Trong trận đấu cuối cùng, Tây Ban Nha cần thắng ít nhất trên 11 bàn để có thể vượt qua Hà Lan ở vị trí dẫn đầu. Sau khi dẫn 3–1. ở hiệp 1, hiệp 2 Tây Ban Nha ghi thêm 9 bàn thắng biến tỉ số thành 12–1, dẫn đầu nhóm để tới vòng chung kết. Tại vòng chung kết, Tây Ban Nha nằm ở bảng B cùng với Romania, Bồ Đào Nha và Tây Đức, sau hai trận hòa 1–1, Tây Ban Nha thắng 1–0 trước Tây Đức ở trận đấu cuối cùng để đứng đầu bảng B. Bán kết họ gặp Đan Mạch, hòa 1–1 và thắng 5–4 trên chấm penalty. Sau đó Tây Ban Nha đã bị Pháp đánh bại 2–0 ở chung kết và để tuột mất chức vô địch.

Euro 2000 và World Cup 2002

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thất bại ở trận đấu đầu tiên của vòng loại Euro 2000 (thua Síp 2-3), Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha quyết định sa thải huấn luyện viên Javier Clemente, José Antonio Camacho lên thay. Tây Ban Nha thắng những trận còn lại của vòng bảng. Nhưng thất bại ở tứ kết khi để thua Pháp 2-1 và chấp nhận dừng bước.

Vòng loại World Cup 2002 diễn ra đúng như mong đợi,đứng đầu bảng đấu có rất nhiều đối thủ mạnh. Tại VCK World Cup, Tây Ban Nha đứng đầu bảng B với ba trận toàn thắng. Ở vòng tứ kết thì Tây Ban Nha đối đầu với Hàn Quốc và để thua trên chấm luân lưu.

Euro 2004 diễn ra tại Bồ Đào Nha. Tây Ban Nha rơi vào bảng A với Bồ Đào Nha, NgaHy Lạp. Họ đánh bại Nga 1–0, hòa Hy Lạp 1–1 nhưng lại thất bại trước Bồ Đào Nha và không đủ điểm để vượt qua vòng bảng. Iñaki Sáez bị sa thải 1 tuần sau đó và Luis Aragones lên thay.

World Cup 2006, Thế hệ vàng 2007 và Euro 2008

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại World Cup 2006 tổ chức tại Đức, Tây Ban Nha lọt vào bảng H và xuất sắc thắng tất cả các trận đấu nhưng lại thất bại trước Pháp 1–3 tại vòng 2. Họ được an ủi bằng giải thưởng Fair-play (chia sẻ cùng Brazil).[6]

Sau khi bị loại khỏi giải, Luis Aragonés nhận ra đội bóng không có đủ thể lực và tranh chấp không quyết liệt để gây khó khăn cho đối thủ, họ bắt đầu tập trung nghiên cứu Tiki-Taka, chiến thuật sử dụng các đường chuyền ngắn, nâng cao tỉ lệ kiểm soát bóng.

Các cầu thủ Tây Ban Nha ăn mừng chức vô địch Euro 2008 tại Madrid.

Vòng loại Euro 2008, Tây Ban Nha rơi vào bảng F, đứng đầu bảng với 28 trên 36 điểm có thể giành được. Tại lễ bốc thăm cho vòng chung kết, đội rơi vòng bảng D, có trận đấu mở màn với Nga và giành chiến thắng thuyết phục với tỉ số 4–1. Trong trận đấu thứ hai với Thụy Điển, Tây Ban Nha sớm mở tỉ số ở phút thứ 15 nhờ công của Fernando Torres. Bị thủng lưới sớm, Thụy Điển dồn lên tấn công. Phút thứ 34, Zlatan Ibrahimovic san bằng tỉ số 1–1 với pha lừa bóng rồi tung ra cú sút quyết đoán. Thế trận sau đó diễn ra khá bế tắc, nhưng vào phút bù giờ cuối cùng, sau pha phản công nhanh, David Villa ghi bàn ấn định tỉ số 2–1, giúp Tây Ban Nha đoạt vé sớm vào tứ kết. Trận đấu còn lại Tây Ban Nha thắng nhà đương kim vô địch Hy Lạp 2–1, giành điểm tối đa sau 3 trận đấu. Đương kim vô địch thế giới lúc đó, Ý, là đối thủ của họ trong trận tứ kết. Hai đội chơi giằng co và 120 phút kết thúc với tỷ số 0–0, buộc cả hai phải phân định thắng thua trên chấm phạt đền. Tây Ban Nha chiến thắng ở loạt luân lưu với tỉ số 4-2. Trong loạt sút luân lưu, ngoại trừ Guiza không thắng được Buffon ở loạt sút thứ tư, Tây Ban Nha đã thực hiện thành công cả bốn quả luân lưu còn lại bằng những cú sút lạnh lùng quyết đoán của Villa, Santi Cazorla, Senna rồi Fabregas. Nhưng công lớn nhất phải thuộc về thủ môn Iker Casillas. Trong một ngày thi đấu xuất thần, anh đã phán đoán chuẩn xác, đổ người từ chối các pha dứt điểm của Daniele De Rossi ở loạt sút thứ hai rồi Antonio Di Natale ở loạt sút thứ tư. Tây Ban Nha gặp lại Nga tại bán kết và cũng đánh bại họ một lần nữa với chiến thắng 3-0, qua đó lọt vào chung kết gặp Đức.[7]

Trận chung kết tại Sân vận động Ernst Happel, Viên. Tây Ban Nha đánh bại Đức 1-0 với bàn thắng duy nhất của Fernando Torres ở phút thứ 33.[8] Đây là danh hiệu lớn đầu tiên của Tây Ban Nha kể từ năm 1964. Tây Ban Nha cũng là đội ghi được nhiều bàn nhất với 12 bàn thắng, David Villa giành danh hiệu vua phá lưới, Xavi được bầu chọn là cầu thủ hay nhất giải, và có tới chín cầu thủ của Tây Ban Nha được chọn vào đội hình tiêu biểu của giải.[9]

Cúp Liên đoàn các châu lục 2009

[sửa | sửa mã nguồn]

Luis Aragonés đã quyết định ra đi trong vinh quang sau khi giành chức vô địch Euro 2008, người lên thay là Vicente del Bosque.[10]

Năm 2008, David Villa ghi được 16 bàn sau 15 trận cho đội tuyển, phá vỡ kỷ lục của Raúl. Ngày 11 tháng 2 năm 2009, anh tiếp tục lập kỷ lục với bàn thắng vào lưới Đội tuyển Anh, trở thành cầu thủ Tây Ban Nha đầu tiên ghi bàn trong sáu trận liên tiếp.

Tây Ban Nha thắng cả ba trận vòng bảng của Confederation Cup 2009. Trong trận thắng New Zealand 5-0, Torres cũng lập kỷ lục khi lập cú hat-trick nhanh nhất lịch sử. Hai trận đấu còn lại, Tây Ban Nha thắng Iraq 1-0 và thắng Nam Phi 2-0.

Ngày 24 tháng 6 năm 2009, kỉ lục bất bại 35 trận liên tiếp của Tây Ban Nha bị phá vỡ khi họ để thua Mỹ 0-2 ở bán kết. Tây Ban Nha sau đó đánh bại Nam Phi 3-2 sau hiệp phụ tại trận tranh giải ba để đoạt huy chương đồng.[11]

World Cup 2010: Lần đầu lên đỉnh thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm:Giải vô địch bóng đá thế giới 2010, Trận chung kết Giải vô địch bóng đá thế giới 2010

Tình huống đá phạt góc của Tây Ban Nha trong trận đấu với Bồ Đào Nha tại vòng knock-out World Cup 2010.

Tại World Cup 2010, Tây Ban Nha nằm ở bảng H cùng với Thụy Sĩ, HondurasChile. Tây Ban Nha bất ngờ thua 0-1 trong trận mở màn với Thụy Sĩ. Ở trận đấu thứ hai, họ đánh bại Honduras với hai bàn thắng của David Villa. Trận đấu cuối cùng của vòng bảng, vào ngày 25 tháng 6, với Chile kết thúc với chiến thắng 2-1 cho Tây Ban Nha.[12] Đội giành quyền vào vòng knock-out với ngôi đầu, thắng Bồ Đào Nha 1-0 ở vòng 1/8. Ở tứ kết, đội tiếp tục thắng Paraguay 1-0 để giành quyền vào bán kết.[13]

Tây Ban Nha lần đầu tiên vào đến một trận chung kết World Cup sau khi đánh bại Đức 1-0 ở bán kết với bàn thắng duy nhất tới từ cú đánh đầu của Carles Puyol.[14]

Trận chung kết với Hà Lan diễn ra không bàn thắng trong suốt 90 phút, buộc hai đội phải bước vào hiệp phụ. Andrés Iniesta ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ đường kiến tạo của Cesc Fàbregas ở phút thứ 116 tại hiệp phụ thứ 2. Qua đó, đội bóng đã giành chức vô địch World Cup lần đầu tiên trong lịch sử.[15]

Tây Ban Nha cũng giành được giải thưởng Fair play của FIFA ngoài ra một số cầu thủ trong đội hình cũng có danh hiệu. Thủ môn Iker Casillas giành danh hiệu Găng tay vàng,[16] David Villa giành Quả bóng đồng và chiếc giày bạc.

Đường tới vinh quang Euro 2012: Nhà vô địch châu Âu lần thứ 3

[sửa | sửa mã nguồn]
Các cầu thủ Tây Ban Nha sau khi vô địch Euro 2012.

vòng loại Euro 2012, Tây Ban Nha nằm ở bảng I với tỉ lệ chiến thắng 100%. Họ đánh bại CH Séc, Scotland, LitvaLiechtenstein để tiến vào vòng chung kết.

Đội trưởng Iker Casillas ăn mừng chức vô địch Euro 2012

Ở vòng chung kết, Tây Ban Nha nằm ở bảng C cùng với Ý, CroatiaCộng hòa Ireland. Trận mở màn với Ý diễn ra vào ngày 10 tháng 6 năm 2012. Ý vượt lên dẫn trước ở phút thứ 61, sau tình huống tấn công chớp nhoáng. Pirlo tung ra đường chuyền chính xác để tiền đạo vào thay người Antonio Di Natale dứt điểm hiểm hóc mở tỉ số của trận đấu. Những phút sau đó, Tây Ban Nha tìm lại được thế trận, và họ đã có bàn gỡ nhờ công của Cesc Fàbregas nhưng đó cũng là tất cả những gì họ làm được. Hai đội buộc phải chia điểm sauu trận mở màn.[17]

Trận đấu tiếp theo với Cộng hòa Ireland vào ngày 14 tháng 6, tiền đạo của Chelsea Fernando Torres lập cú đúp, hai bàn thắng còn lại của David SilvaCesc Fàbregas giúp Tây Ban Nha đại thắng 4-0.[18] Trận đấu cuối cùng của vòng bảng với Croatia vào ngày 18 tháng 6 khó khăn hơn các trận đấu khác, vì Croatia đã có những cơ hội ghi bàn khá rõ rệt. Khi trận đấu dần đi đến hồi kết, phút thứ 88, Jesús Navas ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu, giúp Tây Ban Nha tiến tới tứ kết với ngôi đầu bảng.[19]

Tây Ban Nha đối đầu với Pháp ở tứ kết vào ngày 23 tháng 6 năm 2012. Đội mở tỷ số trận đấu, với cú đánh đầu của Xabi Alonso. Họ hoàn tất chiến thắng khi Pedro bị phạm lỗi trong vòng cấm địa, và Alonso ghi bàn từ chấm penalty giúp Tây Ban Nha thắng chung cuộc 2-0. Đây cũng là trận đấu mà Xabi Alonso đánh dấu cột mốc 100 trận của anh cho tuyển.[20]

Ở bán kết, Tây Ban Nha gặp Bồ Đào Nha, đội đã đánh bại Cộng hòa Czech ở tứ kết với bàn thắng muộn của Cristiano Ronaldo. Bồ Đào Nha ép sân ngay từ những phút đầu, tạo ra nhiều cơ hội nhưng không thể chuyển hóa thành bàn thắng. Tây Ban Nha vẫn bình tĩnh phòng ngự buộc trận đấu phải đi vào loạt sút luân lưu. Bước ngoặc đã đến khi Bruno Alves sút hỏng quả penalty thứ 4 giúp Tây Ban Nha giành chiến thắng 4-2 trên chấm luân lưu, khiến Ronaldo không có cơ hội sút quả luân lưu cuối cùng.[21] Đây đã là trận chung kết Euro thứ tư của Tây Ban Nha, lần trước vào các năm 1964, 19842008. Họ sẽ tái ngộ Ý ở chung kết.

Trong trận chung kết Euro 2012, Tây Ban Nha giành chức vô địch thuyết phục khi ghi bốn bàn thắng vào lưới Ý. Trong hiệp 1, họ nhanh chóng kiểm soát thế trận với hai bàn thắng ở phút thứ 14 do công của David Silva và phút 41 của Jordi Alba. Sang hiệp hai, Ý sử dụng lượt thay người cuối cùng của mình bằng việc thay Antonio Di Natale bằng Thiago Motta. Tuy nhiên, ngay sau khi vào sân, Motta đã bị chấn thương gân kheo và không thể tiếp tục thi đấu. Vì đã hết quyền thay người, Ý chỉ còn thi đấu với 10 cầu thủ. Tây Ban Nha ghi thêm hai bàn thắng ở cuối hiệp 2, nhờ công của hai ngôi sao đang chơi cho Chelsea Fernando TorresJuan Mata ở phút thứ 84 và 88, giúp Tây Ban Nha vô địch Euro 2012 lần thứ hai liên tiếp.[22] Đây cũng là danh hiệu thứ 3 liên tiếp của họ sau (Euro 2008World Cup 2010). Fernando Torres kết thúc giải với 3 bàn thắng và nhận danh hiệu vua phá lưới.

Tây Ban Nha cũng lập nên một vài kỷ lục sau chức vô địch:

  • Tây Ban Nha trở thành đội bóng đầu tiên vô địch ba giải đấu lớn liên tiếp (Euro 2008, World Cup 2010Euro 2012)
  • Trận Chung kết Euro 2012 có cách biệt lớn nhất (4-0) nhiều hơn 1 bàn so với trận chung kết năm 1972 (Tây Đức 3-0 Liên Xô)
  • Tây Ban Nha trở thành đội bóng thành công nhất lịch sử Euro, cùng với đội tuyển Đức (ba danh hiệu vô địch)
  • Tây Ban Nha trở thành đội có hiệu số bàn thắng lớn nhất lịch sử một kỳ Euro, 12-1.

Cúp Liên đoàn các châu lục 2013

[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Ban Nha bắt đầu chiến dịch Confederation Cup 2013 bằng trận thắng 2-1 trước Uruguay, trận đấu mà Tây Ban Nha kiểm soát hoàn toàn thế trận, tung ra 9 cú sút trúng đích, trong khi Uruguay chỉ có 1 và cũng là cú sút mang lại bàn thắng của Luis Suárez.[23] Trong trận đấu thứ hai của vòng bảng gặp đại diện châu Đại Dương Tahiti, Tây Ban Nha đã phá kỷ lục về trận thắng đậm nhất ở một giải đấu FIFA với chiến thắng hủy diệt 10-0, nhờ cú poker của Fernando Torres và hat-trick của David Villa.[24] Trận đấu cuối cùng họ ở vòng bảng là trận thắng Nigeria 3-0, qua đó hoàn tất vòng bảng với ba trận toàn thắng.[25]

Trong trận bán kết với Đội tuyển Ý, Tây Ban Nha bị cầm hòa 0-0 trong cả thời gian đá chính và hiệp phụ. Đội đã thắng 7-6 trên chấm penalty khi Jesús Navas thực hiện thành công còn Bonucci đá hỏng,[26] giúp Tây Ban Nha tiến tới trận chung kết Confederation Cup đầu tiên. Tuy nhiên, đội thất bại trong việc thâu tóm danh hiệu FIFA cuối cùng còn thiếu trong bảng thành tích của mình, khi thua chủ nhà Brazil 0-3. Họ được an ủi với danh hiệu chiếc giày vàng cho Fernando Torres.

Giải vô địch bóng đá thế giới 2014

[sửa | sửa mã nguồn]

Tại giải đấu này, với tư cách đương kim vô địch, Tây Ban Nha được đánh giá là một trong những ứng cử viên của chức vô địch.[27] Đội được bốc thăm vào một bảng đấu được đánh giá khó nhằn khi tái ngộ Hà Lan (đội thua chính họ ở chung kết World Cup 4 năm trước đó), ChileÚc. Trận đấu đầu tiên của họ tái hiện trận chung kết World Cup 2010. Tây Ban Nha dẫn trước nhờ cú sút phạt đền thành công của Xabi Alonso, nhưng Hà Lan mới chứng tỏ họ là đội mạnh hơn. Tây Ban Nha mất khả năng điều khiển trận đấu và thất bại với tỉ số bất ngờ 1-5.[28] Trong trận tiếp theo gặp Chile, Tây Ban Nha buộc phải thắng để duy trì hi vọng đi tiếp, nhưng tiếp tục thua 0-2[29] Với hai trận thua liên tiếp, Tây Ban Nha trở thành một trong những đội đầu tiên bị loại khỏi giải này và gia nhập vào danh sách những nhà đương kim vô địch thế giới bị chính thức loại ở vòng bảng World Cup cùng với Brasil năm 1966, Pháp năm 2002Ý năm 2010 (Ý cũng bị loại từ vòng bảng World Cup 1950). Ở trận đấu cuối cùng mang tính thủ tục, Tây Ban Nha thắng Úc với tỉ số 3-0 để kết thúc giải ở vị trí thứ ba bảng đấu.[30]

Giải vô địch bóng đá châu Âu 2016

[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Ban Nha đến với Euro 2016 với mục tiêu là để bảo vệ thành công ngôi vô địch. Ở giải đấu này, Tây Ban Nha nằm cùng bảng với các đội Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hòa SécCroatia; kết thúc vòng bảng, Tây Ban Nha xếp thứ hai sau Croatia, lọt vào vòng 16 đội nhưng thất bại chung cuộc trước Ý. Sau Euro 2016, huấn luyện viên Vicente del Bosque giã từ sự nghiệp huấn luyện.

Giải vô địch bóng đá thế giới 2018

[sửa | sửa mã nguồn]

Tây Ban Nha mở màn World Cup 2018 với trận hòa 3-3 trước Bồ Đào Nha, đây là trận đấu TBN có 3 bàn thắng của Diego CostaNacho Fernández còn BĐN là hattrick của Cristiano Ronaldo. Trận đấu thứ hai, Tây Ban Nha dành chiến thắng 1-0 trước Iran với bàn thắng của Diego Costa. Lượt trận thứ 3, TBN hòa 2-2 Maroc bằng các bàn thắng của Isco, Iago Aspas để có ngôi đầu bảng. Bước vào vòng 16 đội, Tây Ban Nha gặp chủ nhà Nga, trận đấu mở màn bằng bàn phản lưới nhà của lão tướng Sergei Ignashevich bên phía Nga, phút 41 trận đấu Gerard Piqué để bóng chạm tay vô duyên trong vòng cấm và Artem Dzyuba chớp lấy cơ hội để gỡ hòa. Hai đội kéo nhau vào penalty, tại đây Tây Ban Nha để thủ thành Igor Akinfeev cản phá 2 quả pen và thua với tỉ số 4-3 trên loạt đấu súng. Fernando Hierro cùng các học trò đã phải dừng bước đầy tiếc nuối.

2022–nay: Kỷ nguyên Luis de la Fuente

[sửa | sửa mã nguồn]
Các cầu thủ Tây Ban Nha ăn mừng sau khi vô địch Euro 2024

Vào ngày 8 tháng 12 năm 2022, Luis de la Fuente được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng sau khi Luis Enrique mất việc do thất bại ở vòng 16 đội FIFA World Cup 2022 trước Maroc.[31][32] Ông chính thức được giới thiệu 4 ngày sau đó và ký hợp đồng có thời hạn đến UEFA Euro 2024 với tùy chọn gia hạn.[33]

Ông có chiến thắng trong trận đấu ra mắt trên sân nhà trước Na Uy với tỷ số 3–0 ở vòng loại UEFA Euro 2024 vào ngày 25 tháng 3 năm 2023 với một cú đúp của cầu thủ ra mắt 32 tuổi Joselu.[34] Ông đã dẫn dắt Tây Ban Nha giành chức vô địch UEFA Nations League 2022–23 lần đầu tiên sau khi đánh bại Croatia 5–4 trên chấm phạt đền sau trận hòa 0–0Rotterdam.[35]

Tây Ban Nha kết thúc vòng bảng UEFA Euro 2024 với ngôi nhất bảng B cùng 3 trận toàn thắng, ghi 5 bàn và giữ sạch lưới. Họ tiếp tục đánh bại Gruzia, ĐứcPháp trong vòng đấu loại trực tiếp để lọt vào chung kết kể từ giải đấu năm 2012.[36] Đội giành chức vô địch ở Berlin sau khi đánh bại Anh 2–1 trong trận chung kết, qua đó trở thành đội tuyển giàu thành tích nhất với 4 lần vô địch.[37] Bên cạnh đó, Tây Ban Nha cũng lập kỷ lục khi giành chức vô địch với thành tích toàn thắng cả 7 trận trong toàn bộ giải đấu.[38] Tây Ban Nha cũng nhận các giải thưởng cá nhân, khi Dani Olmo nhận giải vua phá lưới với 3 bàn thắng, Lamine Yamal nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất, còn Rodri nhận giải Cầu thủ xuất sắc nhất.[39]

Vào tháng 1 năm 2025, ông gia hạn hợp đồng đến hết Euro 2028.[40] Sau đó, ông giúp Tây Ban Nha vượt qua vòng bảng UEFA Nations League 2024–25 với thành tích bất bại, và vượt qua Hà Lan tại tứ kết để có lần thứ 3 liên tiếp lọt vào vòng chung kết UEFA Nations League,[41] dù vượt qua Pháp 5-4 tại bán kết,[42] nhưng đội để thua Bồ Đào Nha trên chấm phạt đền tại chung kết, qua đó có lần thứ 2 đạt ngôi á quân.[43]

Tại vòng loại World Cup 2026 khu vực châu Âu, Tây Ban Nha vượt qua vòng loại với ngôi đầu cùng thành tích bất bại,[44] tại World Cup 2026 dù để Cape Verde cầm hòa tại trận ra quân,[45] nhưng Tây Ban Nha vượt qua vòng bảng với ngôi đầu sau 2 chiến thắng trước Ả Rập Xê Út & Uruguay,[46] Tây Ban Nha lần lượt vượt qua Áo, Bồ Đào Nha, Bỉ và Pháp tại vòng loại trực tiếp để lọt vào trận chung kết lần đầu tiên từ 2010,[47] nơi họ đánh bại đương kim vô địch Argentina trên Sân vận động MetLife để có lần thứ 2 vô địch giải đấu.[48] Ngoài ra, Tây Ban Nha còn thống trị các giải thưởng cá nhân, khi Pau Cubarsí nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất, Rodri giành Quả bóng vàng World Cup 2026, còn Unai Simón cũng được vinh danh là Thủ môn xuất sắc nhất.[49] Bản thân Luis de la Fuente trở thành người lớn tuổi nhất vô địch giải đấu này khi 65 tuổi và 28 ngày, vượt qua kỷ lục trước đó do người đồng hương Vicente del Bosque nắm giữ.[50]

Phong cách thi đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Tiqui-Taca là lối chơi sử dụng các đường chuyền ngắn nhằm nâng cao tỉ lệ kiểm soát bóng. Sơ đồ chiến thuật lý tưởng cho Tiqui-Taca là 4-3-3, hay đôi khi có biến thể là 4-1-2-33-4-3. Bên cạnh đó, đi kèm phải là lối tấn công phối hợp nhómphòng ngự khu vực đạt độ ăn ý cao.

Tiqui-Taca là chuyềnchạy. Bóng được chuyền sệt, và chuyền liên tục từ cầu thủ này sang cầu thủ khác. Các cầu thủ không có bóng phải linh động di chuyển để đón bóng. Nhưng vì chỉ tăng tốc và di chuyển trong phạm vi ngắn nên cầu thủ mất sức không nhiều; ngược lại, đội đối phương nếu không thích nghi sẽ bị mất sức do đeo bám và dễ bị rối loạn đội hình.

Barcelona và Tây Ban Nha đã gây dựng một tiqui-taca gần như hoàn hảo và nó đang ngày càng phổ biến trên toàn thế giới. Tất cả các đội trẻ của Barcelona hiện giờ đều phải học đá và vận hành chiến thuật theo kiểu tiqui-taca.

Logo và trang phục thi đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Logo chính thức của Đội tuyển Tây Ban Nha là hình Quốc huy với phía trên là số 1909 tương ứng với năm thành lập Liên đoàn, phía dưới là một dải băng in 4 chữ "RFEF" là viết tắt của Real Federación Española de Fútbol ("Liên đoàn Bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha" trong tiếng Tây Ban Nha) và một quả bóng ở giữa. Tại các kỳ World Cup, hai ngôi sao vàng sẽ được in lên trên cùng, tượng trung cho 2 lần vô địch.

Trang phục thi đấu truyền thống của Đội tuyển Tây Ban Nha là áo màu đỏ, quần xanh đậm hoặc đen, tất đỏ hoặc đen hay xanh đậm. Trang phục thi đấu phụ hiện tại là màu áo trắng với hoa văn màu đỏ hoặc vàng, quần trắng và tất trắng. Đội cũng từng sử dụng màu áo thi đấu phụ là màu đen hay xanh da trời.

1920-21
1921-22
1922-24
1924-31
1931-36
1936-38
1938-45
1945-47
1947-59
1959-79
1959-79 (sân khách)
1979-81
1981-83
1984-86
1984-86 (sân khách)
1986-87
1986-87 (sân khách)
1988-91
1988-91 (sân khách)
1988-91 (thứ ba)
1991-92
1992-94
1994-96
1994-96 (sân khách)
1996-98
1998-2000
1998-2000 (sân khách)
2000-02
2002-04
2004-06
2004-06 (sân khách)
2006-08
2006-08 (sân khách)
2008-09
2008-10 (sân khách)
2009-10
2010-11
2010-11 (sân khách)
2011-12
2011-12 (sân khách)
2012-13
2012-14 (sân khách)
2013-14
2014-15
2014-15 (sân khách)
2015-26
2015-26 (sân khách)

Tài trợ trang phục

[sửa | sửa mã nguồn]
Nhà tài trợ Thời gian
Không rõ1920-1981
Đức Adidas1981-1983
Pháp Le Coq Sportif1984-1992
Đức Adidas1992-nay

Kết quả và lịch thi đấu

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau đây là danh sách kết quả các trận đấu trong 12 tháng qua, cùng các trận đấu đã được lên lịch trong tương lai.

Chú thích

      Thắng       Hòa       Thua       Lịch thi đấu

Ban huấn luyện

[sửa | sửa mã nguồn]
Vị trí Tên
Huấn luyện viên trưởng Tây Ban Nha Luis de la Fuente
Trợ lý huấn luyện viên Tây Ban Nha Juanjo González
Huấn luyện viên thủ môn Tây Ban Nha Miguel Ángel España

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ sau đây đã được triệu tập cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2026.

Số lần ra sân và số bàn thắng cập nhật đến ngày 19 tháng 7 năm 2026, sau trận đấu với Argentina.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM David Raya 15 tháng 9, 1995 (30 tuổi) 14 0 Anh Arsenal
13 1TM Joan Garcia 4 tháng 5, 2001 (25 tuổi) 2 0 Tây Ban Nha Barcelona
23 1TM Unai Simón 11 tháng 6, 1997 (29 tuổi) 66 0 Tây Ban Nha Athletic Bilbao

2 2HV Marc Pubill 20 tháng 6, 2003 (23 tuổi) 3 0 Tây Ban Nha Atlético Madrid
3 2HV Álex Grimaldo 20 tháng 9, 1995 (30 tuổi) 14 0 Tây Ban Nha Atlético Madrid
4 2HV Eric García 9 tháng 1, 2001 (25 tuổi) 22 0 Tây Ban Nha Barcelona
5 2HV Marcos Llorente 30 tháng 1, 1995 (31 tuổi) 27 0 Tây Ban Nha Atlético Madrid
12 2HV Pedro Porro 14 tháng 9, 1999 (26 tuổi) 24 2 Anh Tottenham Hotspur
14 2HV Aymeric Laporte 27 tháng 5, 1994 (32 tuổi) 54 2 Tây Ban Nha Athletic Bilbao
22 2HV Pau Cubarsí 22 tháng 1, 2007 (19 tuổi) 20 0 Tây Ban Nha Barcelona
24 2HV Marc Cucurella 22 tháng 7, 1998 (27 tuổi) 32 1 Tây Ban Nha Real Madrid

6 3TV Mikel Merino 22 tháng 6, 1996 (30 tuổi) 51 12 Anh Arsenal
8 3TV Fabián Ruiz 3 tháng 4, 1996 (30 tuổi) 50 7 Pháp Paris Saint-Germain
9 3TV Gavi 5 tháng 8, 2004 (21 tuổi) 32 5 Tây Ban Nha Barcelona
10 3TV Dani Olmo 7 tháng 5, 1998 (28 tuổi) 58 12 Tây Ban Nha Barcelona
11 3TV Yéremy Pino 20 tháng 10, 2002 (23 tuổi) 25 4 Anh Crystal Palace
15 3TV Álex Baena 20 tháng 7, 2001 (25 tuổi) 24 3 Tây Ban Nha Atlético Madrid
16 3TV Rodri (đội trưởng) 22 tháng 6, 1996 (30 tuổi) 70 4 Anh Manchester City
18 3TV Martín Zubimendi 2 tháng 2, 1999 (27 tuổi) 27 3 Anh Arsenal
20 3TV Pedri 25 tháng 11, 2002 (23 tuổi) 49 6 Tây Ban Nha Barcelona

7 4 Ferran Torres 29 tháng 2, 2000 (26 tuổi) 65 25 Tây Ban Nha Barcelona
17 4 Nico Williams 12 tháng 7, 2002 (24 tuổi) 36 6 Tây Ban Nha Athletic Bilbao
19 4 Lamine Yamal 13 tháng 7, 2007 (19 tuổi) 33 7 Tây Ban Nha Barcelona
21 4 Mikel Oyarzabal 21 tháng 4, 1997 (29 tuổi) 61 30 Tây Ban Nha Real Sociedad
25 4 Víctor Muñoz 13 tháng 7, 2003 (23 tuổi) 2 1 Anh Liverpool
26 4 Borja Iglesias 17 tháng 1, 1993 (33 tuổi) 9 0 Tây Ban Nha Celta Vigo

Triệu tập gần đây

[sửa | sửa mã nguồn]

Những cầu thủ sau đây cũng đã được triệu tập vào đội hình trong 12 tháng qua.

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Leo Román 6 tháng 7, 2000 (26 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Mallorca v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
TM Álex Remiro 24 tháng 3, 1995 (31 tuổi) 2 0 Tây Ban Nha Real Sociedad v.  Ai Cập, 31 Tháng 3 năm 2026

HV Jon Martín 23 tháng 4, 2006 (20 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Real Sociedad v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
HV Javi Rodríguez 26 tháng 6, 2003 (23 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Celta Vigo v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
HV Dean Huijsen 14 tháng 4, 2005 (21 tuổi) 7 0 Tây Ban Nha Real Madrid v.  Ai Cập, 31 Tháng 3 năm 2026
HV Cristhian Mosquera 27 tháng 6, 2004 (22 tuổi) 2 0 Anh Arsenal v.  Ai Cập, 31 Tháng 3 năm 2026
HV Dani Vivian 5 tháng 7, 1999 (27 tuổi) 10 0 Tây Ban Nha Athletic Bilbao v.  Thổ Nhĩ Kỳ, 18 Tháng 11 năm 2025
HV Robin Le Normand 11 tháng 11, 1996 (29 tuổi) 27 1 Tây Ban Nha Atlético Madrid v.  Bulgaria, 14 Tháng 10 năm 2025
HV Dani Carvajal 11 tháng 1, 1992 (34 tuổi) 52 1 Tây Ban Nha Real Madrid v.  Thổ Nhĩ Kỳ, 7 Tháng 9 năm 2025

TV Sergio Gómez 4 tháng 9, 2000 (25 tuổi) 2 0 Tây Ban Nha Real Sociedad v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
TV Jesús Rodríguez 21 tháng 11, 2005 (20 tuổi) 2 0 Ý Como v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
TV Marc Bernal 26 tháng 5, 2007 (19 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Barcelona v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
TV Javi Guerra 13 tháng 5, 2003 (23 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Valencia v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
TV Beñat Turrientes 31 tháng 1, 2002 (24 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Real Sociedad v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
TV Carlos Soler 2 tháng 1, 1997 (29 tuổi) 15 4 Tây Ban Nha Real Sociedad v.  Ai Cập, 31 Tháng 3 năm 2026
TV Pablo Fornals 2 tháng 2, 1996 (30 tuổi) 9 1 Tây Ban Nha Betis v.  Ai Cập, 31 Tháng 3 năm 2026
TV Fermín López 11 tháng 5, 2003 (23 tuổi) 7 0 Tây Ban Nha Barcelona v.  Ai Cập, 31 Tháng 3 năm 2026
TV Aleix García 28 tháng 6, 1997 (29 tuổi) 8 0 Đức Bayer Leverkusen v.  Thổ Nhĩ Kỳ, 18 Tháng 11 năm 2025
TV Pablo Barrios 15 tháng 6, 2003 (23 tuổi) 4 0 Tây Ban Nha Atlético Madrid v.  Thổ Nhĩ Kỳ, 18 Tháng 11 năm 2025

Gonzalo García 24 tháng 3, 2004 (22 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Real Madrid v.  Iraq, 4 Tháng 6 năm 2026
Ander Barrenetxea 27 tháng 12, 2001 (24 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Real Sociedad v.  Ai Cập, 31 Tháng 3 năm 2026
Samu Aghehowa 5 tháng 5, 2004 (22 tuổi) 4 0 Bồ Đào Nha Porto v.  Thổ Nhĩ Kỳ, 18 Tháng 11 năm 2025
Jorge de Frutos 20 tháng 2, 1997 (29 tuổi) 1 0 Tây Ban Nha Rayo Vallecano v.  Thổ Nhĩ Kỳ, 18 Tháng 11 năm 2025
Álvaro Morata 23 tháng 10, 1992 (33 tuổi) 87 37 Ý Como v.  Thổ Nhĩ Kỳ, 7 Tháng 9 năm 2025

INJ Rút lui do chấn thương
PRE Đội hình sơ bộ
RET Chia tay đội tuyển quốc gia
SUS Treo giò

Thành tích tại các giải đấu quốc tế

[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới

[sửa | sửa mã nguồn]
Tây Ban Nha giành chức vô địch World Cup 2010Nam Phi.
Tây Ban Nha giành chức vô địch World Cup 2026Hoa Kỳ.
Năm Kết quả St T H [51] B Bt Bb
1930Không tham dự
Ý 1934Tứ kết311143
1938Không tham dự vì nội chiến
Brasil 1950Hạng tư63121012
1954Không vượt qua vòng loại
1958
Chile 1962Vòng 1310223
Anh 1966310245
1970Không vượt qua vòng loại
1974
Argentina 1978Vòng 1311122
Tây Ban Nha 1982Vòng 2512245
México 1986Tứ kết5311114
Ý 1990Vòng 2421164
Hoa Kỳ 1994Tứ kết5221106
Pháp 1998Vòng 1311184
Hàn QuốcNhật Bản 2002Tứ kết5320105
Đức 2006Vòng 2430194
Cộng hòa Nam Phi 2010Vô địch760182
Brasil 2014Vòng 1310247
Nga 2018Vòng 2413076
Qatar 2022412193
CanadaMéxicoHoa Kỳ 2026Vô địch8710141
MarocBồ Đào NhaTây Ban Nha 2030Đồng chủ nhà
Ả Rập Xê Út 2034Chưa xác định
Tổng cộng17/23
2 lần vô địch
7538181912276

Giải vô địch bóng đá châu Âu

[sửa | sửa mã nguồn]
Các cầu thủ Tây Ban Nha ăn mừng chức vô địch Euro 2012
Năm Kết quả St T H [51] B Bt Bb
1960Bỏ cuộc ở vòng loại
Tây Ban Nha 1964Vô địch220042
1968Không vượt qua vòng loại
1972
1976
Ý 1980Vòng 1301224
Pháp 1984Á quân513145
Đức 1988Vòng 1310235
1992Không vượt qua vòng loại
Anh 1996Tứ kết413043
Bỉ Hà Lan 2000420277
Bồ Đào Nha 2004Vòng 1311122
Áo Thụy Sĩ 2008Vô địch6510123
Ba Lan Ukraina 20126420121
Pháp 2016Vòng 2420254
Liên minh châu Âu 2020Bán kết6240136
Đức 2024Vô địch7700154
Cộng hòa Ireland Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland 2028Chưa xác định
Ý Thổ Nhĩ Kỳ 2032
Tổng cộng12/17
4 lần vô địch
532815108346

Cúp Liên đoàn các châu lục

[sửa | sửa mã nguồn]
Năm Kết quả St T H [51] B Bt Bb
1992Không giành quyền tham dự
1995
1997
1999
2001
2003
2005
Cộng hòa Nam Phi 2009Hạng ba5401114
Brasil 2013Á quân5311154
2017Không giành quyền tham dự
Tổng cộng2/10
1 lần á quân
10712268

UEFA Nations League

[sửa | sửa mã nguồn]
Mùa giải Hạng đấu Bảng Pld W D L GF GA RK
2018–19 A 4 4 2 0 2 12 7 7th
Ý 2020–21 A 4 8 4 2 2 16 6 2nd
Hà Lan 2022–23 A 2 8 4 3 1 10 6 1st
Đức 2024–25 A 4 8 4 3 1 7 6 2nd
Tổng cộng 20 10 5 5 38 19 1st

Thế vận hội

[sửa | sửa mã nguồn]
  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
Năm Kết quả Thứ hạng Pld W D L GF GA
Bỉ 1920Huy chương bạc2nd540195
Pháp 1924Vòng 117th100101
Hà Lan 1928Tứ kết6th311199
1936Bỏ cuộc
1948Không vượt qua vòng loại
1952
1956
1960
1964
México 1968Tứ kết5th421142
1972Không vượt qua vòng loại
Canada 1976Vòng 113th200213
Liên Xô 198010th303022
1984Không vượt qua vòng loại
1988
Tổng cộng 1 lần huy
chương bạc
6/15 18 7 5 6 25 22

Danh hiệu và kỷ lục

[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu vô địch

[sửa | sửa mã nguồn]
  • FIFA World Cup không khung
  • UEFA European Championship không khung
  • UEFA Nations League không khung
    • Vô địch (1): 2023
    • Về nhì: 2021, 2025
  • FIFA Confederations Cup không khung
  • Olympic Games Football
    • Huy chương vàng không khung: 1992, 2024
    • Huy chương bạc không khung: 1920

Giải thưởng tập thể

[sửa | sửa mã nguồn]
  • FIFA Fair Play Trophy
    • Thắng giải (4): 2006, 2010, 2013, 2018
  • FIFA Team of the Year
    • Thắng giải (6): 2008, 2009, 2010, 2011, 2012, 2013
  • Prince of Asturias Award for Sports
    • Thắng giải: 2010
  • Laureus World Team of the Year
    • Thắng giải: 2011

Đội bóng

[sửa | sửa mã nguồn]
Số trận bất bại liên tiếp
35 trận (2007-2009) (bằng với  Brasil từ 1993-1996)
Số trận thắng liên tiếp (bao gồm cả giao hữu)
15 trận (2008-2009)
Số trận bất bại liên tiếp ở các giải đấu chính thức của FIFA
28 trận (2010-2013)[52]
Số trận thắng nhiều nhất bởi 1 huấn luyện viên nước ngoài
13 trận - Vicente del Bosque
Số điểm cao nhất ở vòng loại World Cup
30/30 điểm World Cup 2010, vòng loại bảng 5
Đội vô địch World Cup để thủng lưới ít nhất
2 bàn - World Cup 2010 (bằng với  Pháp, 1998 và  Ý, 2006)

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]
Số trận khoác áo nhiều nhất
180- Sergio Ramos
Số bàn thắng nhiều nhất
59 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất trong 1 mùa giải
13 - David Villa (2008-2009)
Số hattrick ghi được nhiều nhất
3 - Fernando TorresDavid Villa
Số trận ghi bàn liên tiếp
6 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở World Cup
8 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ World Cup
5 - Emilio Butragueño(1986) & David Villa(2010)
Số trận ghi bàn liên tiếp ở World Cup
4 - David Villa(2010)
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Euro
5 - Fernando Torres
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Euro
4 - David Villa
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở Confed Cup
8 - Fernando Torres
Số bàn thắng ghi được nhiều nhất ở một kỳ Confed Cup
5 - Fernando Torres

Danh sách cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
Sergio Ramos là cầu thủ khoác áo đội tuyển quốc gia nhiều nhất với 180 trận

Danh sách cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất tính đến ngày 14 tháng 7 năm 2024:

Các cầu thủ in đậm vẫn đang thi đấu cho đội tuyển.

# Cầu thủ Thời gian khoác áo Số trận Bàn thắng
1 Sergio Ramos 2005–2021 180 23
2 Iker Casillas 2000–2016 167 0
3 Sergio Busquets 2009–2022 143 2
4 Xavi Hernández 2000–2014 133 12
5 Andrés Iniesta 2006–2018 131 14
6 Andoni Zubizarreta 1985–1998 126 0
7 David Silva 2006–2018 125 35
8 Xabi Alonso 2003–2014 114 16
9 Fernando Torres 2003–2014 110 38
Cesc Fàbregas 2006–2016 110 15

Danh sách cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất

[sửa | sửa mã nguồn]
David Villa là cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất với 59 bàn.

Danh sách cầu thủ ghi bàn cho đội tuyển nhiều nhất tính đến ngày 19 tháng 7 năm 2026:

# Cầu thủ Thời gian khoác áo Bàn thắng Số trận Hiệu suất
1 David Villa 2005–2014 59 98 0.6
2 Raúl González 1996–2006 44 102 0.43
3 Fernando Torres 2003–2014 38 110 0.35
4 Álvaro Morata 2014–2025 37 87 0.43
5 David Silva 2006–2018 35 125 0.28
6 Mikel Oyarzabal 2016– 30 61 0.49
7 Fernando Hierro 1989–2002 29 89 0.33
8 Fernando Morientes 1998–2007 27 47 0.57
9 Emilio Butragueño 1984–1992 26 69 0.38
10 Ferran Torres 2020– 25 65 0.38

Số lần ghi bàn trên chấm phạt đền

[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 14 tháng 6 năm 2015, có tất cả năm cầu thủ ghi từ 5 bàn thắng trở lên trên chấm phạt đền cho đội tuyển:

Penalties Player
9 Fernando Hierro
Míchel
7 David Villa
6 Xabi Alonso
5 Fernando Torres

Lịch sử huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]
Các huấn luyện viên trưởng đội tuyển Tây Ban Nha

Chú thích

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. ""La Roja" from Miguel, Spain". ngày 17 tháng 6 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2010.
  2. "La Roja lean to the left". FIFA. ngày 16 tháng 6 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 4 tháng 1 năm 2012.
  3. "Statistics – Most-capped players". European football database. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2016.
  4. "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 19 tháng 1 năm 2026. Truy cập ngày 19 tháng 1 năm 2026.
  5. Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
  6. Brazil, Tây Ban Nha nhận giải thưởng fairplay Lưu trữ ngày 25 tháng 12 năm 2014 tại Wayback Machine Tuổi Trẻ Online
  7. Tây Ban Nha 3-0 Nga Lưu trữ ngày 22 tháng 10 năm 2013 tại Wayback Machine VnExpress
  8. Tây Ban Nha lần thứ hai vô địch Euro Ngoisao.net
  9. ĐHTB Euro 2008 Lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2013 tại Wayback Machine Tienphong.vn
  10. "Del Bosque chính thức ra mắt làm HLV đội tuyển Tây Ban Nha". Báo Thể thao & Văn hóa - Thông tấn xã Việt Nam. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016.
  11. Confederations Cup 2009: Thắng Nam Phi 3 - 2, Tây Ban Nha giành giải ba Lưu trữ ngày 2 tháng 7 năm 2009 tại Wayback Machine Sài Gòn Giải Phóng Online
  12. Lượt trận cuối bảng H (rạng sáng 26-6) Tây Ban Nha - Chile 2-1 Lưu trữ ngày 5 tháng 3 năm 2016 tại Wayback Machine Sài Gòn giải phóng Online
  13. Thắng Paraguay 1 - 0, Tây Ban Nha tiến vào bán kết Lưu trữ ngày 6 tháng 1 năm 2011 tại Wayback Machine Sài Gòn giải phóng Online
  14. Bán kết World Cup 2010 Đức – Tây Ban Nha 0-1: Bất ngờ cuối cùng Lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2012 tại Wayback Machine Online Thiếu Niên
  15. Hà Lan - Tây Ban Nha 0-1: Iniesta đưa "vua" châu Âu lên đỉnh thế giới Thể thao & Văn hóa
  16. Iker Casillas giành giải thưởng găng tay vàng Lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2010 tại Wayback Machine Giáo dục & Thời đại Online
  17. EURO 2012 - Bảng C: Tây Ban Nha hòa Italia 1 - 1 Lưu trữ ngày 27 tháng 9 năm 2012 tại Wayback Machine Sài Gòn giải phóng Online
  18. Torres lập cú đúp, Tây Ban Nha đại thắng Cộng Hòa Ireland Diễn đàn Dân Trí Việt Nam
  19. Tây Ban Nha 1-0 Croatia: Tiếc cho "kẻ bại trận" Lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2012 tại Wayback Machine Tin Thể thao
  20. Tây Ban Nha 2 - 0 Pháp: Alonso tiễn Pháp về nước[liên kết hỏng] Đài tiếng nói Việt Nam
  21. Bồ Đào Nha 0 - 0 Tây Ban Nha (luân lưu: 2-4): TBN vào chung kết Giáo dục Việt Nam
  22. Tây Ban Nha 4-0 Italia: "La Roja" đi vào lịch sử Lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2012 tại Wayback Machine Thể thao & Văn hóa. Thứ Hai, 02/07/2012 01:34
  23. Tây Ban Nha 2-1 Uruguay: Tiki-taka hồi sinh Lưu trữ ngày 21 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine VnExpress
  24. Torres-Villa rực sáng, Tây Ban Nha "hủy diệt" Tahiti 10-0 Lưu trữ ngày 2 tháng 8 năm 2013 tại Wayback Machine Diễn đàn Dân Trí Việt Nam
  25. Nigeria-Tây Ban Nha (0-3): Chia tay Đại bàng xanh Lưu trữ ngày 30 tháng 7 năm 2013 tại Wayback Machine Dân Việt
  26. Tây Ban Nha 0-0 Italia (Penalty 7-6): Thắng nghẹt thở, TBN hẹn Brazil ở trận chung kết Lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2013 tại Wayback Machine Thể thao & Văn hóa. Thứ Năm, 27/06/2013 21:55
  27. "La agenda del día: 13 de junio". FIFA.com. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  28. "Van Gaal masterminds Dutch destruction of Spain". ESPN.co.uk. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2015. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  29. "World Cup: Spain go out of World Cup after 2-0 loss to Chile". SkySports. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  30. "Australia v Spain". Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2015.
  31. Vy Anh (ngày 9 tháng 12 năm 2022). "Tây Ban Nha bổ nhiệm HLV thay Enrique". VnExpress. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2024.
  32. Nhật Tảo (ngày 8 tháng 12 năm 2022). "Tây Ban Nha sa thải HLV Enrique". VnExpress. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2024.
  33. "Luis de la Fuente, en su presentación: "Va a ser una etapa fantástica"" [Luis de la Fuente trong bài diễn thuyết của mình: "Đây sẽ là một sân khấu tuyệt vời"]. Liên đoàn bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2024.
  34. Vy Anh (ngày 26 tháng 3 năm 2023). "Tây Ban Nha thắng trận ra mắt HLV mới". VnExpress. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2024.
  35. Văn An (ngày 19 tháng 6 năm 2023). "Thắng Croatia trên chấm luân lưu, Tây Ban Nha vô địch Nations League". Lao Động. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2024.
  36. "Euro 2024: All you need to know as England take on Spain in final". BBC Newsround (bằng tiếng Anh). ngày 11 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  37. Tuấn Việt; Xuân Bình (ngày 14 tháng 7 năm 2024). "Hạ tuyển Anh phút 86, Tây Ban Nha vô địch Euro 2024". VnExpress. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2024.
  38. Hồng Duy (ngày 15 tháng 7 năm 2024). "Tây Ban Nha lập kỷ lục toàn thắng tại Euro". VnExpress. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2024.
  39. "Euro 2024 awards: Rodri wins Best Player, Yamal takes home Best Young Player". FOX Sports (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  40. Rai, Guillermo (ngày 27 tháng 1 năm 2025). "Luis de la Fuente extends Spain contract until Euro 2028". The New York Times (bằng tiếng Anh). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  41. Butler, Michael; Brewin, John (ngày 23 tháng 3 năm 2025). "Spain squeeze past Netherlands, Germany beat Italy, and more: Nations League – as it happened". the Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  42. Xuân Bình. "Yamal lập cú đúp, giúp Tây Ban Nha thắng Pháp 5-4". VnExpress. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  43. Kim Anh (ngày 9 tháng 6 năm 2025). "Ronaldo ghi bàn, Bồ Đào Nha thắng Tây Ban Nha và vô địch Nations League". Báo Dân Trí. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 6 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2025.
  44. "Spain 2-2 Turkey: Spain equal 31-game unbeaten record and book World Cup spot". BBC Sport (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  45. Lowe, Sid (ngày 15 tháng 6 năm 2026). "Cape Verde shock Spain with historic draw on World Cup debut". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  46. Lutz, Tom (ngày 27 tháng 6 năm 2026). "Uruguay 0-1 Spain: World Cup 2026 – as it happened". the Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  47. "How Spain and Argentina Reached the 2026 World Cup Final". SI (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 7 năm 2026. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  48. Tuấn Long - Quốc Thắng (ngày 19 tháng 7 năm 2026). "Thắng 10 người Argentina sau 120 phút, Tây Ban Nha đoạt chức vô địch World Cup 2026". Tuổi Trẻ. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  49. Văn Trình (ngày 20 tháng 7 năm 2026). "Đội tuyển Tây Ban Nha thâu tóm danh hiệu cá nhân, Yamal bị đồng đội vượt mặt". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  50. Thu Bồn (ngày 20 tháng 7 năm 2026). "HLV Fuente và người hùng Torres nói tuyệt hay khi vô địch World Cup: 'Tây Ban Nha xứng đáng thắng Argentina'". Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2026.
  51. 1 2 3 Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
  52. "Tây Ban Nha đã lập nên kỷ lục "vô tiền khoáng hậu"". Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. ngày 24 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2016.[liên kết hỏng]
  1. 2:00 ngày 3 tháng 7 năm 2026 giờ Việt Nam

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]
Danh hiệu
Tiền nhiệm:
 Liên Xô
Vô địch châu Âu
1964
Kế nhiệm:
 Ý
Tiền nhiệm:
 Ý
Vô địch châu Âu
2024
Kế nhiệm:
Đương kim vô địch
Tiền nhiệm:
 Hy Lạp
Vô địch châu Âu
2008, 2012
Kế nhiệm:
 Bồ Đào Nha
Tiền nhiệm:
 Ý
Vô địch thế giới
2010
Kế nhiệm:
 Đức