Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
 Anh

Huy hiệu

Tên khác The Three Lions (Tam sư)
Hiệp hội Hiệp hội bóng đá Anh
(The Football Association (FA))
Huấn luyện viên Anh Roy Hodgson
Đội trưởng Wayne Rooney
Thi đấu nhiều nhất Peter Shilton (125)
Ghi bàn nhiều nhất Bobby Charlton (49)
Sân nhà Wembley
Mã FIFA ENG
Xếp hạng FIFA 17 giảm theo hướng tiêu cực 2 (Ngày 12 tháng 3 năm 2015)
Cao nhất 3 (8.2012)
Thấp nhất 27 (2.1996)
Hạng Elo 13 (15.8.2014)
Elo cao nhất 1 (30.11.1872)
Elo thấp nhất 16 (năm 1928)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Scotland 0 - 0 Anh Anh
(Partick, Scotland; 30 tháng 11, 1872)
Trận thắng đậm nhất
 Ireland 0 - 9 Anh Anh
(Belfast, Bắc Ireland; 18 tháng 2, 1882)
Trận thua đậm nhất
 Hungary 7 - 1 Anh Anh
(Budapest, Hungary, 23 tháng 5, 1954)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 13 (lần đầu vào năm 1950)
Kết quả tốt nhất Vô địch 1966
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Số lần tham dự 7 (lần đầu vào năm 1968)
Kết quả tốt nhất Hạng ba 1968, Bán kết 1996

Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh, còn có biệt danh là "tuyển Tam sư" (tiếng Anh: The Three Lions), là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Anh và đại diện cho Anh trên bình diện quốc tế.[1]

Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Anh là trận gặp đội tuyển Scotland vào năm 1872. Đây cũng là trận đấu quốc tế đầu tiên của môn bóng đá được tổ chức.[2]

Đội tuyển Anh là một trong tám đội bóng từng giành chức vô địch World Cup với danh hiệu năm 1966 khi giải được tổ chức trên sân nhà. Đến nay, đây vẫn là thành tích lớn nhất của đội.

Do chỉ là một trong bốn đội tuyển bóng đá quốc gia thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, đội tuyển Anh chưa bao giờ tham dự Olympic. Đến tận Thế vận hội Mùa hè 2012 diễn ra tại Luân Đôn thì lần đầu tiên mới có một đội tuyển đại diện cho Vương quốc Anh.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình ra sân trong trận chung kết World Cup 1966 của tuyển Anh

Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh là đội bóng lâu đời trên thế giới, được thành lập cùng một lúc với Đội tuyển bóng đá Scotland. Một trận đấu giữa Đội tuyển bóng đá Anh và Đội tuyển bóng đá Scotland đã diễn ra vào ngày 05 tháng 03 năm 1870 được tổ chức bởi Hiệp hội bóng đá Anh. Một trận đấu giao hữu được tổ chức lại bởi Đội tuyển bóng đá Scotland vào ngày 30 tháng 11 năm 1872. Trận đấu này, diễn ra tại Crescent Hamilton ở Scotland, được xem như là trận đấu bóng đá quốc tế chính thức đầu tiên.[2]

Đội tuyển bóng đá Anh gia nhập Liên đoàn bóng đá thế giới vào năm 1906 và thi đấu giao hữu với các đội bóng khắp châu Âu ngoài Vương quốc Anh vào năm 1908. Sân vận động Wembley đã được khai trương vào năm 1923 và trở thành sân nhà của Đội tuyển bóng đá Anh. Mối quan hệ giữa Đội tuyển bóng đá Anh và FIFA trở nên căng thẳng và đội bóng rời khỏi FIFA vào năm 1928, trước khi Đội tuyển bóng đá Anh gia nhập lại vào năm 1946. Kết quả là, Đội tuyển bóng đá Anh không tham dự World Cup cho đến năm 1950.[3][4]

World Cup năm 1966 được tổ chức tại Anh, ông Ramsey dẫn dắt tuyển Anh giành chiến thắng với tỷ số 4-2, chiến thắng chống lại Đội tuyển bóng đáTây Đức sau khi thêm thời gian ở hiệp phụ trong trận chung kết, trong đó Geoff Hurst nổi tiếng ghi một hat-trick. Đội tuyển bóng đá Anh đủ điều kiện tham dự World Cup năm 1970 được tổ chức tại Mexico với tư cách là nhà đương kim vô địch. Đội tuyển bóng đá Anh vào đến vòng tứ kết nhưng đã bị loại bởi Đội tuyển bóng đá Tây Đức, Đội tuyển bóng đá Anh đã dẫn trước 2-0 nhưng cuối cùng đã bị đánh bại 3-2 sau hiệp phụ.[5]

Tại World Cup năm 2010, Đội tuyển bóng đá Anh đã vượt qua vòng 32 đội nhưng để thua với tỷ số 4-1 cũng bởi Đội tuyển bóng đá Đức, thất bại nặng nề nhất của đội bóng trong một kỳ World Cup.[6]

Vào tháng 2 năm 2012, Fabio Capello từ chức khỏi vai trò Huấn luyện viên trưởng của Đội tuyển bóng đá Anh, sau một bất đồng với FA trong vụ việc loại bỏ đội trưởng John Terry sau khi cáo buộc cầu thủ này phân biệt chủng tộc.[7] Tuy nhiên, vào ngày 1 tháng 5 năm 2012, Roy Hodgson đã được công bố làm huấn luyện viên mới, chỉ 6 tuần trước khi Euro 2012 khởi tranh.[8] Đội tuyển bóng đá Anh vượt qua vòng bảng nhưng để thua trong loạt sút luân lưu bởi Đội tuyển bóng đá Ý.[9]

Tại World Cup năm 2014, Đội tuyển bóng đá Anh thất bại hai trận liên tiếp bởi Đội tuyển bóng đá Italy và Uruguay cùng với tỷ số 2-1. Đây là lần đầu tiên Đội tuyển bóng đá Anh đã thất bại hai trận đầu tiên kể từ World Cup 1950 (khi đội tuyển Anh cũng thất bại khi đối đầu với Đội tuyển Mỹ và Tây Ban Nha) [10] và lần đầu tiên Đội tuyển bóng đá Anh đã bị loại ở vòng bảng kể từ World Cup năm 1958.[11]

Lịch sử áo thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Màu áo truyền thống của Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh là áo sơ mi trắng, quần ngắn màu xanh, tất màu trắng hoặc màu đen. Nhà tài trợ áo đấu đầu tiên là Umbro vào năm 1954. các trường hợp ngoại lệ là giai đoạn 1959-1965 được tài trợ áo đấu bởi Bukta và giai đoạn 1974-1984 được tài trợ áo đấu bởi Admiral. Từ năm 2013 đến nay, được tài trợ bởi hãng Nike.[12]

WC 1950 WC 1954 WC 1958 WC 1962
Away
Home
Away
Away
Home
Home 2
Away
vs Chile
Spain
vs United States Tất cả các trận đấu Tất cả các trận đấu vs Argentina vs Hungary vs Bulgaria
WC 1966 Euro 1968 WC 1970
Home
Home 2
Away
Home
Home
Third
Away
vs Uruguay, Mexico,
FrancePortugal
vs Argentina vs West Germany vs Yugoslavia
USSR
vs Romania
Brazil
vs Czechoslovakia vs West Germany
Euro 1980 WC 1982 WC 1986 Euro 1988 WC 1990 Euro 1992
Home
Home
Away
Home
Home 2
Home
Home
Home
Tất cả các trận đấu vs Czechoslovakia,
Kuwait và Spain
vs West Germany
và France
vs all except
Argentina
vs Argentina Tất cả các trận đấu Tất cả các trận đấu Tất cả các trận đấu
Euro 1996 WC 1998 Euro 2000 WC 2002
Home
Away
Home
Home 2
Away
Home
Away
Home
Away
vs all except
Germany
vs Germany vs Tunisia
Romania
vs Argentina vs Colombia vs Romania
Portugal
vs Germany vs Sweden,
DenmarkBrazil
vs Argentina
Nigeria
Euro 2004 WC 2006 WC 2010 Euro 2012 WC 2014
Home
Away
Home
Away
Home
Away
Home
Away
Home
vs all except
Croatia
vs Croatia vs all except
Sweden
vs Sweden vs United States
Algeria
vs Slovenia
Germany
vs all except
Sweden
vs Sweden Tất cả các trận đấu
Nhà sản xuất áo đấu Giai đoạn
Anh Umbro 1954–1961
Anh Bukta 1959–1965
Anh Umbro 1965-1974
Anh Admiral 1974–1984
Anh Umbro 1984–2013
Hoa Kỳ Nike 2013–

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Vô địch: 1966
Hạng tư: 1990
Hạng ba: 1968
Bán kết: 1996

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Xem chi tiết tại đây: Sân vận động Wembley

Sân vận động Wembley tổ chức một trận đấu giao hữu giữa tuyển Anh và Đức

sân nhà của tuyển Anh là Sân vận động Wembley được khai trương vào năm 1923. Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh thi đấu trận đấu đầu tiên tại sân vận động vào năm 1924 với Đội tuyển bóng đá Scotland và Khoảng 27 năm tiếp theo, Sân Wembley đã được sử dụng thi đấu giao hữu chỉ với Đội tuyển Scotland. Sân vận động Wembley trở thành sân vận động lâu đời nhất của nước Anh trong những năm 1950. Sân vận động này đã bị phá hủy vào năm 2001 và bắt đầu xây dựng lại cho đến năm 2007. Trong thời gian này đặc biệt là vòng loại World Cup 2006, Đội tuyển Anh thi đấu tại các sân trung lập tại các địa điểm khác nhau trên khắp đất nước. Phần lớn thi đấu trên sân vận động Old Trafford của câu lạc bộ bóng đá Manchester Untied và một số trận tại sân vận động St. James 'Park của Newcastle United khi sân Old Trafford không thể đáp ứng. Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh trở lại thi đấu tại Sân vận động Wembley vào năm 2007.

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

[13][14][15][16][17][18]

Huấn luyện viên trưởng Anh Roy Hodgson
Trợ lý Huấn luyện viên Anh Ray Lewington
Huấn luyện viên đội 1 Anh Gary Neville
Huấn luyện viên thủ môn Anh Dave Watson
Huấn luyện viên thể lực Anh Chris Neville
Người quản lý trang phục Anh Tom McKechnie
Bác sỹ xoa bóp Anh Mark Sertori
Bác sỹ trị liệu Anh Gary Lewin
Các nhân viên khác Anh Dan Hitch

Anh Roger Narbett
Anh Steve Slattery
Anh Lewis Kelton
Anh Rod Thornley
Anh Ian Beasley
Anh Aaron Lucas

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Các cầu thủ đang có trong đội hình cho vòng loại UEFA Euro 2016 với Lithuania vào ngày 27 tháng 3 năm 2015 và trận giao hữu với Italia vào ngày 31 tháng 3 năm 2015.[19]
Cập nhật ngày 20 tháng 3, 2015.

0#0 Pos. Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số lần
khoác áo
Bàn thắng Câu lạc bộ
1TM Joe Hart 19 tháng 4, 1987 (28 tuổi) 48 0 Anh Manchester City
1TM Fraser Forster 17 tháng 3, 1988 (27 tuổi) 3 0 Anh Southampton
2HV Phil Jagielka 17 tháng 8, 1982 (32 tuổi) 34 3 Anh Everton
2HV Gary Cahill (Vice-captain) 19 tháng 12, 1985 (29 tuổi) 33 3 Anh Chelsea
2HV Leighton Baines 11 tháng 12, 1984 (30 tuổi) 29 1 Anh Everton
2HV Chris Smalling 22 tháng 11, 1989 (25 tuổi) 15 0 Anh Manchester United
2HV Phil Jones 21 tháng 2, 1992 (23 tuổi) 13 0 Anh Manchester United
2HV Kyle Walker 28 tháng 5, 1990 (25 tuổi) 10 0 Anh Tottenham Hotspur
2HV Kieran Gibbs 26 tháng 9, 1989 (25 tuổi) 6 0 Anh Arsenal
2HV Luke Shaw 12 tháng 6, 1995 (20 tuổi) 4 0 Anh Manchester United
2HV Nathaniel Clyne 5 tháng 4, 1991 (24 tuổi) 2 0 Anh Southampton
3TV James Milner 4 tháng 1, 1986 (29 tuổi) 53 1 Anh Manchester City
3TV Theo Walcott 16 tháng 4, 1989 (26 tuổi) 36 5 Anh Arsenal
3TV Michael Carrick 28 tháng 7, 1981 (33 tuổi) 31 0 Anh Manchester United
3TV Jordan Henderson 17 tháng 6, 1990 (25 tuổi) 18 0 Anh Liverpool
3TV Adam Lallana 10 tháng 5, 1988 (27 tuổi) 13 0 Anh Liverpool
3TV Raheem Sterling 8 tháng 12, 1994 (20 tuổi) 13 0 Anh Liverpool
3TV Ross Barkley 5 tháng 12, 1993 (21 tuổi) 10 0 Anh Everton
3TV Andros Townsend 16 tháng 7, 1991 (23 tuổi) 5 2 Anh Tottenham Hotspur
3TV Fabian Delph 21 tháng 11, 1989 (25 tuổi) 3 0 Anh Aston Villa
4 Wayne Rooney (Captain) 24 tháng 10, 1985 (29 tuổi) 101 46 Anh Manchester United
4 Danny Welbeck 26 tháng 11, 1990 (24 tuổi) 32 13 Anh Arsenal
4 Daniel Sturridge 1 tháng 9, 1989 (25 tuổi) 16 5 Anh Liverpool
4 Harry Kane 28 tháng 7, 1993 (21 tuổi) 0 0 Anh Tottenham Hotspur

Các cầu thủ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

Các thành viên đội tuyển vô địch World Cup 1966 được in đậm.

Các cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật ngày 18 tháng 11 năm 2014.
Những cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu, ít nhất cho một câu lạc bộ.

Thủ môn Peter Shilton là thủ môn ra sân chính thức nhiều lần nhất với 125 trận

Players with an equal number of caps are ranked in chronological order of reaching the milestone.

# Tên Sự nghiệp Số trận Số bàn thắng Vị trí
1 Peter Shilton 1970–1990 125 0 GK
2 David Beckham 1996–2009 115 17 MF
3 Steven Gerrard 2000–2014 114 21 MF
4 Bobby Moore 1962–1973 108 2 DF
5 Ashley Cole 2001–2014 107 0 DF
6 Bobby Charlton 1958–1970 106 49 FW
Frank Lampard 1999–2014 106 29 MF
8 Billy Wright 1946–1959 105 3 DF
9 Wayne Rooney 2003–0000 103 47 FW
10 Bryan Robson 1980–1991 90 26 MF
11 Michael Owen 1998–2008 89 40 FW
12 Kenny Sansom 1979–1988 86 1 DF
13 Gary Neville 1995–2007 85 0 DF
14 Ray Wilkins 1976–1986 84 3 MF
15 Rio Ferdinand 1997–2011 81 3 DF
16 Gary Lineker 1984–1992 80 48 FW
17 John Barnes 1983–1995 79 11 MF
18 Stuart Pearce 1987–1999 78 5 DF
John Terry 2003–2012 78 6 DF
20 Terry Butcher 1980–1990 77 3 DF

Các cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Sir Bobby Charlton là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất với 49 bàn thắng.
# Tên Sự nghiệp Số bàn thắng Số trận Vị trí Average
1 Bobby Charlton 1958–1970 49 106 FW 0.4623
2 Gary Lineker 1984–1992 48 80 FW 0.6000
3 Wayne Rooney 2003– 47 103 FW 0.4554
4 Jimmy Greaves 1959–1967 44 57 FW 0.7719
5 Michael Owen 1998–2008 40 89 FW 0.4494
6 Nat Lofthouse 1950–1958 30 33 FW 0.9090
Alan Shearer 1992–2000 30 63 FW 0.4762
Tom Finney 1946–1958 30 76 FW 0.3947
9 Vivian Woodward 1903–1911 29 23 FW 1.2609
Frank Lampard 1999–2014 29 106 MF 0.2735
11 Steve Bloomer 1895–1907 28 23 FW 1.2174
12 David Platt 1989–1996 27 62 MF 0.4355
13 Bryan Robson 1981–1989 26 90 MF 0.2889
14 Geoff Hurst 1965–1972 24 49 FW 0.4898
15 Stan Mortensen 1947–1953 23 25 FW 0.9200
16 Tommy Lawton 1938–1948 22 23 FW 0.9565
Peter Crouch 2005–2010 22 42 FW 0.5238
18 Mick Channon 1972–1977 21 46 FW 0.4565
Kevin Keegan 1972–1982 21 63 FW 0.3333
Steven Gerrard 2000–2014 21 114 MF 0.1842

Thành tích quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch bóng đá thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[20] B Bt Bb
Uruguay 1930 Không tham dự
Ý 1934
Pháp 1938
Brasil 1950 Vòng 1 3 1 0 2 2 2
Thụy Sĩ 1954 Tứ kết 3 1 1 1 8 8
Thụy Điển 1958 Vòng 1 4 0 3 1 4 5
Chile 1962 Tứ kết 4 1 1 2 5 6
Anh 1966 Vô địch 6 5 1 0 11 3
México 1970 Tứ kết 4 2 0 2 4 4
Đức 1974 Không vượt qua vòng loại
Argentina 1978
Tây Ban Nha 1982 Vòng bảng 2 5 3 2 0 6 1
México 1986 Tứ kết 5 2 1 2 7 3
Ý 1990 Hạng tư 7 3 3 1 8 6
Hoa Kỳ 1994 Không vượt qua vòng loại
Pháp 1998 Vòng 2 4 2 1 1 7 4
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Tứ kết 5 2 2 1 6 3
Đức 2006 Tứ kết 5 3 2 0 6 2
Cộng hòa Nam Phi 2010 Vòng 2 4 1 2 1 3 5
Brasil 2014 Vòng 1 3 0 1 2 2 4
Tổng cộng 14/20
1 lần: Vô địch
62 26 20 16 79 56

Giải vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Kết quả St T H[20] B Bt Bb
Pháp 1960 Không tham dự
Tây Ban Nha 1964 Không vượt qua vòng loại
Ý 1968 Hạng ba 2 1 0 1 2 1
Bỉ 1972 Không vượt qua vòng loại
Nam Tư 1976
Ý 1980 Vòng 1 3 1 1 1 3 3
Pháp 1984 Không vượt qua vòng loại
Tây Đức 1988 Vòng 1 3 0 0 3 2 7
Thụy Điển 1992 Vòng 1 3 0 2 1 1 2
Anh 1996 Bán kết 5 2 3 0 8 3
Bỉ Hà Lan 2000 Vòng 1 3 1 0 2 5 6
Bồ Đào Nha 2004 Tứ kết 4 2 1 1 10 6
Thụy Sĩ Áo 2008 Không vượt qua vòng loại
Flag of Poland.svg Flag of Ukraine.svg 2012 Tứ kết 4 2 1 1 5 3
Tổng cộng 8/13
1 lần hạng ba
27 9 8 10 36 31

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

TT Huấn luyện viên Thời gian
huấn luyện
Số trận Thắng Hòa Thua Bàn thắng Bàn thua Tỷ lệ
thắng (%)
Danh hiệu
1 Flag of England (bordered).svg Sir Walter Winterbottom 1946-1962 139 78 33 28 383 196 56,12
2 Flag of England (bordered).svg Sir Alf Ramsey 1963-1974 113 69 27 17 224 98 61,06 Vô địch World Cup 1966
3 Flag of England (bordered).svg Joe Mercer 1974 7 3 3 1 9 7 42,85
4 Flag of England (bordered).svg Don Revie 1974-1977 29 14 8 7 49 25 48,27
5 Flag of England (bordered).svg Ron Greenwood 1977-1982 55 33 12 10 93 40 59,99
6 Flag of England (bordered).svg Sir Bobby Robson 1982-1990 95 47 30 18 151 60 49,47 Hạng tư World Cup 1990
7 Flag of England (bordered).svg Graham Taylor 1990-1993 38 18 13 7 62 32 47,36
8 Flag of England (bordered).svg Terry Venables 1994-1996 23 11 11 1 35 13 47,82
9 Flag of England (bordered).svg Glenn Hoddle 1996-1999 28 17 6 5 42 13 60,71
10 Flag of England (bordered).svg Howard Wilkinson 1999 1 0 0 1 0 2 0,00
11 Flag of England (bordered).svg Kevin Keegan 1999-2000 18 7 7 4 26 15 38,88
12 Flag of England (bordered).svg Howard Wilkinson 2000 1 0 1 0 0 0 0,00
13 Flag of England (bordered).svg Peter John Taylor 2000 1 0 0 1 0 1 0,00
14 Flag of Sweden.svg Sven-Göran Eriksson 2001 - 2006 66 40 16 10 136 62 60,61
15 Flag of England (bordered).svg Steve McClaren 44336 - 2007 18 9 4 5  ?  ? 50,0
16 Flag of Italy.svg Fabio Capello 2008 - 2012 42 28 8 6  ?  ? 66,67
17 Flag of England (bordered).svg Roy Hodgson (1) 2012 - nay 37 21 11 5  ?  ? 56,75
Tổng cộng 682 378 185 120 1210 564 54,89%
(1) Tính đến ngày 20tháng 03 năm 2015.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo thêm[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Written evidence submitted by Lord Triesman”. Parliament.uk. Tháng 5 năm 2009. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2014. 
  2. ^ a ă “England Match No. 1 – Scotland – ngày 30 tháng 11 năm 1872 – Match Summary and Report”. englandfootballonline.com. Truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2009. 
  3. ^ Hart, Tim (ngày 12 tháng 6 năm 2010). “England v USA: 1950 World Cup win over the Three Lions lives long in the memory”. The Daily Telegraph (London). 
  4. ^ Goodbody, John (ngày 22 tháng 11 năm 2003). “Football's November revolution: Magnificent Magyars storm England's Wembley fortress”. The Times (London). Truy cập ngày 13 tháng 2 năm 2011. 
  5. ^ "Venables is also the only England manager ever to resign from his post because of the muddy personal details set to be showcased in a high-profile trial related to financial irregularities." V is for Venables. When Saturday Comes. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2014. 
  6. ^ Owen Gibson (ngày 21 tháng 6 năm 2010). “Rifts appear as players grow tired of Capello regime”. The Guardian (London). Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2010. 
  7. ^ “Fabio Capello quits as England manager after meeting with FA”. BBC. Ngày 8 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2012. 
  8. ^ “BBC Sport – Roy Hodgson appointed England manager by FA”. BBC. Ngày 1 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 8 năm 2012. 
  9. ^ McNulty, Phil (ngày 24 tháng 6 năm 2012). “England 0-0 Italy (2-4 on pens)”. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2013. 
  10. ^ “World Cup 2014: England crash out after Costa Rica surprise Italy”. The Guardian (Guardian News and Media Limited). 20 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2014. 
  11. ^ “England 0 Costa Rica 0: Winless Three Lions bow out of Brazil 2014 with a whimper”. Daily Record. 24 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2014. 
  12. ^ “England's Uniforms and Playing Kits”. EnglandFootballOnline.com. Truy cập ngày 30 tháng 10 năm 2014. 
  13. ^ “Team”. The Football Association. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. [liên kết hỏng]
  14. ^ Allen, Neil (ngày 25 tháng 5 năm 2012). “Pompey coach earns England call-up”. The News (Portsmouth). Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  15. ^ Taylor, Daniel (ngày 5 tháng 6 năm 2006). “Baden-Baden backroom battalion outnumber the players on today's plane to Germany”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  16. ^ Fifield, Dominic (ngày 20 tháng 5 năm 2010). “England back-up staff boosted by arrival of David Beckham's masseur”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  17. ^ “FA rub off major coup as Arsenal's top physio Gary Lewin's joins England full-time”. Daily Mail. Ngày 7 tháng 6 năm 2008. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  18. ^ Telegraph staff and agencies (ngày 4 tháng 12 năm 2008). “England appoint Arsenal doctor Ian Beasley”. The Daily Telegraph. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2012. 
  19. ^ “Kane earns first England call-up”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ a ă Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]