Villarreal CF

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Villarreal
Villarreal CF logo.svg
Tên đầy đủ Villarreal Club de Fútbol, S.A.D.
Biệt danh El Submarino Amarillo (Tàu ngầm vàng)
Thành lập 10 tháng 3 năm 1923
Sân vận động El Madrigal
Vila-real
Valencian Community
Tây Ban Nha
Sức chứa sân 25,000
Chủ tịch Tây Ban Nha Fernando Roig Alfonso
Quản lý Tây Ban Nha Marcelino García Toral
Giải đấu La Liga
2015-16 La Liga, 4th
Sân khách
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Villarreal, thường được biết tới với tên Villarreal CF (Villareal Club Football) và Villarreal, là một đội bóng đá Tây Ban Nha có trụ sở ở Villarreal, một thị trấn nhỏ thuộc Castellón. Đội bóng chơi ở sân vận động Madrigal với 25,000 chỗ ngồi.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội bóng được thành lập vào năm 1923 và chơi ở giải địa phương cho tới Chiến tranh lạnh Tây Ban Nha, quãng thời gian mà bóng đá Tây Ban Nha khủng hoảng. Sau cuộc chiến, đội bóng chơi ở nhiều giải đấu cũng như Tercera Division cho tới mùa giải 1970-71, Villarreal lần đầu tiên chơi ở Segunda Division trong 2 mùa giải, cuối cùng đội bóng lại bị xuống hạng. Sau khi chơi ở Segunda Division B trong một mùa giải ở giai đoạn cuối những năm 1980, Villarreal đã chơi ở Segunda Division ở đầu mùa giải 1992-93.

La Liga de las Estrellas[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 24 tháng 5 năm 1998 Villarreal được lên hạng thi đấu ở La Liga ở mùa giải 1998-99, mùa giải mà họ có trận mở màn gặp Real Madrid. Sau một mùa giải khó khăn, Villarreal lại bị xuống hạng, sau đó họ lại lên hạng nhờ đứng ở vị trí thứ 3 và vẫn trụ ở La Liga tới nay.

Thành công ở đấu trường châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi về đích ở vị trí thứ 7 mùa giải sau đó, Villarreal đứng ở vị trí giữa bảng xếp hạng trong 2 mùa giải trước khi đánh bại SC Heerenveen ở trận chung kết để vô địch cúp châu Âu lần đầu tiên, cúp Intertoto vào mùa hè 2003, do đó có một suất dự vòng sơ loại cúp UEFA. Ở mùa giải 2003-04, Villarreal vào tới bán kết cúp UEFA, sau đó thua đội bóng đồng hương Valencia CF. Tuy nhiên, mùa hè đó họ lại vô địch cúp Intertoto, và được vào vòng sơ loại cúp UEFA, giải đấu mà họ vào tới tứ kết. Họ bị loại sau khi thua đội bóng Hà Lan AZ Alkaamar với tổng tỉ số 3-2. Cũng trong mùa giải 2004-05, Villarreal về đích ở vị trí thứ 3 ở La Liga, và có một suất dự vòng sơ loại cúp C1.

Mùa giải 2005-06 đội bóng đã gặt hái được những thành công ở châu Âu sau màn trình diễn ở cúp C1. Ở vòng loại, Villarreal đánh bại Everton của Anh với tổng tỉ số 4-2. Ở vòng bảng, Villarreal ở cùng bảng với S.L. Benfica, OSC LilleManchester United. Villarreal đi tiếp nhờ thành tích bất bại tại vòng bảng với 2 chiến thắng cùng 4 trận hoà, bao gồm 2 trận hoà không bàn thắng với MU. Đội bóng tiếp tục giành vé vào tứ kết sau khi đánh bại đội bóng Scotland Rangers theo luật bàn thắng sân khách.

El Submarino Amarillo phải chạm trán gã khổng lồ nước Ý Inter Milan ở tứ kết. Lượt đi diễn ra vào 29 tháng 3 năm 2006 và Villarreal đã thua 2-1 mặc dù Diego Forlan mở tỉ số ở ngay phút đầu tiên. Tuy nhiên, khi trở lại sân nhà, Villarreal đã giành chiến thắng 1-0 và được vào bán kết theo luật bàn thắng sân khách. Ở bán kết, Villarreal thua Arsenal với tổng tỉ số 1-0 và ở trận lượt về thủ thành của Arsenal là Jens Lehmann đã cản phá thành công cú đá penalty ở phút cuối cùng của Juan Roman Riquelme. Villarreal đã chiêu mộ Robert Pirès ở mùa hè sau đó. Anh hiện vẫn đang chơi ở đây dù cho có một thời gian dài bị chấn thương. Mùa giải 2006-07 khởi đầu rất tệ với Tàu ngầm vàng nhưng họ vẫn được thi đấu ở cúp UEFA sau 8 trận thắng liên tiếp. Đội bóng từng chỉ đứng thứ 13 sau 30 vòng ở La Liga, nhưng họ đã leo lên vị trí thứ năm vào cuối mùa.

Đội bóng được vào thẳng vòng bảng cúp C1 châu Âu 2008-09, nhờ về đích ở vị trí thứ 2 mùa giải trước đó. Họ phải đối đầu Manchester United, ở trận đấu thứ 2, họ phải đối đầu CelticAalborg BK. Họ có một sự khởi đầu thành công với trận hoà không bàn thắng trên sân Old Trafford của MU. Họ có trận thắng đầu tiên vào ngày 30 tháng 9 sau khi đánh bại Celtic của Gordon Strachan 1-0 ở sân nhà sau cú đá phạt của Marcos Senna. Vào ngày 21 tháng 10, họ thắng 6-3 trước Aalborg. Đội bóng Tây Ban Nha sau đó được vào vòng đấu loại trực tiếp nhờ trận hoà 2-2 với Aalborg trên sân khác và một trận hoà không bàn thắng nữa với đội bóng đến từ Lanchastria và ở trận đấu cuối cùng của vòng bảng, họ thua trước đội bóng đã chắc chắn bị loại là Celtic.

Ở vòng loại trực tiếp, họ đối đầu Panathinaikos, đội bóng sau đó đã cầm hoà Villarreal 1-1 ở sân khách, nhưng lại thua 1-2 ở Athens. Villarreal được vào vòng tứ kết lần thứ 2 trong 2 mùa giải, và một lần nữa lại phải chạm trán Arsenal. Trận đầu tiên đã kết thúc với tỉ số hoà 1-1 sau các bàn thắng của Marcos Senna và Emmanuel Adebayor. Nhưng ở trận lượt về Tàu ngầm vàng đã thua 3-0.

Ở mùa giải 2009-10, Villarreal có suất dự UEFA Europa League, sau khi đánh bại NAC Breda với tổng tỉ số 2-9. Họ cùng bảng với Levski Sofia, đội bóng họ đã đánh bại 1-0 trong trận đầu tiên, cùng Lazio cùng Red Bull Salzburg. Họ về đích ở vị trí thứ 2, sau Red Bull Salzburg. Villarreal sẽ gặp VfL Wolfsburg ở vòng 32 đội.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích qua các mùa giải[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa giải Giải đấu Vị trí Copa del Rey
from 29-30 Khu vực
to 55-56 Khu vực
1956/57 8th
1957/58 5th
1958/59 6th
1959/60 12th
1960/61 14th
from 61-62 Regional
to 66-67 Regional
1967/68 3rd
1968/69 9th
1969/70 1st
1970/71 16th
1971/72 17th
1972/73 12th
1973/74 12th
1974/75 8th
1975/76 13th
Mùa giải Giải đấu Vị trí Copa del Rey
1976/77 Regional
1977/78 15th
1978/79 13th
1979/80 9th
1980/81 16th
1981/82 7th
1982/83 14th
1983/84 13th
1984/85 14th
1985/86 6th
1986/87 3rd
1987/88 2ªB 2nd
1988/89 2ªB 4th
1989/90 2ªB 18th
1990/91 2nd
1991/92 2ªB 2nd
1992/93 13th
1993/94 16th
Mùa giải Vị trí Giải đấu Copa del Rey
1994/95 10th
1995/96 15th
1996/97 10th
1997/98 4th
1998/99 18th
1999/00 3rd
2000/01 7th
2001/02 15th
2002/03 15th
2003/04 8th
2004/05 3rd
2005/06 7th
2006/07 5th
2007/08 2nd
2008/09 5th
2009/10

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 31 tháng 8 năm 2015[1]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Tây Ban Nha TM Sergio Asenjo
2 Tây Ban Nha HV Mario Gaspar (Đội phó)
3 Slovenia HV Bojan Jokić
4 Tây Ban Nha TV Tomás Pina (Đội phó 3)
5 Argentina HV Mateo Musacchio
6 Tây Ban Nha HV Víctor Ruiz
7 Tây Ban Nha TV Samu García
8 México TV Jonathan dos Santos
9 Tây Ban Nha Roberto Soldado
10 Brasil Léo Baptistão (cho mượn từ Atlético Madrid)
11 Tây Ban Nha HV Jaume Costa
13 Pháp TM Alphonse Areola (cho mượn từ PSG)
14 Tây Ban Nha TV Manu Trigueros
Số áo Vị trí Cầu thủ
17 Cộng hòa Dân chủ Congo Cédric Bakambu
18 Tây Ban Nha TV Denis Suárez
19 Tây Ban Nha TV Samu Castillejo
20 Tây Ban Nha Adrián López (cho mượn từ Porto)
21 Tây Ban Nha TV Bruno Soriano (Đội trưởng)
22 Serbia HV Antonio Rukavina
23 Ý HV Daniele Bonera
24 Bờ Biển Ngà HV Eric Bailly
25 Argentina TM Mariano Barbosa
26 Tây Ban Nha TV Matías Nahuel
27 Tây Ban Nha HV Adrián Marín
28 Tây Ban Nha TV Alfonso Pedraza
44 Tây Ban Nha HV Pablo Íñiguez

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Serbia HV Aleksandar Pantić (tại Eibar)
Tây Ban Nha TV Javier Espinosa (tại Elche)
Tây Ban Nha TV Moi Gómez (tại Getafe)
Tây Ban Nha TV Sergio Marcos (tại Lugo)
Nigeria Ikechukwu Uche (tại UANL)

Các cầu thủ nước ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Các cựu danh thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Các cựu huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Primer equipo” [First team] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Villarreal CF. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]