Đội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay
| Biệt danh | Los Charrúas La Celeste (Màu xanh da trời) | ||
|---|---|---|---|
| Hiệp hội | Hiệp hội bóng đá Uruguay | ||
| Liên đoàn châu lục | CONMEBOL (Nam Mỹ) | ||
| Huấn luyện viên trưởng | Marcelo Bielsa | ||
| Đội trưởng | José Giménez | ||
| Thi đấu nhiều nhất | Diego Godín (161) | ||
| Ghi bàn nhiều nhất | Luis Suárez (69) | ||
| Sân nhà | Centenario | ||
| Mã FIFA | URU | ||
| |||
| Hạng FIFA | |||
| Hiện tại | 15 | ||
| Cao nhất | 2 (6.2012) | ||
| Thấp nhất | 76 (12.1998) | ||
| Hạng Elo | |||
| Hiện tại | 14 | ||
| Cao nhất | 1 (khoảng thời gian 1920-31) | ||
| Thấp nhất | 46 (3.1980) | ||
| Trận quốc tế đầu tiên | |||
(Montevideo, Uruguay; 16 tháng 5 năm 1901) | |||
| Trận thắng đậm nhất | |||
(Lima, Peru; 9 tháng 11 năm 1927) | |||
| Trận thua đậm nhất | |||
(Montevideo, Uruguay; 20 tháng 7 năm 1902) | |||
| Giải thế giới | |||
| Sồ lần tham dự | 14 (Lần đầu vào năm 1930) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vô địch (1930 và 1950) | ||
| Cúp bóng đá Nam Mỹ | |||
| Sồ lần tham dự | 46 (Lần đầu vào năm 1916) | ||
| Kết quả tốt nhất | Vô địch (1916, 1917, 1920, 1923, 1924, 1926, 1935, 1942, 1956, 1959, 1967, 1983, 1987, 1995 và 2011) | ||
| Cúp Liên đoàn các châu lục | |||
| Sồ lần tham dự | 2 (Lần đầu vào năm 1997) | ||
| Kết quả tốt nhất | Hạng tư (1997 và 2013) | ||
| Thành tích huy chương Thế vận hội | ||
|---|---|---|
| Bóng đá nam | ||
| Paris 1924 | Đồng đội | |
| Amsterdam 1928 | Đồng đội | |
Đội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay (tiếng Tây Ban Nha: Selección de fútbol de Uruguay) là đội tuyển bóng đá do Hiệp hội bóng đá Uruguay quản lý và đại diện cho Uruguay, quốc gia ít dân nhất trong nhóm những đội tuyển từng đoạt chức vô địch thế giới, thi đấu trên bình diện quốc tế.
Được coi là một trong những đội tuyển quốc gia thành công nhất trên đấu trường quốc tế và được FIFA đánh giá là "cường quốc bóng đá đầu tiên trên thế giới", Uruguay đã hai lần vô địch World Cup vào các năm 1930 và 1950. Cả Brasil và Argentina khi đó đều là bại tướng của Uruguay trong trận chung kết, trong đó bao gồm kỳ World Cup đầu tiên năm 1930 do chính Uruguay chủ trì. Trước chức vô địch World Cup đầu tiên, Uruguay cũng có hai lần vô địch Olympic, giải đấu khi đó được FIFA quản lý, vào các năm 1924 và 1928. Ở đấu trường Nam Mỹ, đội đã có đến 15 lần vô địch Copa America với lần gần đây nhất vào năm 2011, thành tích từng là kỷ lục ở Nam Mỹ trước khi bị Argentina vượt qua vào năm 2024.
Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]
Vô địch Nam Mỹ: 15
- Vô địch (15): 1916; 1917; 1920; 1923; 1924; 1926; 1935; 1942; 1956; 1959; 1967; 1983; 1987; 1995; 2011
- Á quân (6): 1919; 1927; 1939; 1941; 1989; 1999
- Hạng ba (10): 1921; 1922; 1929; 1937; 1947; 1953; 1957; 1975; 2004; 2024
Đồng phục
[sửa | sửa mã nguồn]Logo trên áo đấu của đội tuyển quốc gia có 4 sao mặc dù Uruguay chỉ mới vô địch 2 kỳ World Cup. Hai trong số đó kỷ niệm hai lần vô địch World Cup và hai ngôi sao còn lại dùng để kỷ niệm hai lần giành huy chương vàng môn bóng đá Olympic những năm 1920, thời điểm mà FIFA vẫn công nhận các giải bóng đá ở Olympic là giải vô địch thế giới.[3]
Những năm 1900, Uruguay sử dụng các trang phục áo đấu khác nhau. Chiếc áo đấu đầu tiên đội mặc lấy từ câu lạc bộ Albion trong trận đấu đầu tiên của mình với Argentina năm 1901.[4]
Năm 1910, câu lạc bộ River Plate đánh bại Alumni của Argentina 2–1. River Plate mặc trang phục phụ cho trận đấu đó, là áo đấu màu xanh nhạt do áo đấu sân nhà của họ trùng màu với áo đấu của Alumni.[5] Một người tên Ricardo LeBas đề xuất cho tuyển quốc gia của Uruguay mặc áo đấu xanh nhạt để ghi nhớ chiến thắng lịch sử của River Plate. Đề xuất được chủ tịch hiệp hội bóng đá Uruguay Héctor Gómez chấp thuận.[6] Bộ áo đấu màu xanh nhạt bắt đầu được sử dụng từ trận đấu đội tuyển gặp và thắng đối thủ Argentina 3–1 ngày 15 tháng 8 năm 1910.[7]
Bộ áo đấu màu đỏ trước đó được sử dụng ở một số chuyến du đấu được dùng lại cho kỳ Copa América 1935. Chúng không được mặc lại (ngoại trừ trận gặp Colombia ở World Cup 1962[8]) cho tới năm 1991 khi chính thức trở thành trang phục thi đấu trên sân khách.[9]
1901 [note 1] |
1902–03 [note 2] |
1905–07 [note 3] |
1910–nay [note 4] |
- Chú thích
- ^ Áo đấu của Albion F.C., mặc trong trận gặp Argentina với đội hình phần lớn các cầu thủ đến từ câu lạc bộ này.[10]
- ^ Áo mặc trong trận chính thức đầu tiên,[11] gặp Argentina ở Montevideo năm 1902,[4] cũng được mặc trong trận đấu thứ hai ở Buenos Aires năm 1903.[12]
- ^ Mẫu dựa trên hiệu kỳ tỉnh Artigas, mặc bởi các đại biểu Uruguay (Liga Uruguay v Nam Phi[4] và các trận đấu của Copa Lipton khoảng 1905–07).[12]
- ^ Mặc lần đầu trong một trận đấu Copa Lipton năm 1910.[5][6]
Phong cách
[sửa | sửa mã nguồn]Đánh bại Argentina với tỷ số 4-2 trong chung kết World Cup 1930, theo đánh giá của một số nhà báo đương thời, Uruguay vận dụng lối chơi kết hợp hoàn hảo giữa tấn công và phòng ngự trái ngược với lối chơi quá đậm chất cá nhân của các cầu thủ Argentina biến họ thành bại tướng.[13]
Theo một bài viết, dưới thời Óscar Tabárez, Uruguay đề cao hàng phòng ngự kỷ luật và sự chắc chắn và được so sánh giống với các đội bóng Ý, ví như Inter Milan. Máu lửa, chắc chắn, tinh quái kiểu đường phố và biết cách khai thác sai lầm của đối thủ là đặc sản của các cầu thủ Uruguay. Họ thường chơi với sơ đồ 4-4-2 phòng ngự chặt trung lộ, thu hẹp khoảng trống, áp sát quyết liệt giữa sân và hai biên. Khi tấn công thì phụ thuộc vào sự cơ động ranh mãnh của cặp tiền đạo và tận dụng tối đa các tình huống cố định.[14]
"Những thời khắc khó khăn có thể đè bẹp bất kì đội bóng nào khác, nhưng với đội tuyển Uruguay, nó lại khiến chúng tôi thể hiện được sức mạnh và cá tính của mình...xây dựng đội bóng dựa vào nền tảng vững chắc, qua đó hàng công có thể tỏa sáng và mang về những chiến thắng."
— Diego Lugano, tuyển thủ Uruguay, tiết lộ, đề cập những yếu tố phụ trợ như "tiếng gọi lịch sử" và "niềm đam mê".[15]
"Khi thấy quân đội nước mình, không người Uruguay nào cảm thấy tổ quốc mình ở đó. Và nhiều phương diện khác nơi đời sống xã hội thì cũng tương tự. Nhưng khi thấy đội bóng, có, họ thấy có Uruguay của mình ở đó. Hay là nói nếu bạn "mua một gói thuật kịch" ý nghĩa quốc gia, sẽ có gì đó hơn một đội bóng xảy đến với nước bạn."[16]
— Ignacio Pardo, nhà xã hội học, chỉ ra rằng người Uruguay xem đội tuyển như một trong những thế chế đại diện tiêu biểu nhất của quốc gia, biểu tượng quốc gia.
Người Uruguay bằng bóng đá nhìn thấy một bức họa vẽ nên cá tính dũng cảm của một dân tộc.[16] Trường phái bóng đá của Uruguay được biết đến với tính chất mạnh bạo và giàu tính thực dụng chiến thuật.[17] Nhà báo Fabio Salgueiro, từ cổng Terra, cho rằng "ý chí quyết tâm và ham muốn chiếm lĩnh, thắng thế có trong máu của những người Uruguay".[18] Luis Fernando Veríssimo cho biết: "Người Uruguay sẽ tìm mọi cách, mọi khả năng và nỗ lực hết mình để hạ đối thủ mạnh hơn họ".[19]
Thành tích
[sửa | sửa mã nguồn]Trước năm 1916, Uruguay chơi tổng cộng 30 trận thì trong đó 29 trận đều là đối đầu với Argentina. Năm 1924, đội tuyển Uruguay tới Paris và trở thành đội Nam Mỹ đầu tiên góp mặt tại Thế Vận Hội. Tương phản với các đối thủ châu Âu thời điểm đó, Uruguay có lối chơi thiên về bóng ngắn,[20] thắng tất cả các trận, hạ Thụy Sĩ 3–0 để giành huy chương vàng.
Giải bóng đá vô địch thế giới
[sửa | sửa mã nguồn]
Sau lần thứ hai giành huy chương vàng Olympic năm 1928, Uruguay được chọn làm chủ nhà kỳ World Cup đầu tiên năm 1930. Dù giành được ngôi vương của giải đấu, Uruguay không hài lòng với việc chỉ có bốn đội từ châu Âu tham dự và cho rằng mình bị người châu Âu khinh thường. Họ quyết định tẩy chay World Cup 1934 do Ý làm chủ nhà[21] và World Cup 1938 mà Pháp đăng cai.[22]

Uruguay một lần nữa vô địch thế giới vào năm 1950, hạ đội chủ nhà Brasil trong trận chung kết và tạo một cơn địa chấn gây sốc được gọi là Maracanazo cho nhiều cổ động viên chủ nhà. Ở Uruguay, chính phủ tuyên bố ngày vô địch thế giới lần thứ hai trở thành ngày nghỉ cho người dân toàn quốc.[23]
Kể từ đó tới nay, trước sự mạnh lên của Brasil và Argentina cùng với sự cạnh tranh gắt gao hơn đến từ các đội bóng châu Âu, Uruguay không còn duy trì được sự thống trị ở các kỳ World Cup thêm lần nào nữa và thành tích của đội cũng không ổn định theo thời gian. Họ đã không vượt qua được vòng loại một số kỳ World Cup và chỉ có thêm ba lần đạt hạng tư, trong đó lần gần nhất là vào năm 2010. Mặc dù vẫn là một trong số những đội tuyển có số lần vô địch Copa America nhiều nhất Nam Mỹ, nhưng với nguồn cầu thủ chất lượng có phần hạn chế do quy mô dân số nhỏ, Uruguay trong nhiều thập niên qua đã không còn được đánh giá là một ứng cử viên vô địch World Cup như nhiều "ông lớn" khác của bóng đá thế giới.
| Năm | Kết quả | St | T | H [24] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vô địch | 4 | 4 | 0 | 0 | 15 | 3 | |
| 1934-1938 | Không tham dự | ||||||
| Vô địch | 4 | 3 | 1 | 0 | 15 | 5 | |
| Hạng tư | 5 | 3 | 0 | 2 | 16 | 9 | |
| 1958 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| Vòng 1 | 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 6 | |
| Tứ kết | 4 | 1 | 2 | 1 | 2 | 5 | |
| Hạng tư | 6 | 2 | 1 | 3 | 4 | 5 | |
| Vòng 1 | 3 | 0 | 1 | 2 | 1 | 6 | |
| 1978-1982 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| Vòng 2 | 4 | 0 | 2 | 2 | 2 | 8 | |
| 4 | 1 | 1 | 2 | 2 | 5 | ||
| 1994-1998 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| Vòng 1 | 3 | 0 | 2 | 1 | 4 | 5 | |
| 2006 | Không vượt qua vòng loại | ||||||
| Hạng tư | 7 | 3 | 2 | 2 | 11 | 8 | |
| Vòng 2 | 4 | 2 | 0 | 2 | 4 | 6 | |
| Tứ kết | 5 | 4 | 0 | 1 | 7 | 3 | |
| Vòng 1 | 3 | 1 | 1 | 1 | 2 | 2 | |
| Chưa xác định | |||||||
| Vượt qua vòng loại | |||||||
| Chưa xác định | |||||||
| Tổng cộng | 14/22 2 lần: Vô địch |
59 | 25 | 13 | 21 | 89 | 76 |
Cúp Liên đoàn các châu lục
[sửa | sửa mã nguồn]| Năm | Kết quả | St | T | H [24] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1992-1995 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| Hạng tư | 5 | 3 | 0 | 2 | 8 | 6 | |
| 1999-2009 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| Hạng tư | 5 | 2 | 1 | 2 | 14 | 7 | |
| 2017 | Không giành quyền tham dự | ||||||
| Tổng cộng | 2/10 2 lần: Hạng tư |
10 | 5 | 1 | 4 | 22 | 13 |
Cúp bóng đá Nam Mỹ
[sửa | sửa mã nguồn]Uruguay là đội tuyển giàu thành tích ở Copa America khi đã có 15 lần đăng quang, thành tích chỉ kém một danh hiệu so với Argentina và nhiều hơn Brasil đến 6 danh hiệu.
| Năm | Kết quả | St | T | H [24] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|
| Vô địch | 3 | 2 | 1 | 0 | 6 | 1 | |
| 3 | 3 | 0 | 0 | 9 | 0 | ||
| Á quân | 3 | 2 | 1 | 0 | 7 | 4 | |
| Vô địch | 3 | 2 | 1 | 0 | 9 | 2 | |
| Hạng ba | 3 | 1 | 0 | 2 | 3 | 4 | |
| 4 | 2 | 1 | 1 | 3 | 1 | ||
| Vô địch | 3 | 3 | 0 | 0 | 6 | 1 | |
| 3 | 2 | 1 | 0 | 8 | 1 | ||
| 1925 | Bỏ cuộc | ||||||
| Vô địch | 4 | 4 | 0 | 0 | 17 | 2 | |
| Á quân | 3 | 3 | 0 | 0 | 15 | 4 | |
| Hạng ba | 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 6 | |
| Vô địch | 3 | 3 | 0 | 0 | 6 | 1 | |
| Hạng ba | 5 | 2 | 0 | 3 | 11 | 14 | |
| Á quân | 4 | 3 | 0 | 1 | 13 | 5 | |
| 4 | 3 | 0 | 1 | 10 | 1 | ||
| Vô địch | 6 | 6 | 0 | 0 | 21 | 2 | |
| Hạng tư | 6 | 3 | 0 | 3 | 14 | 6 | |
| 5 | 2 | 0 | 3 | 11 | 9 | ||
| Hạng ba | 7 | 5 | 0 | 2 | 21 | 8 | |
| Hạng 6 | 7 | 2 | 1 | 4 | 14 | 20 | |
| Hạng ba | 6 | 3 | 1 | 2 | 15 | 6 | |
| Hạng tư | 5 | 2 | 1 | 2 | 12 | 12 | |
| Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 9 | 3 | |
| Hạng ba | 6 | 4 | 0 | 2 | 15 | 12 | |
| Hạng 5 | 6 | 2 | 0 | 4 | 15 | 14 | |
| Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 9 | 3 | |
| 1963 | Bỏ cuộc | ||||||
| Vô địch | 5 | 4 | 1 | 0 | 13 | 2 | |
| Hạng tư | 2 | 1 | 0 | 1 | 1 | 3 | |
| Vòng bảng | 4 | 1 | 2 | 1 | 5 | 5 | |
| Vô địch | 8 | 5 | 2 | 1 | 12 | 6 | |
| 2 | 2 | 0 | 0 | 2 | 0 | ||
| Á quân | 7 | 4 | 0 | 3 | 11 | 3 | |
| Vòng bảng | 4 | 1 | 3 | 0 | 4 | 3 | |
| Tứ kết | 4 | 1 | 2 | 1 | 5 | 5 | |
| Vô địch | 6 | 4 | 2 | 0 | 11 | 4 | |
| Vòng bảng | 3 | 1 | 0 | 2 | 2 | 2 | |
| Á quân | 6 | 1 | 2 | 3 | 4 | 9 | |
| Hạng tư | 6 | 2 | 2 | 2 | 7 | 7 | |
| Hạng ba | 6 | 3 | 2 | 1 | 12 | 10 | |
| Hạng tư | 6 | 2 | 2 | 2 | 8 | 9 | |
| Vô địch | 6 | '3 | 3 | 0 | 9 | 3 | |
| Tứ kết | 4 | 1 | 1 | 2 | 2 | 3 | |
| Vòng bảng | 3 | 1 | 0 | 2 | 4 | 4 | |
| Tứ kết | 4 | 2 | 2 | 0 | 7 | 2 | |
| 5 | 2 | 2 | 1 | 4 | 2 | ||
| Hạng ba | 6 | 3 | 2 | 1 | 11 | 4 | |
| Tổng cộng | 15 lần: Vô địch | 212 | 115 | 40 | 57 | 421 | 226 |
Thế vận hội Mùa hè
[sửa | sửa mã nguồn]- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
| Năm | Kết quả | Thứ hạng | St | T | H [24] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1900-1920 | Không tham dự | |||||||
| Huy chương vàng | 1st | 5 | 5 | 0 | 0 | 20 | 2 | |
| 1st | 5 | 4 | 1 | 0 | 12 | 5 | ||
| Bỏ cuộc | ||||||||
| 1948-1972 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Bỏ cuộc | ||||||||
| 1980-1988 | Không vượt qua vòng loại | |||||||
| Tổng cộng | 2 lần huy chương vàng |
3/19 | 10 | 9 | 1 | 0 | 32 | 7 |
Đại hội Thể thao liên Mỹ
[sửa | sửa mã nguồn]- (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1995)
| Năm | Kết quả | Thứ hạng | St | T | H [24] | B | Bt | Bb |
|---|---|---|---|---|---|---|---|---|
| 1951-1959 | Không tham dự | |||||||
| Hạng tư | 4th | 4 | 1 | 0 | 3 | 4 | 6 | |
| 1967-1971 | Không tham dự | |||||||
| Vòng sơ loại | 11th | 2 | 0 | 1 | 1 | 1 | 2 | |
| 1979 | Không tham dự | |||||||
| Huy chương vàng | 1st | 4 | 4 | 0 | 0 | 5 | 1 | |
| 1987-1995 | Không tham dự | |||||||
| Tổng cộng | 1 lần huy chương vàng |
3/12 | 10 | 5 | 1 | 4 | 10 | 9 |
Lịch đấu
[sửa | sửa mã nguồn]2025
[sửa | sửa mã nguồn]| 21 tháng 3 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Uruguay |
0–1 | Montevideo, Uruguay | |
|---|---|---|---|---|
| 20:30 UTC-3 | Chi tiết |
|
Sân vận động: Sân vận động Centenario Lượng khán giả: 55,000 Trọng tài: Juan Gabriel Benítez (Paraguay) |
| 25 tháng 3 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Bolivia |
0–0 | El Alto, Bolivia | |
|---|---|---|---|---|
| 16:00 UTC-4 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động thành phố El Alto Lượng khán giả: 10,723 Trọng tài: Augusto Aragón (Ecuador) |
| 5 tháng 6 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Paraguay |
2–0 | Asunción, Paraguay | |
|---|---|---|---|---|
| 20:00 UTC-3 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Defensores del Chaco Lượng khán giả: 30,005 Trọng tài: Darío Herrera (Argentina) |
| 10 tháng 6 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Uruguay |
2–0 | Montevideo, Uruguay | |
|---|---|---|---|---|
| 20:00 UTC-3 |
|
Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Centenario Lượng khán giả: 29,672 Trọng tài: Raphael Claus (Brazil) |
| 4 tháng 9 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Uruguay |
3–0 | Montevideo, Uruguay | |
|---|---|---|---|---|
| 20:30 UTC-3 |
|
Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Centenario Trọng tài: Facundo Tello (Argentina) |
| 9 tháng 9 Vòng loại FIFA World Cup 2026 | Chile |
0–0 | Santiago, Chile | |
|---|---|---|---|---|
| 20:30 UTC-3 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động quốc gia Julio Martínez Prádanos Trọng tài: Anderson Daronco (Brazil) |
| 10 tháng 10 Giao hữu | Uruguay |
1–0 | Kuala Lumpur, Malaysia | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 UTC+8 |
|
Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động quốc gia Bukit Jalil Lượng khán giả: 7,777 Trọng tài: Razlan Joffri Ali (Malaysia) |
| 13 tháng 10 Giao hữu | Uzbekistan |
1–2 | Malacca, Malaysia | |
|---|---|---|---|---|
| 20:45 UTC+8 |
|
Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Hang Jebat Trọng tài: Muhammad Kamaruzaman (Malaysia) |
| 15 tháng 11 Giao hữu | México |
0–0 | Torreón, Mexico | |
|---|---|---|---|---|
| 19:00 UTC-6 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Corona Trọng tài: Fernando Morón (Panama) |
| 18 tháng 11 Giao hữu | Hoa Kỳ |
5–1 | Tampa, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 19:00 UTC-5 | Chi tiết |
|
Sân vận động: Sân vận động Raymond James Trọng tài: Julio Luna (Guatemala) |
2026
[sửa | sửa mã nguồn]| 15 tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | Ả Rập Xê Út |
v | Miami Gardens, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 18:00 UTC-4 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Hard Rock |
| 21 tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | Uruguay |
v | Miami Gardens, Hoa Kỳ | |
|---|---|---|---|---|
| 18:00 UTC-4 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Hard Rock |
| 26 tháng 6 Vòng bảng FIFA World Cup 2026 | Uruguay |
v | Zapopan, Mexico | |
|---|---|---|---|---|
| 18:00 UTC-6 | Chi tiết | Sân vận động: Sân vận động Akron |
Cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn]Đội hình hiện tại
[sửa | sửa mã nguồn]Đây là đội hình đã hoàn thành cho 2 trận giao hữu với Mexico và Hoa Kỳ vào ngày 15 và 18 tháng 11 năm 2025..
Số liệu thống kê tính đến ngày 18 tháng 11 năm 2024 sau trận gặp Hoa Kỳ.
Triệu tập gần đây
[sửa | sửa mã nguồn]| Vt | Cầu thủ | Ngày sinh (tuổi) | Số trận | Bt | Câu lạc bộ | Lần cuối triệu tập |
|---|---|---|---|---|---|---|
| TM | Franco Israel | 22 tháng 4, 2000 | 3 | 0 | v. | |
| TM | Paulo da Costa | 13 tháng 6, 2008 | 0 | 0 | v. | |
| TM | Sergio Rochet | 23 tháng 3, 1993 | 34 | 0 | v. | |
| HV | Marcelo Saracchi | 23 tháng 4, 1998 | 11 | 0 | v. | |
| HV | Nicolás Marichal | 17 tháng 3, 2001 | 5 | 0 | v. | |
| HV | Kevin Amaro | 3 tháng 3, 2004 | 3 | 0 | v. | |
| HV | Santiago Mouriño | 13 tháng 2, 2002 | 1 | 0 | v. | |
| HV | Brian Barboza | 14 tháng 5, 2008 | 0 | 0 | v. | |
| HV | Lucas Agazzi | 2 tháng 5, 2005 | 0 | 0 | v. | |
| HV | Paolo Calione | 22 tháng 5, 2006 | 0 | 0 | v. | |
| HV | Patricio Pacífico | 8 tháng 4, 2006 | 0 | 0 | v. | |
| TV | Nicolás Fonseca | 19 tháng 10, 1998 | 7 | 0 | v. | |
| TV | Julio Daguer | 22 tháng 2, 2008 | 1 | 0 | v. | |
| TV | Pablo Alcoba | 10 tháng 11, 2008 | 0 | 0 | v. | |
| TV | Luciano González | 7 tháng 3, 2008 | 0 | 0 | v. | |
| TV | Federico Valverde (đội phó) | 22 tháng 7, 1998 | 71 | 8 | v. | |
| TV | Lucas Torreira | 11 tháng 2, 1996 | 40 | 0 | v. | |
| TV | Nicolás de la Cruz | 1 tháng 6, 1997 | 33 | 5 | v. | |
| TV | Germán Barbas | 17 tháng 9, 2007 | 0 | 0 | v. | |
| TV | Erico Cuello | 25 tháng 5, 2005 | 0 | 0 | v. | |
| TĐ | Nicolás Azambuja | 28 tháng 3, 2008 | 0 | 0 | v. | |
| TĐ | Facundo Martínez | 4 tháng 2, 2008 | 0 | 0 | v. | |
| TĐ | Agustín Álvarez | 19 tháng 5, 2001 | 6 | 1 | v. | |
| TĐ | Darwin Núñez | 24 tháng 6, 1999 | 36 | 13 | v. | |
| TĐ | Cristian Olivera | 17 tháng 4, 2002 | 13 | 0 | v. | |
| TĐ | Joaquín Lavega | 3 tháng 2, 2005 | 0 | 0 | v. | |
| TĐ | Pablo Suárez | 14 tháng 11, 2005 | 0 | 0 | v. | |
INJ Rút lui vì chấn thương. | ||||||
Kỷ lục cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn]Tính đến ngày 13 tháng 7 năm 2024.[25]

Thi đấu nhiều nhất
[sửa | sửa mã nguồn]| # | Cầu thủ | Năm thi đấu | Số trận | Bàn thắng |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Diego Godín | 2005–2022 | 161 | 8 |
| 2 | Luis Suárez | 2007–2024 | 142 | 69 |
| 3 | Edinson Cavani | 2008–2022 | 136 | 58 |
| 4 | Fernando Muslera | 2009–2022 | 133 | 0 |
| 5 | Maxi Pereira | 2005–2018 | 125 | 3 |
| 6 | Martín Cáceres | 2007–2022 | 116 | 4 |
| 7 | Diego Forlán | 2002–2014 | 112 | 36 |
| 8 | Cristian Rodríguez | 2005–2018 | 109 | 11 |
| 9 | Diego Lugano | 2003–2014 | 95 | 9 |
| 10 | Egidio Arévalo Ríos | 2006–2017 | 91 | 0 |

Ghi nhiều bàn thắng nhất
[sửa | sửa mã nguồn]| # | Cầu thủ | Năm thi đấu | Bàn thắng | Số trận |
|---|---|---|---|---|
| 1 | Luis Suárez | 2007–2024 | 69 | 142 |
| 2 | Edinson Cavani | 2008–2022 | 58 | 136 |
| 2 | Diego Forlán | 2002–2014 | 36 | 112 |
| 4 | Héctor Scarone | 1917–1930 | 31 | 52 |
| 5 | Ángel Romano | 1913–1927 | 28 | 69 |
| 6 | Óscar Míguez | 1950–1958 | 27 | 39 |
| 7 | Sebastián Abreu | 1996–2012 | 26 | 70 |
| 8 | Pedro Petrone | 1923–1930 | 24 | 29 |
| 9 | Carlos Aguilera | 1982–1997 | 22 | 64 |
| Fernando Morena | 1971–1983 | 22 | 53 |
Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ^ "Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới". FIFA. ngày 18 tháng 9 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2025.
- ^ Elo rankings change compared to one year ago. "World Football Elo Ratings". eloratings.net. ngày 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập ngày 30 tháng 11 năm 2022.
- ^ [1] Lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2012 tại Wayback Machine
- ^ a b c Así ha evolucionado la camiseta de la Selección Uruguaya on MKT Registrado, 11 Apr 2018
- ^ a b 100 años de la camiseta celeste on El Observador, 11 Apr 2011
- ^ a b La historia de la Celeste Lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2014 tại Wayback Machine on Montevideo Wanderers website
- ^ Origen de la camiseta celeste Lưu trữ ngày 13 tháng 7 năm 2019 tại Wayback Machine on Montevideo Antiguo
- ^ "FIFA World Cup 1962 Group 1 - Historical Football Kits". www.historicalkits.co.uk.
- ^ ""Camisetas alternativas", La Selección website". Bản gốc lưu trữ ngày 6 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 14 tháng 10 năm 2013.
- ^ "Historia del futbol uruguayo. Deportes en Uruguay. Enciclopedia gratis". www.deportesenuruguay.eluruguayo.com.
- ^ "Historias, curiosidades y estadísticas de la Selección, tras sus "primeros" 900 partidos", El Gráfico, 4 Jul 2012
- ^ a b Argentina y Uruguay history on Viejos Estadios website
- ^ "CHÂN DUNG NHÀ VÔ ĐỊCH: Uruguay tại World Cup 1930". Fan của đội đá với Manchester United. ngày 31 tháng 5 năm 2018.
- ^ "Uruguay: Một Atletico Madrid phiên bản đội tuyển". bongdaplus.vn. ngày 10 tháng 6 năm 2019.[liên kết hỏng]
- ^ "Đội tuyển Uruguay: Tiếng gọi lịch sử Maracanazo". thethaovanhoa.vn. ngày 14 tháng 6 năm 2014.
- ^ a b "País inovador, Uruguai vê no futebol representação da identidade nacional". sportv.globo.com. Sport TV. ngày 18 tháng 6 năm 2018.
- ^ Pichonelli, Matheus; Vives, Fernando (ngày 19 tháng 6 năm 2011). "Ainda existe identidade no futebol". www.cartacapital.com.br. CartaCapital (salvo em archive.is). Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2022.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ Salgueiro, Fábio (ngày 20 tháng 6 năm 2014). "Todos têm raça, o Uruguai tem alma". esportes.terra.com.br. Esportes - Terra | | Fábio Salgueiro (salvo em Wayback Machine). Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 4 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 7 năm 2019.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ^ Veríssimo, Luís Fernando (ngày 20 tháng 8 năm 1982). PLACAR Magazine | Abrindo o Jogo - Por que esse velho medo dos uruguaios?. Editora Abril. tr. 26 e 27. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2018.
- ^ "Football's debt to Uruguay". BBC Sport. ngày 8 tháng 4 năm 2002. Truy cập ngày 27 tháng 4 năm 2011.
- ^ "World Cup 1934: ĐKVĐ Uruguay bỏ giải vì tự ái, vị trí trung vệ ra đời". bongdaplus.vn. ngày 21 tháng 5 năm 2014.
- ^ "VCK World Cup 1938: Vũ hội bóng đá trước khói lửa chiến tranh". bongdaplus.vn. ngày 20 tháng 12 năm 2013.[liên kết hỏng]
- ^ "Football, football, football". UruguayNow. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 13 tháng 5 năm 2010.
- ^ a b c d e Tính cả các trận hoà ở các trận đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu
- ^ "Uruguay - Record International Players". www.rsssf.com.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Đội tuyển bóng đá quốc gia Uruguay Lưu trữ ngày 14 tháng 6 năm 2012 tại Wayback Machine trên trang chủ của FIFA