Villarreal CF

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Villarreal
Villarreal CF logo.svg
Tên đầy đủVillarreal Club de Fútbol, S.A.D.
Biệt danhEl Submarino Amarillo (Tàu ngầm vàng)
Thành lập10 tháng 3 năm 1923
Sân vận độngEl Madrigal
Vila-real
Valencian Community
Tây Ban Nha
Sức chứa sân25,000
Chủ tịch điều hànhTây Ban Nha Fernando Roig Alfonso
Người quản lýTây Ban Nha Javier Calleja
Giải đấuLa Liga
2018–19La Liga, 14th
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách
Màu áo thứ ba
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Villarreal, thường được biết tới với tên Villarreal CF (Villareal Club Football) và Villarreal, là một đội bóng đá Tây Ban Nha có trụ sở ở Villarreal, một thị trấn nhỏ thuộc Castellón. Đội bóng chơi ở sân vận động Madrigal với 25,000 chỗ ngồi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng được thành lập vào năm 1923 và chơi ở giải địa phương cho tới Chiến tranh lạnh Tây Ban Nha, quãng thời gian mà bóng đá Tây Ban Nha khủng hoảng. Sau cuộc chiến, đội bóng chơi ở nhiều giải đấu cũng như Tercera Division cho tới mùa giải 1970-71, Villarreal lần đầu tiên chơi ở Segunda Division trong 2 mùa giải, cuối cùng đội bóng lại bị xuống hạng. Sau khi chơi ở Segunda Division B trong một mùa giải ở giai đoạn cuối những năm 1980, Villarreal đã chơi ở Segunda Division ở đầu mùa giải 1992-93.

La Liga de las Estrellas[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 5 năm 1998 Villarreal được lên hạng thi đấu ở La Liga ở mùa giải 1998-99, mùa giải mà họ có trận mở màn gặp Real Madrid. Sau một mùa giải khó khăn, Villarreal lại bị xuống hạng, sau đó họ lại lên hạng nhờ đứng ở vị trí thứ 3 và vẫn trụ ở La Liga tới nay.

Thành công ở đấu trường châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi về đích ở vị trí thứ 7 mùa giải sau đó, Villarreal đứng ở vị trí giữa bảng xếp hạng trong 2 mùa giải trước khi đánh bại SC Heerenveen ở trận chung kết để vô địch cúp châu Âu lần đầu tiên, cúp Intertoto vào mùa hè 2003, do đó có một suất dự vòng sơ loại cúp UEFA. Ở mùa giải 2003-04, Villarreal vào tới bán kết cúp UEFA, sau đó thua đội bóng đồng hương Valencia CF. Tuy nhiên, mùa hè đó họ lại vô địch cúp Intertoto, và được vào vòng sơ loại cúp UEFA, giải đấu mà họ vào tới tứ kết. Họ bị loại sau khi thua đội bóng Hà Lan AZ Alkaamar với tổng tỉ số 3-2. Cũng trong mùa giải 2004-05, Villarreal về đích ở vị trí thứ 3 ở La Liga, và có một suất dự vòng sơ loại cúp C1.

Mùa giải 2005-06 đội bóng đã gặt hái được những thành công ở châu Âu sau màn trình diễn ở cúp C1. Ở vòng loại, Villarreal đánh bại Everton của Anh với tổng tỉ số 4-2. Ở vòng bảng, Villarreal ở cùng bảng với S.L. Benfica, OSC LilleManchester United. Villarreal đi tiếp nhờ thành tích bất bại tại vòng bảng với 2 chiến thắng cùng 4 trận hoà, bao gồm 2 trận hoà không bàn thắng với MU. Đội bóng tiếp tục giành vé vào tứ kết sau khi đánh bại đội bóng Scotland Rangers theo luật bàn thắng sân khách.

El Submarino Amarillo phải chạm trán gã khổng lồ nước Ý Inter Milan ở tứ kết. Lượt đi diễn ra vào 29 tháng 3 năm 2006 và Villarreal đã thua 2-1 mặc dù Diego Forlan mở tỉ số ở ngay phút đầu tiên. Tuy nhiên, khi trở lại sân nhà, Villarreal đã giành chiến thắng 1-0 và được vào bán kết theo luật bàn thắng sân khách. Ở bán kết, Villarreal thua Arsenal với tổng tỉ số 1-0 và ở trận lượt về thủ thành của Arsenal là Jens Lehmann đã cản phá thành công cú đá penalty ở phút cuối cùng của Juan Roman Riquelme. Villarreal đã chiêu mộ Robert Pirès ở mùa hè sau đó. Anh hiện vẫn đang chơi ở đây dù cho có một thời gian dài bị chấn thương. Mùa giải 2006-07 khởi đầu rất tệ với Tàu ngầm vàng nhưng họ vẫn được thi đấu ở cúp UEFA sau 8 trận thắng liên tiếp. Đội bóng từng chỉ đứng thứ 13 sau 30 vòng ở La Liga, nhưng họ đã leo lên vị trí thứ năm vào cuối mùa.

Đội bóng được vào thẳng vòng bảng cúp C1 châu Âu 2008-09, nhờ về đích ở vị trí thứ 2 mùa giải trước đó. Họ phải đối đầu Manchester United, ở trận đấu thứ 2, họ phải đối đầu CelticAalborg BK. Họ có một sự khởi đầu thành công với trận hoà không bàn thắng trên sân Old Trafford của MU. Họ có trận thắng đầu tiên vào ngày 30 tháng 9 sau khi đánh bại Celtic của Gordon Strachan 1-0 ở sân nhà sau cú đá phạt của Marcos Senna. Vào ngày 21 tháng 10, họ thắng 6-3 trước Aalborg. Đội bóng Tây Ban Nha sau đó được vào vòng đấu loại trực tiếp nhờ trận hoà 2-2 với Aalborg trên sân khác và một trận hoà không bàn thắng nữa với đội bóng đến từ Lanchastria và ở trận đấu cuối cùng của vòng bảng, họ thua trước đội bóng đã chắc chắn bị loại là Celtic.

Ở vòng loại trực tiếp, họ đối đầu Panathinaikos, đội bóng sau đó đã cầm hoà Villarreal 1-1 ở sân khách, nhưng lại thua 1-2 ở Athens. Villarreal được vào vòng tứ kết lần thứ 2 trong 2 mùa giải, và một lần nữa lại phải chạm trán Arsenal. Trận đầu tiên đã kết thúc với tỉ số hoà 1-1 sau các bàn thắng của Marcos Senna và Emmanuel Adebayor. Nhưng ở trận lượt về Tàu ngầm vàng đã thua 3-0.

Ở mùa giải 2009-10, Villarreal có suất dự UEFA Europa League, sau khi đánh bại NAC Breda với tổng tỉ số 2-9. Họ cùng bảng với Levski Sofia, đội bóng họ đã đánh bại 1-0 trong trận đầu tiên, cùng Lazio cùng Red Bull Salzburg. Họ về đích ở vị trí thứ 2, sau Red Bull Salzburg. Villarreal sẽ gặp VfL Wolfsburg ở vòng 32 đội.

Ở mùa giải 2010-11, Villarreal xuất sắc lọt vào bán kết UEFA Europa League và đứng thứ 4 [[La Liga

Xuống hạng[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải 2011-12, Villarreal thi đấu không tốt, với khởi đầu rất tệ khi thua Barcelona 0-5, ở cúp nhà vua, họ thúc thủ trước Mirandes, đối thủ thấp hơn họ những hai hạng đấu, ở La Liga, họ thi đấu tệ hại, vòng cuối gặp Atlético Madrid, chỉ cần họ giành được một điểm là sẽ chính thức trụ hạng, nhưng vào những phút cuối của trận đấu, Falcao đã ghi bàn giúp Atlético Madrid giành 3 điểm, còn Villarreal chính thức xuống hạng sau 13 năm gắn bó

Villarreal có khởi đầu không đến nỗi nào ở Segunda División, tuy nhiên vào giữa mùa họ thì đấu sa sút và rơi xuống vị trí thứ 7, Júlio Velázquez bị sa thải, người thay thế ông là Marcelino García Toral

Trở lại La Liga[sửa | sửa mã nguồn]

Ở mùa giải 2013/14, với lực lượng không được đánh giá cao, chỉ có tài năng “không bao giờ lớn” Giovani Dos Santos là bản hợp đồng đáng chú ý, Villarreal vẫn luôn nằm trong tốp đầu và kết thúc La Liga ở vị trí thứ 6, đồng nghĩa với một suất dự UEFA Europa League, đấu trường mà họ đã vào bán kết 2 lần vào các mùa 2003/04 và 2010/11. Đó là thành công lớn trong ngày trở lại của chiếc Tàu ngầm Vàng mới, trẻ trung, ổn định hơn.

Sang mùa giải kế tiếp, BLĐ mang về những tài năng năng trẻ: Jonathan Dos Santos, Denis Cheryshev, đặc biệt là tài năng trẻ Argentina Luciano Vietto để đảm bảo chiều sâu đội hình, giúp Villarreal có thể căng sức thi đấu trên 3 mặt trận mà không lặp lại vết xe đổ trước đó.

Mùa giải 2015/2016, Villarreal thi đấu rất xuất sắc, với việc đứng thứ 4 tại La Liga vào bán kết UEFA Europa League và chỉ chịu thua trước Liverpool

Sang mùa kế tiếp, do bất đồng với ban lãnh đạo, Marcelino García Toral bị sa thải, người thay thế ông là Fran Escribá, dù vậy, Villarreal vẫn thi đấu xuất sắc khi đứng thứ 5 tại La Liga

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích qua các mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Giải đấu Vị trí Copa del Rey
from 29-30 Khu vực
to 55-56 Khu vực
1956/57 8th
1957/58 5th
1958/59 6th
1959/60 12th
1960/61 14th
from 61-62 Regional
to 66-67 Regional
1967/68 3rd
1968/69 9th
1969/70 1st
1970/71 16th
1971/72 17th
1972/73 12th
1973/74 12th
1974/75 8th
1975/76 13th
Mùa giải Giải đấu Vị trí Copa del Rey
1976/77 Regional
1977/78 15th
1978/79 13th
1979/80 9th
1980/81 16th
1981/82 7th
1982/83 14th
1983/84 13th
1984/85 14th
1985/86 6th
1986/87 3rd
1987/88 2ªB 2nd
1988/89 2ªB 4th
1989/90 2ªB 18th
1990/91 2nd
1991/92 2ªB 2nd
1992/93 13th
1993/94 16th
Mùa giải Vị trí Giải đấu Copa del Rey
1994/95 10th
1995/96 15th
1996/97 10th
1997/98 4th
1998/99 18th
1999/00 3rd
2000/01 7th
2001/02 15th
2002/03 15th
2003/04 8th
2004/05 3rd
2005/06 7th
2006/07 5th
2007/08 2nd
2008/09 5th
2009/10
2010–11 4th Quarter-finals
2011–12 18th Round of 32
2012–13 2nd Second round
2013–14 6th Round of 16
2014–15 6th Semi-finals
2015–16 4th Round of 16
2016–17 5th Round of 16
2017–18 5th Round of 16
2018–19 14th Round of 16

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 2 tháng 9 năm 2019[1]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Tây Ban Nha TM Sergio Asenjo
2 Tây Ban Nha HV Mario Gaspar (Đội phó)
3 Tây Ban Nha HV Raúl Albiol
4 Tây Ban Nha HV Pau Torres
5 Argentina TV Santiago Caséres
6 Argentina HV Ramiro Funes Mori
7 Tây Ban Nha Gerard
8 Tây Ban Nha TV Santi Cazorla
9 Colombia Carlos Bacca
10 Tây Ban Nha TV Vicente Iborra
11 Nigeria TV Samuel Chukwueze
13 Tây Ban Nha TM Andrés Fernández
14 Tây Ban Nha TV Manu Trigueros
Số áo Vị trí Cầu thủ
17 Tây Ban Nha Paco Alcácer
18 Tây Ban Nha HV Alberto Moreno
19 Cameroon TV Zambo Anguissa
20 Tây Ban Nha HV Rubén Peña
21 Tây Ban Nha TV Bruno Soriano (Đội trưởng)
22 Argentina HV Leo Suárez
23 Tây Ban Nha TV Moi Gómez
24 Tây Ban Nha TV Javi Ontiveros
25 Argentina TM Mariano Barbosa
15 Tây Ban Nha TV Manu Morlanes
16 Tây Ban Nha HV Xavi Quintillà

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Tây Ban Nha TV Dani Raba (tại Huesca)
Tây Ban Nha HV Álvaro González (tại Marseille)
Tây Ban Nha HV Jaume Costa (tại Valencia)
Thổ Nhĩ Kỳ Enes Ünal (tại Valladolid)
Cameroon Karl-Toko Ekambi (tại Lyon)
Nigeria TV Alfonso Pedraza (tại Real Betis)

Các cầu thủ nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Các cựu danh thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Các cựu huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Primer equipo” [First team] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Villarreal CF. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]