SC Heerenveen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
SC Heerenveen
Heerenveen.png
Tên đầy đủSportclub Heerenveen
Biệt danhDe Superfriezen (The Super Frisians)
Fean
Thành lập20 tháng 7, 1920; 99 năm trước
Sân vận độngSân vận động Abe Lenstra
Sức chứa sân27.224
Chủ tịch điều hànhLuuc Eisenga
Người quản lýJohnny Jansen
Giải đấuEredivisie
2018–19Eredivisie, thứ 11
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Màu áo sân khách
Mùa giải hiện nay

Sportclub Heerenveen (phát âm tiếng Hà Lan: [ˈspɔrtklɵp ˌɦeːrə(n)ˈveːn]; Tiếng Tây Frisia: Sportklub It Hearrenfean) là câu lạc bộ bóng đá chơi ở giải Eredivisie, giải đấu hàng đầu của bóng đá Hà Lan.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Sportclub Heerenveen được thành lập vào ngày 20 tháng 7 năm 1920 tại thị trấn Heerenveen, Friesland, với tên Athleta.[1] Nó đã đổi tên hai lần, lần đầu tiên thành Spartaan và sau đó thành v.v. Heerenveen vào năm 1922. Trong khi Hà Lan bị Đức chiếm đóng, Heerenveen đã giành được ba chức vô địch Bắc Hà Lan liên tiếp, và sau khi Thế chiến II kết thúc, câu lạc bộ này đã giành được danh hiệu tương tự sáu lần liên tiếp; sự thống trị của câu lạc bộ một phần được gán cho sự hiện diện của Abe Lenstra. Trong giai đoạn này, Lenstra đã dẫn dắt Heerenveen đến một chiến thắng nổi tiếng trước Ajax trong một trong những trận đấu được chú ý nhất trong lịch sử bóng đá nội địa Hà Lan.[2] Bị dẫn trước 5-1 với 25 phút còn lại, đội bóng đã kiên cường chiến đấu để giành chiến thắng 6-5 chung cuộc.

Trong những năm 1950, sự thống trị tầm khu vực của Heerenveen giảm dần và sau khi bóng đá Hà Lan chuyển sang chuyên nghiệp Lenstra rời khỏi đội để tham gia Câu lạc bộ thể thao Enschede, trước khi câu lạc bộ mà anh rời đi đã xuống hạng hai Tweede Divisie.[1] Đến cuối thập kỷ, Heerenveen đã rơi xuống hạng Eerste Divisie, nhưng sau đó lại tiếp tục xuống hạng một lần nữa. Vào năm 1969, 1970, câu lạc bộ này đã giành được chức vô địch Tweede Divisie để trở lại Eerste Divisie và trong hai mùa trong thập niên 1970, câu lạc bộ đã gần đạt được sự thăng hạng cho giải ngoại hạng Eredivisie. Đến năm 1974, câu lạc bộ gặp rắc rối về tài chính và để đảm bảo sự tồn tại của nó, nó đã được chia thành các bộ phận nghiệp dư và chuyên nghiệp, phần chuyên nghiệp được đổi tên thành sc Heerenveen.

Trong những năm 1980, Heerenveen hai lần thực hiện các trận playoff thăng hạng, nhưng đều không thành công trong cả hai lần.[1] Cuối cùng câu lạc bộ đã được thăng hạng Eredivisie vào năm 1990, trở thành câu lạc bộ Frisian đầu tiên đạt đến cấp cao nhất, với thất bại của người hàng xóm gần Cambuur.[2] Thành tích có được này là nhờ huấn luyện viên Frisian Foppe de Haan. Mùa giải đầu tiên của Heerenveen ở giải đấu hàng đầu của Hà Lan hoàn toàn không thành công và nó đã bị xuống hạng, trước khi trở lại vào năm 1993, mặc dù họ đã lọt vào trận chung kết của KNVB Cup khi vẫn còn là một câu lạc bộ Eerste Divisie. Sau khi trở thành một câu lạc bộ hàng đầu, Heerenveen chuyển đến một sân vận động mới, được đặt theo tên của cầu thủ nổi tiếng nhất của họ, Abe Lenstra Stadion và lọt vào trận chung kết Cúp KNVB lần thứ hai. Trận bán kết năm 1998 trong cuộc thi cúp đội bóng đã thua Ajax. Bởi vì Ajax và đội vào chung kết khác, PSV, đều có đủ điều kiện vào chơi trận chung kết cúp, nên một trận đấu quyết định là cần thiết để giành quyền chơi Cup C2 mùa tới. Heerenveen đã phải thi đấu với đội thua trận bán kết khác, Twente. Heerenveen thắng trận đấu đó trong đó Ruud van Nistelrooy ghi bàn thắng cuối cùng cho Heerenveen. Trận đấu kết thúc với tỷ số 3-1.

Heerenveen trở thành đối thủ cạnh tranh thường xuyên tại UEFA Cup, và vào năm 1999-2000 đã đứng thứ hai tại Eredivise, thành tích cao nhất từ trước đến nay và đủ điều kiện tham dự UEFA Champions League 2000-2001.[1]

Câu lạc bộ được lãnh đạo từ năm 1983 đến tháng 9 năm 2006 bởi chủ tịch Riemer van der Velde, nhiệm kỳ dài nhất của bất kỳ chủ tịch nào với một câu lạc bộ chuyên nghiệp ở Hà Lan. Theo kết quả các quá trình chuyển gần đây bao gồm Klaas-Jan Huntelaar, Afonso Alves, Michael Bradley, Miralem Sulejmani, Petter HanssonDanijel Pranjic (và các cầu thủ trước đó như Jon Dahl Tomasson, Marcus Allbäck, Erik Edman, Ruud van Nistelrooy, Igor KorneevDaniel Jensen), Heerenveen là một trong những câu lạc bộ Eredivisie an toàn nhất về tài chính. Một báo cáo năm 2010 của hiệp hội bóng đá Hà Lan cho thấy Heerenveen là câu lạc bộ Eredivisie duy nhất có ngân sách an toàn về tài chính.[3] Dưới nhiệm kỳ của Trond Sollied, Heerenveen đã giành được Cúp KNVB đầu tiên, cũng là chiếc cúp lớn đầu tiên. Trond Sollied sau đó đã bị sa thải vào ngày 31 tháng 8 năm 2009 do mở đầu mùa giải yếu kém và mâu thuẫn với hội đồng quản trị.

Vào ngày 17 tháng 5 năm 2009, câu lạc bộ đã đánh bại Twente 5-4 trong loạt sút luân lưu để giành Cup Hà Lan lần đầu tiên sau trận hòa 2-2 trong trận chung kết, với Gerald Sibon ghi bàn thắng quyết định.[4] Vào ngày 13 tháng 2 năm 2012, Marco van Basten thay thế Ron Jans, người đã dẫn dắt Heerenveen trong hai năm, với tư cách là huấn luyện viên đội bóng cho mùa giải 2012-13.

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 2 tháng 9 năm 2019[5]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Hà Lan TM Warner Hahn
2 Hà Lan HV Sherel Floranus
3 Đan Mạch HV Daniel Høegh
4 Đan Mạch HV Andreas Skovgaard
5 Hà Lan HV Lucas Woudenberg
6 Hà Lan TV Hicham Faik (đội trưởng)
7 Serbia Nemanja Mihajlović
8 Nigeria Chidera Ejuke
9 Đan Mạch Jens Odgaard (mượn từ Sassuolo)
10 Croatia TV Alen Halilović (mượn từ Milan)
11 Hà Lan Mitchell van Bergen
13 Hà Lan TV Jordy Bruijn
14 Thụy Điển HV Ibrahim Drešević
Số áo Vị trí Cầu thủ
15 Việt Nam HV Đoàn Văn Hậu (mượn từ Hà Nội FC)
16 Hà Lan HV Ricardo van Rhijn
17 Đan Mạch Anders Dreyer (mượn từ Brighton & Hove Albion)
18 Hà Lan HV Sven Botman (mượn từ Ajax)
20 Hà Lan TV Joey Veerman
21 Hà Lan TV Rodney Kongolo
22 Đan Mạch TV Emil Frederiksen
23 Ba Lan TM Filip Bednarek
24 Hà Lan TM Trevor Doornbusch
26 Hà Lan Arjen van der Heide
28 Thụy Điển TV Rami Hajal
31 Nigeria TV Hamdi Akujobi
32 Hà Lan TV Jan Ras

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ

Các cựu cầu thủ đáng chú ý[sửa | sửa mã nguồn]

Những cầu thủ được liệt kê dưới đây đã có thi đấu quốc tế giải trẻ và/hoặc giải chính thức cho các quốc gia tương ứng trước, trong khi và/hoặc sau khi chơi tại Heerenveen.

Lịch sử huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b “The history of Heerenveen”. www.sc-heerenveen.nl. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2008. 
  2. ^ a ă “sc Heerenveen: EVERY DUTCHMAN'S SECOND FAVORITE TEAM”. www.ajax-usa.com. Truy cập ngày 1 tháng 12 năm 2008. 
  3. ^ “Financiële problemen voor profclubs”. RTL Nieuws. Ngày 2 tháng 8 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2010. 
  4. ^ “Heerenveen prevail in Dutch final shoot-out”. Uefa.com. Ngày 17 tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2009. 
  5. ^ http://www.sc-heerenveen.nl/voetbal/selectie/spelers
  6. ^ van Cuilenborg, C. (Ed.) (2007). Voetbal international, seizoengids 2007–2008. (p. 92). Amsterdam: WP Sport Media BV.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]