Jon Dahl Tomasson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Jon Dahl Tomasson
Jon Dahl Tomasson.jpg
Tomasson với vai trò là trợ lý huấn luyện viên của Vitesse vào tháng 1 năm 2016
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Jon Dahl Tomasson
Ngày sinh 29 tháng 8, 1976 (43 tuổi)
Nơi sinh Copenhagen, Đan Mạch
Chiều cao 1,82 m
Vị trí Tiền đạo, Tiền đạo thứ hai
Thông tin về CLB
Đội hiện nay
Đan Mạch (trợ lý huấn luyện viên)
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1984–1985 Solrød FC
1985–1992 Køge
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
1992–1994 Køge 48 (28)
1994–1997 Heerenveen 78 (37)
1997–1998 Newcastle United 23 (3)
1998–2002 Feyenoord 122 (55)
2002–2005 Milan 76 (22)
2005–2007 VfB Stuttgart 30 (8)
2007–2008 Villarreal 36 (7)
2008–2011 Feyenoord 37 (20)
Tổng cộng 450 (180)
Đội tuyển quốc gia
1992 U16 Đan Mạch 3 (2)
1992 U17 Đan Mạch 8 (8)
1993–1995 U19 Đan Mạch 16 (12)
1995–1997 U21 Đan Mạch 10 (5)
1996 Đan Mạch B 1 (0)
1997–2010[1] Đan Mạch 112 (52)
Các đội đã huấn luyện
2012–2013 Excelsior (trợ lý huấn luyện viên)
2013–2014 Excelsior
2014 Roda JC Kerkrade
2015–2016 Vitesse (trợ lý huấn luyện viên)
2016– Đan Mạch (trợ lý huấn luyện viên)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia

Jon Dahl Tomasson (sinh ngày 29 tháng 8 năm 1976) là huấn luyện viên bóng đá người Đan Mạch và hiện đang là trợ lý huấn luyện viên của đội tuyển bóng đá quốc gia Đan Mạch. Tomasson là người Đan Mạch gốc Phần LanIceland[2]. Thời còn thi đấu, Tomasson được biết đến với khả năng chọn vị trí của mình và những pha dứt điểm chuẩn xác khi chơi ở vị trí tiền đạo dù cho tốc độ lẫn sức mạnh[3] của anh đều không quá nổi bật. Những danh hiệu lớn mà Tomasson có được trong suốt sự nghiệp thi đấu của mình gồm có chức vô địch UEFA vào năm 2002 ở mùa bóng cuối cùng anh thi đấu cho Feyenoord và chức vô địch UEFA Champions League anh giành được cùng với AC Milan vào năm 2003, Tomasson cũng một lần nữa cùng với AC Milan bước vào trận chung kết UEFA Champions League vào năm 2005 nhưng lại thất bại trước Liverpool. Anh cũng hai lần được vinh danh là cầu thủ xuất sắc nhất năm của Đan Mạch vào các năm 2002 và 2004.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi đầu sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sinh ra ở Copenhagen, anh là con trai của hai vợ chồng Bjarne Tomasson và Leila Dahl Petersen. Tomasson bắt đầu chơi bóng từ năm 5 tuổi trong đội trẻ của Solrød BK, câu lạc bộ này tọa lạc gần thành phố Køge. Vào năm 9 tuổi, anh chuyển đến câu lạc bộ lớn nhất vùng là Køge BK. Vào tháng 11 năm 1992, Tomasson có trận ra mắt chính thức đầu tiên cho câu lạc bộ của mình vào năm 16 tuổi. Ở hai năm tiếp theo sau đó, anh đã giúp Køge BK thăng hạng hai lần: cuối mùa giải năm 1993, khi Køge BK từ giải hạng tư Denmark Series thăng lên giải bóng đá hạng nhì Đan Mạch; và vào cuối mùa giải năm 1994, khi Køge BK được thăng lên giải hạng nhất.[4]

Heerenveen[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 12 năm 1984, Tomasson đồng ý gia nhập câu lạc bộ Heerenveen thuộc giải giải bóng đá vô địch quốc gia Hà Lan. Khi bắt đầu được đá chính vào mùa mùa bóng 1995-1996, Tomasson trở thành cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho câu lạc bộ khi anh ghi 14 bàn trong 30 lần được ra sân thi đấu của mình ở giải quốc nội. Và thành tích ghi bàn này của anh được giữ vững ở mùa mùa 1996-1997 khi anh nâng cao thành tích ghi bàn của mình lên 18 bàn và tiếp tục nắm giữ danh hiệu cầu thủ ghi bàn nhiều nhất cho Heerenveen. Thêm vào đó, anh còn giành được giải thưởng tài năng bóng đá Hà Lan của năm vào năm 1996 khi vượt qua những đối thủ nặng ký khác như Boudewijn ZendenPatrick Kluivert.

Newcastle United[sửa | sửa mã nguồn]

Thành công của anh ở câu lạc bộ Heerenveen đã khiến cho nhiều câu lạc bộ khác để mắt đến anh và Tomasson đã quyết định chuyển đến giải bóng đá Ngoại hạng Anh đầu quân cho câu lạc bộ Newcastle United vào tháng 7 năm 1997, lúc đó Kenny Dalglish đang là huấn luyện viên trưởng của đội bóng này. Dalglish nhận ra Tomasson là một cầu thủ có sự liên kết hoàn hảo với tiền đạo đội tuyển AnhAlan Shearer. Sự hợp tác giữa hai người trên hàng công ban đầu rất tốt, Tomasson đã thể hiện rất xuất sắc trong giải đấu giao hữu tiền mùa giải ở Cộng hòa Ireland. Tuy vậy, Shearer đối mặt với chấn thương và phải vắng mặt trong một khoảng thời gian, cùng với đó là vụ chuyển nhượng đầy tranh cãi của tiền đạo nổi tiếng Les Ferdinand đến Tottenham Hotspur. Chính những sự thay đổi bất ngờ này mà Tomasson phải từ bỏ vị trí tiền vệ tấn công sở trường của mình và chuyển qua vị trí tiền đạo. Anh gặp khó khăn trong việc thích nghi với vị trí mới do môi trường giải ngoại hạng Anh là giải đấu đòi hỏi sức mạnh và thế lực nhưng Tomasson lại không có điều đó.[5][6]. Anh chỉ ghi được 4 bàn trong 35 lần ra sân ở mọi giải đấu và mùa giải 97-98 năm đó, Newcastle chỉ đứng ở hạng thứ 13 ngay sau khi họ kết thúc ở vị trí thứ hai vào mùa giải năm ngoái.

Feyenoord[sửa | sửa mã nguồn]

Tomasson trở về Hà Lan vào tháng 7 năm 1998 và gia nhập Feyenoord, một lần nữa anh quay trở về vị trí tiền vệ tấn công quen thuộc của mình.[6]Câu lạc bộ sau đó giành chức vô địch giải quốc nội Hà Lan vào mùa bóng 1998-1999 và cùng với đó là siêu cúp Hà Lan.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Jon Dahl Tomasson – Century of International Appearances”. The Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 10 năm 2013.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  2. ^ “Das Tor-Geheimnis”. kicker.de (bằng tiếng Đức). 17 tháng 1 năm 2005. Truy cập ngày 17 tháng 1 năm 2005. 
  3. ^ “Jon Dahl Tomasson”. BBC Sport. 8 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2016. 
  4. ^ Køge Boldklub A/S (2010). “Køge Boldklubs historie 1927–2009” (bằng tiếng Đan Mạch). Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2013. 
  5. ^ “WORLD CUP Squad: Jon Dahl Tomasson”. BBC News. 8 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 13 tháng 4 năm 2013. 
  6. ^ a ă “Jon Dahl tilbage på vant plads”. Berlingske Tidende (bằng tiếng Danish). 20 tháng 6 năm 1998.