Giải bóng đá vô địch thế giới 2018

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Jump to navigation Jump to search
Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
Чемпионат мира по футболу 2018
Chempionat mira po futbolu 2018[a]
2018 FIFA World Cup.svg
Biểu trưng chính thức của Giải bóng đá vô địch thế giới 2018
Thông tin chung
Nước chủ nhà Nga
Thời gian 14 tháng 6 – 15 tháng 7
Số đội 32 (từ 5 liên đoàn)
Địa điểm thi đấu 12 (tại 11 thành phố)
Thống kê
Số trận đấu 30
Số bàn thắng 78 (2.6 bàn/trận)
Khán giả 1.401.269 (46.709 khán giả/trận)
Vua phá lưới

Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo
Bỉ Romelu Lukaku

Anh Harry Kane
(Mỗi cầu thủ 5 bàn)
2014
2022
Cập nhật thống kê tính đến ngày 24 tháng 6 năm 2018.

Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 (tiếng Anh: 2018 FIFA World Cup) là giải vô địch bóng đá thế giới lần thứ 21 được tổ chức tại Nga. Đây là lần đầu tiên, giải được tổ chức tại một quốc gia thuộc khu vực Đông Âu và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc Liên Xô cũ. Giải đấu được tổ chức tại Nga từ 14 tháng 6 đến 15 tháng 7 năm 2018.[1]

Giải đấu bao gồm 32 đội tuyển quốc gia, trong đó có nước chủ nhà Nga. Trận chung kết của giải sẽ diễn ra vào ngày 15 tháng 7 ở Moskva tại sân vận động Luzhniki.[2][3][4]

Đội vô địch World Cup 2018 sẽ giành quyền tham dự Cúp Liên đoàn các châu lục 2021.

Lựa chọn chủ nhà

Đại diện đấu thầu Nga kỷ niệm việc trao giải Cúp Thế giới 2018 cho Nga, tháng 12 năm 2010.
Tổng thống Nga Vladimir Putin đang cầm Cúp FIFA World Cup tại lễ trao giải trước ở Moskva, tháng 9 năm 2017
Tiền 100 rúp của ngân hàng Nga kỷ niệm giấy polymer năm 2018. Tiền giấy bạc kỷ niệm Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.

Các thủ tục đấu thầu làm chủ nhà các giải vô địch bóng đá thế giới 2018 và 2022 đã bắt đầu vào tháng 1 năm 2009, và các liên đoàn bóng đá quốc gia đã cho đến ngày 2 tháng 2 năm 2009 để đăng ký.[5] Ban đầu, chín quốc gia nộp hồ sơ xin đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, nhưng México sau đó rút lui,[6] và hồ sơ của Indonesia đã bị FIFA từ chối hồi tháng 2 năm 2010.[7]Ba quốc gia không thuộc UEFA còn lại (Úc, Nhật Bản và Hoa Kỳ) sau đó đã dần dần rút khỏi quá trình vận động xin đăng cai World Cup năm 2018, và hồ sơ xin đăng cai World Cup 2022 của các quốc gia thuộc UEFA cũng đã bị loại bỏ. Như vậy, cuối cùng chỉ còn lại bốn ứng viên xin đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, trong đó có 2 hồ sơ xin đồng đăng cai gồm có : Anh, Nga, Hà Lan/Bỉ, và Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha.

Ủy ban điều hành FIFA gồm 22 thành viên đã triệu tập tại Zürich vào ngày 2 tháng 12 năm 2010 để bỏ phiếu lựa chọn các quốc gia chủ nhà của cả hai giải đấu World Cup 2018 và World Cup 2022.[8] Nga giành quyền được làm chủ nhà của giải đấu năm 2018 trong lượt bỏ phiếu vòng thứ hai khi đạt số phiếu bầu cao nhất ̣(13 phiếu). Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha đứng thứ hai, và Bỉ/Hà Lan xếp thứ ba. Hồ sơ của Anh xin tổ chức giải đấu lần thứ hai của họ (lần đầu vào năm 1966) bị loại từ vòng bỏ phiếu đầu tiên.[9]

Kết quả bỏ phiếu như sau:[10]

Đấu thầu FIFA 2018 (chiến thắng nếu đạt đủ 12 phiếu bầu)
Các ứng cử viên Bỏ phiếu
Vòng 1 Vòng 2
Nga 9 13
Bồ Đào Nha / Tây Ban Nha 7 7
Bỉ / Hà Lan 4 2
Anh 2 Bị loại

Quá trình này không phải là không có lời chỉ trích: cáo buộc về sự hối lộ để đem về chiến thắng cho Nga và tham nhũng từ các thành viên FIFA đã được đưa ra đặc biệt bởi Hiệp hội bóng đá Anh. Nó được cho là bốn thành viên của ủy ban điều hành đã yêu cầu hối lộ bỏ phiếu cho nước Anh, và Sepp Blatter nói rằng cuộc bỏ phiếu đã được dàn xếp trước là Nga sẽ thắng.[11] Garcia Report năm 2014, một cuộc điều tra nội bộ do Michael J. Garcia dẫn đầu, đã bị Hans-Joachim Eckert phát hành ra công chúng, giám đốc điều hành của FIFA công bố về vấn đề đạo đức. Eckert thay vào đó là một bản tóm tắt sửa đổi ngắn hơn, và sự miễn cưỡng của ông (và do đó của FIFA) để công bố báo cáo đầy đủ khiến Garcia từ chức để phản đối.[12] Do tranh cãi như vậy, FA đã từ chối chấp nhận sự tha tội của Eckert khỏi Nga, với Greg Dyke kêu gọi tái kiểm tra vụ việc và David Bernstein kêu gọi tẩy chay Cúp Thế giới.[13][14]

Các đội tuyển

Vòng loại

Ngoại trừ đội Nga được vào thẳng do là chủ nhà, tất cả các thành viên của FIFA đều phải tham gia vòng loại để xác định ra 32 đội tuyển lọt vào vòng chung kết của giải đấu được tổ chức trên đất Nga.

Myanmar buộc phải thi đấu tất cả các trận đấu trên sân nhà của họ ở sân trung lập do cổ động viên nước này gây rối trong trận đấu ở vòng loại World Cup 2014 với đội Oman.[15] Vào ngày 12 tháng 3 năm 2015, trước khi bắt đầu vòng loại, Zimbabwe đã bị trục xuất khỏi giải đấu vì không trả tiền cho cựu huấn luyện viên José Claudinei.[16] Indonesia đã bị cấm thi đấu và sau đó bị trục xuất khi chưa thi đấu một trận đấu nào ở vòng loại do chính phủ nước này can thiệp quá sâu vào nội bộ hiệp hội bóng đá Indonesia.[17]

Lễ bốc thăm vòng loại diễn ra vào lúc 18:00 giờ địa phương (UTC+3) ngày 25 tháng 7 năm 2015 tại Cung điện Konstantinovsky ở Strelna, Sankt-Peterburg.[18][19][20] Vòng loại trận đấu cho AFC và CONCACAF được bắt đầu vào tháng 3 năm 2015, trước khi lễ bốc thăm vòng loại.[1]

Lễ bốc thăm được tiến hành bởi Ủy ban điều hành FIFA vào ngày 30 tháng 5 năm 2015 tại Zürich.[21][22]

Vào ngày 13 tháng 5 năm 2016, GibraltarKosovo đã trở thành thành viên FIFA và được tham gia vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới.[23][24]

Vòng loại World Cup 2018 chính thức khép lại vào ngày 15 tháng 11 năm 2017 và đã xác định đầy đủ 32 đội bóng giành vé đến Nga tham dự VCK:

Trong số 32 quốc gia đủ điều kiện tham dự FIFA World Cup 2018, có 20 nước đã tham dự giải đấu trước đó vào năm 2014, trong khi hai đội tuyển IcelandPanama có lần đầu tiên trong lịch sử tham dự một kì World Cup, Iceland cũng đi vào lịch sử khi là quốc gia ít dân nhất có đội tuyển bóng đá tham dự World Cup [25]. Một số đội tuyển khác cũng đã có sự trở lại sau khi đã vắng mặt trong ít nhất ba kì World Cup bao gồm: Ai Cập, lần đầu tham dự sau 28 năm vắng mặt từ lần xuất hiện cuối cùng vào năm 1990; Maroc, có lần gần nhất tham dự World Cup vào năm 1998; Peru, trở lại giải đấu lớn nhất hành tinh sau 36 năm vắng mặt (từ năm 1982); và Senegal, đã có lần thứ 2 tham dự World Cup sau khi lọt vào tứ kết năm 2002. Đây là lần đầu tiên có ba quốc gia Bắc Âu (Đan Mạch, Iceland và Thụy Điển) và bốn quốc gia thuộc thế giới Ả Rập (Ai Cập, Maroc, Ả Rập Xê Út và Tunisia) cùng giành quyền tham dự vòng chung kết[26].

Các quốc gia đáng chú ý không vượt qua vòng loại World Cup lần này bao gồm đội tuyển từng 4 lần vô địch Ý (lần đầu tiên vắng mặt kể từ năm 1958) và đội tuyển từng ba lần về nhì Hà Lan (lần đầu tiên kể từ năm 2002), cùng với bốn nhà vô địch châu lục: nhà vô địch Cúp bóng đá châu Phi 2017 Cameroon, nhà vô địch 2 lần liên tiếp Copa América và á quân của Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 Chile, nhà vô địch Cúp bóng đá châu Đại Dương 2016 New Zealand, và nhà vô địch Cúp Vàng CONCACAF 2017 Hoa Kỳ (lần đầu tiên kể từ năm 1986). Các đội bóng đáng chú ý khác cũng không thể giành vé tham dự là GhanaBờ Biển Ngà, dù cả hai đều đã tham dự ba giải đấu trước đó.

Bốc thăm

Lễ bốc thăm sẽ được tổ chức vào ngày 1 tháng 12 năm 2017, lúc 18:00 giờ Moskva, tại Điện KremlinMoskva.[27][28] 32 đội tuyển sẽ được rút thăm chia thành 8 bảng 4 đội.

Đối với lễ bốc thăm, các đội tuyển sẽ được phân bổ vào bốn nhóm được dựa trên bảng xếp hạng thế giới FIFA vào tháng 10 năm 2017. Nhóm 1 gồm chủ nhà Nga (mà sẽ được tự động được gán vào vị trí A1) và 7 đội tuyển tốt nhất, nhóm 2 chứa 8 đội tuyển tiếp theo, và cứ như vậy cho các nhóm 3 và 4.[29] Điều này sẽ khác biệt so với các lễ bốc thăm trước đó, nơi chỉ nhóm 1 đã được dựa trên bảng xếp hạng FIFA khi các nhóm còn lại đã được dựa trên cân nhắc về địa lý. Tương tự như các kỳ World Cup trước, các đội tuyển từ cùng liên đoàn sẽ không được cùng bảng đấu với nhau, ngoại trừ châu Âu nơi mỗi bảng có thể chứa lên đến hai đội tuyển tới từ châu lục này.

Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4

 Nga (65) (chủ nhà)
 Đức (1)
 Brasil (2)
 Bồ Đào Nha (3)
 Argentina (4)
 Bỉ (5)
 Ba Lan (6)
 Pháp (7)

 Tây Ban Nha (8)
 Peru (10)
 Thụy Sĩ (11)
 Anh (12)
 Colombia (13)
 México (16)
 Uruguay (17)
 Croatia (18)

 Đan Mạch (19)
 Iceland (21)
 Costa Rica (22)
 Thụy Điển (25)
 Tunisia (28)
 Ai Cập (30)
 Sénégal (32)
 Iran (34)

 Serbia (38)
 Nigeria (41)
 Úc (43)
 Nhật Bản (44)
 Maroc (48)
 Panama (49)
 Hàn Quốc (62)
 Ả Rập Xê Út (63)

Đội hình

Mỗi đội tuyển phải đăng ký một danh sách sơ bộ gồm 30 cầu thủ. Từ đội hình vòng sơ bộ, đội tuyển phải đăng ký một đội hình cuối cùng gồm 23 cầu thủ (ba cầu thủ trong số họ phải là thủ môn) theo thời hạn FIFA. Các cầu thủ trong đội hình cuối cùng có thể được thay thế do chấn thương nghiêm trọng trong vòng 24 giờ trước khi bắt đầu trận đấu đầu tiên của đội tuyển, nơi các cầu thủ thay thế không cần phải vào đội hình vòng sơ bộ.[30]

Đối với các cầu thủ có tên trong đội hình vòng sơ bộ gồm 30 cầu thủ, thời gian nghỉ ngơi bắt buộc đối với họ là từ giữa ngày 21 và ngày 27 tháng 5 năm 2018, ngoại trừ những cầu thủ thi đấu trong trận chung kết UEFA Champions League 2018 được diễn ra vào ngày 26 tháng 5.[31]

Trong tháng 2 năm 2018, FIFA công bố rằng số lượng cầu thủ được trong danh sách sơ bộ sẽ được tăng từ 30 lên 35.[32]

Trọng tài

Vào ngày 16 tháng 3 năm 2018, hội đồng FIFA được phê chuẩn việc sử dụng trợ lý trọng tài video (VAR) cho lần đầu tiên trong một giải đấu World Cup .[33]

Vào ngày 29 tháng 3 năm 2018, FIFA đã phát hành danh sách 36 trọng tài và 63 trợ lý trọng tài được lựa chọn để điều khiển các trận đấu.[34] Vào ngày 30 tháng 4 năm 2018, FIFA đã phát hành danh sách 13 trợ lý trọng tài video, những người sẽ chỉ hoạt động như VAR trong giải đấu.[35]

Địa điểm

Nga đã đề xuất các thành phố chủ nhà sau: Kaliningrad, Kazan, Krasnodar, Moskva, Nizhny Novgorod, Rostov trên sông Đông, Sankt-Peterburg, Samara, Saransk, Sochi, Volgograd, YaroslavlYekaterinburg.[36] Hầu hết các thành phố chủ nhà đều nằm trong vùng lãnh thổ Nga thuộc châu Âu để giảm bớt thời gian di chuyển cho các đội tuyển trong đất nước khổng lồ. Báo cáo đánh giá đấu thầu đã nói: "Đấu thầu của Nga đề xuất 13 thành phố chủ nhà và 16 sân vận động, do đó vượt quá yêu cầu tối thiểu của FIFA. Ba trong số 16 sân vận động sẽ được cải tạo, và 13 sân sẽ được xây dựng mới."[37]

Vào tháng 10 năm 2011, Nga giảm số lượng các sân vận động sẽ tổ chức World Cup từ 16 xuống 14. Việc xây dựng sân vận động Podolsk được đề xuất ở vùng Moskva đã bị chính quyền địa phương hủy bỏ, và cũng ở thủ đô, Otkrytiye Arena đang cạnh tranh với sân vận động Dynamo trên đó sẽ được xây dựng đầu tiên.[38]

Sự lựa chọn các thành phố chủ nhà cuối cùng đã được công bố vào ngày 29 tháng 9 năm 2012. Số lượng thành phố tổ chức các trận đấu đã giảm xuống còn 11 và số sân vận động xuống còn 12 vì 2 thành phố Krasnodar và Yaroslavl đã bị loại khỏi danh sách cuối cùng. Trong số 12 sân vận động được sử dụng cho giải đấu, 3 sân (Luzhniki, Yekaterinburg và Sochi) đã được cải tạo rộng rãi và 9 sân vận động khác được sử dụng là những sân vận động mới được xây dựng; 11,8 tỷ đô la đã được chi cho việc tổ chức giải đấu.[39]

Sepp Blatter tuyên bố trong tháng 7 năm 2014 rằng do lo ngại về tiến độ hoàn thành các địa điểm tổ chức thi đấu ở Nga, số lượng địa điểm cho giải đấu có thể giảm từ 12 xuống 10. Ông cũng nói rằng "Chúng ta sẽ không phải rơi vào tình huống, như trường hợp của một, hai hoặc thậm chí ba sân vận động ở Nam Phi, nơi nó là một vấn đề của những gì bạn làm với các sân vận động này".[40]

Vào tháng 10 năm 2014, trong chuyến thăm chính thức đầu tiên của họ tới Nga, Ủy ban kiểm tra của FIFA và trưởng đoàn Chris Unger đã đến thăm Sankt-Peterburg, Sochi, Kazan và cả hai sân vận động ở Moskva. Họ đã tỏ ra hài lòng với tiến độ.[41]

Vào ngày 8 tháng 10 năm 2015, FIFA và Ban tổ chức địa phương đã đồng ý về tên chính thức của các sân vận động được sử dụng trong giải đấu.[42]

Trong số 12 địa điểm được sử dụng, sân vận động Luzhniki ở Moskva và sân vận động Saint Petersburg (hai sân vận động lớn nhất ở Nga) sẽ được sử dụng nhiều nhất, với 7 trận đấu sẽ được tổ chức ở mỗi sân vận động này. Sochi, Kazan, Nizhny Novgorod và Samara sẽ tổ chức 6 trận đấu, trong đó mỗi sân sẽ tổ chức một trận tứ kết, và sân vận động Otkrytiye ở Moskva và Rostov trên sông Đông sẽ tổ chức mỗi sân 5 trận đấu bao gồm các trận tại vòng 16 đội. Volgograd, Kaliningrad, Yekaterinburg, và Saransk sẽ tổ chức mỗi sân 4 trận đấu và không ai trong số những thành phố này sẽ tổ chức bất kỳ trận đấu vòng đấu loại trực tiếp nào.

Các sân vận động

Tổng cộng có 12 sân vận động ở 11 thành phố của Nga đã được xây dựng và cải tạo cho Giải vô địch bóng đá thế giới.[43]

  • Samara: Đấu trường Samara (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 45.000). Việc xây dựng chính thức bắt đầu vào ngày 21 tháng 7 năm 2014. Dự án được hoàn thành vào ngày 21 tháng 4 năm 2018.
  • Nizhny Novgorod: Sân vận động Nizhny Novgorod (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 45.000). Việc xây dựng sân vận động Nizhny Novgorod bắt đầu vào năm 2015. Dự án được hoàn thành vào tháng 12 năm 2017.[44]
  • Volgograd: Đấu trường Volgograd (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 45.000). Sân vận động chính của Volgograd đã được xây dựng trên địa bàn sân vận động trung tâm đã bị phá bỏ, tại dưới chân của khu phức hợp Đài tưởng niệm Mamayev Kurgan. Sân vận động được đưa vào hoạt động vào ngày 3 tháng 4 năm 2018.[45]
  • Ekaterinburg: Đấu trường Ekaterinburg (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 35.000). Sân vận động Trung tâm của Ekaterinburg đã được cải tạo cho Giải vô địch bóng đá thế giới. Khán đài của đấu trường sẽ có sức chứa 35.000 khán giả. Dự án cải tạo đã hoàn thành vào tháng 12 năm 2017.
  • Saransk: Đấu trường Mordovia (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 44.000). Sân vận động ở Saransk dự kiến sẽ được đưa vào hoạt động vào năm 2012 trong thời gian cho việc khai trương của Spartakiad toàn Nga, nhưng kế hoạch đã được sửa đổi. Lễ khai mạc đã được dời đến năm 2017. Đấu trường tổ chức trận đấu đầu tiên vào ngày 21 tháng 4 năm 2018.
  • Rostov trên sông Đông: Đấu trường Rostov (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 45.000). Sân vận động nằm bên bờ trái sông Đông. Việc xây dựng sân vận động đã hoàn thành vào ngày 22 tháng 12 năm 2017.
  • Kaliningrad: Sân vận động Kaliningrad (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 35.000). Các cọc đầu tiên đã được đưa vào mặt đất vào tháng 9 năm 2015. Vào ngày 11 tháng 4 năm 2018 sân vận động mới tổ chức trận đấu đầu tiên.
  • Kazan: Đấu trường Kazan (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 45.000). Sân vận động được xây dựng cho Đại hội Thể thao Sinh viên Mùa hè thế giới 2013. Kể từ đó, nó đã tổ chức Giải vô địch thể thao dưới nước thế giới và Cúp Liên đoàn các châu lục 2017. Sân vận động này là sân nhà của FC Rubin Kazan.
  • Moskva: Sân vận động Spartak (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 45.000). Sân vận động là một đấu trường sân nhà với tên gọi FC Spartak Moscow. Theo yêu cầu của FIFA, trong Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, nó sẽ được gọi là sân vận động Spartak thay vì tên thông thường là Otkritie Arena. Sân vận động tổ chức trận đấu đầu tiên vào ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  • Sochi: Sân vận động Fisht (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 45.000). Sân vận động là một trong 22 đấu trường trong lịch sử để tổ chức lễ khai mạc và bế mạc Thế vận hội Mùa đông. Sau khi Sochi 2014, đấu trường đã được cải tạo để chuẩn bị cho Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 và Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.
  • Sankt-Peterburg: Sân vận động Sankt-Peterburg (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 67.000). Việc xây dựng sân vận động bắt đầu vào năm 2007. Dự án được chính thức hoàn thành vào ngày 29 tháng 12 năm 2016.[46] Sân vận động đã được tổ chức các trận đấu của Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 và sẽ là địa điểm cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 và Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020.
  • Moskva: Sân vận động Luzhniki (sức chứa chỗ ngồi trong Giải vô địch bóng đá thế giới: 80.000). Sân vận động lớn nhất trong nước đã được đóng cửa để cải tạo vào năm 2013. Sân vận động được đưa vào hoạt động trở lại vào tháng 11 năm 2017.
Moskva Sankt-Peterburg Sochi
Sân vận động Luzhniki Đấu trường Otkrytiye
(Sân vận động Spartak)
Sân vận động Krestovsky
(Sân vận động Sankt-Peterburg)
Sân vận động Olympic Fisht
(Sân vận động Fisht)
Sức chứa: 78.011[47] Sức chứa: 44.190[48] Sức chứa: 64.468[49] Sức chứa: 44.287[50]
Лужники. Большая спортивная арена (15843839359).jpg Stadium Spartak in Moscow.jpg RUS-2016-Aerial-SPB-Krestovsky Stadium 02.jpg Fisht Stadium in January 2018.jpg
Samara Kazan
Đấu trường Cosmos
(Đấu trường Samara)
Đấu trường Kazan
Sức chứa: 41.970[51] Sức chứa: 42.873[52]
Samara Arena.jpg Казань арена.jpg
Rostov trên sông Đông Volgograd
Đấu trường Rostov Đấu trường Volgograd
Sức chứa: 43.472[53] Sức chứa: 43.713[54]
Rostov Arena (2).jpg Volgograd. Stadium P8060424 2200.jpg
Nizhny Novgorod Saransk Yekaterinburg Kaliningrad
Sân vận động Nizhny Novgorod Đấu trường Mordovia Sân vận động Trung tâm
(Đấu trường Ekaterinburg)
Sân vận động Kaliningrad
Sức chứa: 43.319[55] Sức chứa: 41.685[56] Sức chứa: 33.061[57] Sức chứa: 33.973[58]
FWC 2018 - Group F - KOR v SWE - Photo 08.jpg Mordovia Arena stadium.jpg Estadio Central (Ekaterinburg-arena).jpg Kaliningrad stadium - 2018-04-07.jpg

Đại bản doanh của các đội tuyển

Các đại bản doanh sẽ được sử dụng bởi 32 đội tuyển quốc gia làm nơi ở và tập luyện trước và trong suốt giải đấu Cúp Thế giới lần này. Vào ngày 9 tháng 2 năm 2018, FIFA đã công bố các đại bản doanh cho mỗi đội tuyển.[59]

Cơ sở hạ tầng

Là một phần của chương trình chuẩn bị cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, một chương trình phụ liên bang “Xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông” đã được thực hiện với tổng ngân sách 352,5 tỷ rúp, với 170,3 tỷ đến từ ngân sách liên bang, 35,1 tỷ từ ngân sách khu vực và 147,1 tỷ từ các nhà đầu tư.[60] Khoản chi tiêu lớn nhất của liên bang là cơ sở hạ tầng hàng không (117,8 tỷ rúp).[61] Việc xây dựng các khách sạn mới là một lĩnh vực quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở các thành phố chủ nhà World Cup.[62]

Sân bay quốc tế PlatovRostov trên sông Đông đã được nâng cấp với hệ thống kiểm soát không lưu tự động, hệ thống giám sát hiện đại, điều hướng, giao tiếp, kiểm soát và hệ thống hỗ trợ khí tượng.[63] Sân bay Koltsovo đã được nâng cấp với các công cụ kỹ thuật vô tuyến cho hoạt động bay và nhận được dải đường băng thứ hai. Sân bay Saransk đã nhận được một hệ thống định vị mới. Sân bay Khrabrovo đã được nâng cấp với điều hướng vô tuyến và thiết bị thời tiết.[64] Việc cải tạo và nâng cấp các công cụ kỹ thuật vô tuyến cho hoạt động bay đã được hoàn thành tại các sân bay Moskva, Sankt-Peterburg, Volgograd, Samara, Ekaterinburg, KazanSochi.[65] Vào ngày 27 tháng 3, Bộ Công nghiệp Xây dựng, Nhà ở và Tiện ích của Nga đã báo cáo rằng tất cả các thông tin liên lạc trong phạm vi trách nhiệm của nó đã được đưa vào hoạt động. Cơ sở cuối cùng đã được ủy nhiệm là một trạm xử lý chất thải ở Volgograd.

Tình nguyện viên

Các ứng viên tình nguyện cho Ban tổ chức địa phương 2018 Nga đã khai trương vào ngày 1 tháng 6 năm 2016. Chương trình tình nguyện viên Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 Nga đã lập kỷ lục mới: vào ngày 30 tháng 12 khi thời gian đăng ký kết thúc, ban tổ chức đã nhận được khoảng 177.000 đơn đăng ký.[66] Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 sẽ thu hút tổng cộng 17.040 tình nguyện viên và hơn 18.000 tình nguyện viên thành phố trong 11 thành phố chủ nhà.[67] Họ đã được đào tạo tại 15 trung tâm tình nguyện viên của Ban tổ chức địa phương có trụ sở tại 15 trường đại học và trong các trung tâm tình nguyện viên tại các thành phố chủ nhà. Ưu tiên, đặc biệt là trong các lĩnh vực chính, được trao cho những người có kiến thức về ngoại ngữ và kinh nghiệm tình nguyện viên. Tình nguyện viên có thể là công dân Nga hoặc bất kỳ quốc gia nào khác.[68]

Lễ khai mạc

Lễ khai mạc World Cup 2018 diễn ra vào thứ năm ngày 14 tháng 6 năm 2018 tại sân vận động Luzhniki ở Moscow, Nga [69] lúc 3:30 (BST), khoảng nửa tiếng trước trận đấu mở màn giữa hai đội Nga và Ả Rập Saudi [70][71]

Buổi lễ khai mạc có sự góp mặt của ca sĩ nhạc pop người Anh Robbie Williams, người đã trình diễn ca khúc "Let Me Entertain You" trước khi ca sĩ Nga Aida Garifullina xuất hiện và cùng song ca bài hát "Angels" với Williams. Ngoài ra, buổi lễ cũng có sự góp mặt của cựu ngôi sao đội tuyển Brazil Ronaldo.

Lịch thi đấu

Toàn bộ lịch thi đấu được FIFA công bố vào ngày 24 tháng 7 năm 2015 (chưa có giờ thi đấu chính thức mà sẽ được thông báo sau).[72][73] Nga sẽ được đặt ở vị trí A1 ở vòng bảng và chơi trong trận đấu mở màn với với đội tuyển Saudi Arabia tại sân vận động LuzhnikiMoskva vào ngày 14 tháng 6 , đây cũng sẽ là sân vận động sẽ tổ chức trận đấu bán kết 2 vào ngày 11 tháng 7 và trận chung kết vào ngày 15 tháng 7. Zenit ArenaSankt-Peterburg sẽ tổ chức trận đấu bán kết 1 vào ngày 10 tháng 7 và trận đấu tranh hạng ba diễn ra vào ngày 14 tháng 7.[21]

Vòng bảng

Bảng A

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Nga (H, A) 2 2 0 0 8 1 +7 6 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Uruguay (A) 2 2 0 0 2 0 +2 6
3  Ai Cập (E) 2 0 0 2 1 4 −3 0
4  Ả Rập Xê Út (E) 2 0 0 2 0 6 −6 0
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 20 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
(A) Giành quyền vào vòng sau; (E) Bị loại; (H) Chủ nhà.
14 tháng 6, 2018 (2018-06-14)
18:00 MSK (UTC+3)
Nga  5–0  Ả Rập Xê Út
Chi tiết
Sân vận động Luzhniki, Moskva
Khán giả: 78.011[74]
Trọng tài: Néstor Pitana (Argentina)
15 tháng 6, 2018 (2018-06-15)
17:00 YEKT (UTC+5)
Ai Cập  0–1  Uruguay
Chi tiết

19 tháng 6, 2018 (2018-06-19)
21:00 MSK (UTC+3)
Nga  3–1  Ai Cập
Chi tiết
20 tháng 6, 2018 (2018-06-20)
18:00 MSK (UTC+3)
Uruguay  1–0  Ả Rập Xê Út
Chi tiết

25 tháng 6, 2018 (2018-06-25)
18:00 SAMT (UTC+4)
Uruguay  Trận 33  Nga
Chi tiết

Bảng B

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Tây Ban Nha 2 1 1 0 4 3 +1 4[b] Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Bồ Đào Nha 2 1 1 0 4 3 +1 4[b]
3  Iran 2 1 0 1 1 1 0 3
4  Maroc (E) 2 0 0 2 0 2 −2 0
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 20 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
(E) Bị loại.
Ghi chú:
  1. ^ Phát âm Nga chuẩn là [tɕɪmʲpʲɪɐˈnat ˈmʲirə pə fʊdˈboɫʊ dvʲɪˈtɨsʲɪtɕɪ vəsʲɪmˈnatsətʲ]
  2. ^ a ă Điểm giải phong cách: Tây Ban Nha −1, Bồ Đào Nha −2.
15 tháng 6, 2018 (2018-06-15)
18:00 MSK (UTC+3)
Maroc  0–1  Iran
Chi tiết
15 tháng 6, 2018 (2018-06-15)
21:00 MSK (UTC+3)
Bồ Đào Nha  3–3  Tây Ban Nha
Chi tiết
Sân vận động Olympic Fisht, Sochi
Khán giả: 43.866[79]
Trọng tài: Gianluca Rocchi (Ý)

20 tháng 6, 2018 (2018-06-20)
15:00 MSK (UTC+3)
Bồ Đào Nha  1–0  Maroc
Chi tiết
Sân vận động Luzhniki, Moskva
Khán giả: 78.011[80]
Trọng tài: Mark Geiger (Hoa Kỳ)
20 tháng 6, 2018 (2018-06-20)
21:00 MSK (UTC+3)
Iran  0–1  Tây Ban Nha
Chi tiết
Đấu trường Kazan, Kazan
Khán giả: 42.718[81]
Trọng tài: Andrés Cunha (Uruguay)

25 tháng 6, 2018 (2018-06-25)
21:00 MSK (UTC+3)
Iran  Trận 35  Bồ Đào Nha
Chi tiết

Bảng C

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Pháp (A) 2 2 0 0 3 1 +2 6 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Đan Mạch 2 1 1 0 2 1 +1 4
3  Úc 2 0 1 1 2 3 −1 1
4  Peru (E) 2 0 0 2 0 2 −2 0
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 21 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
(A) Giành quyền vào vòng sau; (E) Bị loại.
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
13:00 MSK (UTC+3)
Pháp  2–1  Úc
Chi tiết
Đấu trường Kazan, Kazan
Khán giả: 41.279[82]
Trọng tài: Andrés Cunha (Uruguay)
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
19:00 MSK (UTC+3)
Peru  0–1  Đan Mạch
Chi tiết
Đấu trường Mordovia, Saransk
Khán giả: 40.502[83]
Trọng tài: Bakary Gassama (Gambia)

21 tháng 6, 2018 (2018-06-21)
16:00 SAMT (UTC+4)
Đan Mạch  1–1  Úc
Chi tiết
21 tháng 6, 2018 (2018-06-21)
20:00 YEKT (UTC+5)
Pháp  1–0  Peru
Chi tiết

26 tháng 6, 2018 (2018-06-26)
17:00 MSK (UTC+3)
Đan Mạch  Trận 37  Pháp
Chi tiết
26 tháng 6, 2018 (2018-06-26)
17:00 MSK (UTC+3)
Úc  Trận 38  Peru
Chi tiết

Bảng D

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Croatia (A) 2 2 0 0 5 0 +5 6 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Nigeria 2 1 0 1 2 2 0 3
3  Iceland 2 0 1 1 1 3 −2 1
4  Argentina 2 0 1 1 1 4 −3 1
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 21 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
(A) Giành quyền vào vòng sau.
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
16:00 MSK (UTC+3)
Argentina  1–1  Iceland
Chi tiết
Đấu trường Otkrytiye, Moskva
Khán giả: 44.190[86]
Trọng tài: Szymon Marciniak (Ba Lan)
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
21:00 KALT (UTC+2)
Croatia  2–0  Nigeria
Chi tiết

21 tháng 6, 2018 (2018-06-21)
21:00 MSK (UTC+3)
Argentina  0–3  Croatia
Chi tiết
22 tháng 6, 2018 (2018-06-22)
18:00 MSK (UTC+3)
Nigeria  2–0  Iceland
Chi tiết

Bảng E

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Brasil 2 1 1 0 3 1 +2 4 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Thụy Sĩ 2 1 1 0 3 2 +1 4
3  Serbia 2 1 0 1 2 2 0 3
4  Costa Rica (E) 2 0 0 2 0 3 −3 0
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 22 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
(E) Bị loại.
17 tháng 6, 2018 (2018-06-17)
16:00 SAMT (UTC+4)
Costa Rica  0–1  Serbia
Chi tiết
Đấu trường Cosmos, Samara
Khán giả: 41.432[90]
Trọng tài: Malang Diedhiou (Sénégal)
17 tháng 6, 2018 (2018-06-17)
21:00 MSK (UTC+3)
Brasil  1–1  Thụy Sĩ
Chi tiết

22 tháng 6, 2018 (2018-06-22)
15:00 MSK (UTC+3)
Brasil  2–0  Costa Rica
Chi tiết
22 tháng 6, 2018 (2018-06-22)
20:00 KALT (UTC+2)
Serbia  1–2  Thụy Sĩ
Chi tiết

27 tháng 6, 2018 (2018-06-27)
21:00 MSK (UTC+3)
Serbia  Trận 41  Brasil
Chi tiết

Bảng F

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  México 2 2 0 0 3 1 +2 6 Giành quyền vòng đấu loại trực tiếp
2  Đức 2 1 0 1 2 2 0 3
3  Thụy Điển 2 1 0 1 2 2 0 3
4  Hàn Quốc 2 0 0 2 1 3 −2 0
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 23 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
17 tháng 6, 2018 (2018-06-17)
18:00 MSK (UTC+3)
Đức  0–1  México
Chi tiết
Sân vận động Luzhniki, Moskva
Khán giả: 78.011[94]
Trọng tài: Alireza Faghani (Iran)
18 tháng 6, 2018 (2018-06-18)
15:00 MSK (UTC+3)
Thụy Điển  1–0  Hàn Quốc
Chi tiết

23 tháng 6, 2018 (2018-06-23)
18:00 MSK (UTC+3)
Hàn Quốc  1–2  México
Chi tiết
23 tháng 6, 2018 (2018-06-23)
21:00 MSK (UTC+3)
Đức  2–1  Thụy Điển
Chi tiết

27 tháng 6, 2018 (2018-06-27)
17:00 MSK (UTC+3)
Hàn Quốc  Trận 43  Đức
Chi tiết

Bảng G

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Bỉ 2 2 0 0 8 2 +6 6 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Anh 2 2 0 0 8 2 +6 6
3  Tunisia 2 0 0 2 3 7 −4 0
4  Panama 2 0 0 2 1 9 −8 0
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 24 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
18 tháng 6, 2018 (2018-06-18)
18:00 MSK (UTC+3)
Bỉ  3–0  Panama
Chi tiết
Sân vận động Olympic Fisht, Sochi
Khán giả: 43.257[98]
Trọng tài: Janny Sikazwe (Zambia)
18 tháng 6, 2018 (2018-06-18)
21:00 MSK (UTC+3)
Tunisia  1–2  Anh
Chi tiết
  • Kane Bàn thắng 11'90+1'

23 tháng 6, 2018 (2018-06-23)
15:00 MSK (UTC+3)
Bỉ  5–2  Tunisia
Chi tiết
Đấu trường Otkrytiye, Moskva
Khán giả: 44.190[100]
Trọng tài: Jair Marrufo (Hoa Kỳ)
24 tháng 6, 2018 (2018-06-24)
15:00 MSK (UTC+3)
Anh  6–1  Panama
Chi tiết

28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
20:00 KALT (UTC+2)
Anh  Trận 45  Bỉ
Chi tiết
28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
21:00 MSK (UTC+3)
Panama  Trận 46  Tunisia
Chi tiết

Bảng H

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Nhật Bản 1 1 0 0 2 1 +1 3[a] Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Sénégal 1 1 0 0 2 1 +1 3[a]
3  Ba Lan 1 0 0 1 1 2 −1 0[b]
4  Colombia 1 0 0 1 1 2 −1 0[b]
Cập nhật tới trận đấu diễn ra vào ngày 19 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Ghi chú:
  1. ^ a ă Điểm giải phong cách: Nhật Bản −1, Sénégal −2.
  2. ^ a ă Điểm giải phong cách: Ba Lan −1, Colombia −6.
19 tháng 6, 2018 (2018-06-19)
15:00 MSK (UTC+3)
Colombia  1–2  Nhật Bản
Chi tiết
Đấu trường Mordovia, Saransk
Khán giả: 40.842[101]
Trọng tài: Damir Skomina (Slovenia)
19 tháng 6, 2018 (2018-06-19)
18:00 MSK (UTC+3)
Ba Lan  1–2  Sénégal
Chi tiết
Đấu trường Otkrytiye, Moskva
Khán giả: 44.190[102]
Trọng tài: Nawaf Shukralla (Bahrain)

24 tháng 6, 2018 (2018-06-24)
20:00 YEKT (UTC+5)
Nhật Bản  Trận 32  Sénégal
Chi tiết
24 tháng 6, 2018 (2018-06-24)
21:00 MSK (UTC+3)
Ba Lan  Trận 31  Colombia
Chi tiết

28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
17:00 MSK (UTC+3)
Nhật Bản  Trận 47  Ba Lan
Chi tiết
28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
18:00 SAMT (UTC+4)
Sénégal  Trận 48  Colombia
Chi tiết

Vòng đấu loại trực tiếp

Trong vòng đấu loại trực tiếp, nếu trận đấu kết thúc với tỉ số hòa sau thời gian thi đấu chính thức, hiệp phụ sẽ được diễn ra ( gồm hai hiệp trong đó mỗi hiệp 15 phút) và tiếp theo, nếu tỉ số hòa vẫn được duy trì, hai đội sẽ bước vào loạt sút luân lưu để xác định đội thắng cuộc.[30]

Sơ đồ

 
Vòng 16 đội Tứ kết Bán kết Chung kết
 
                           
 
30 tháng 6 – Sochi
 
 
Nhất bảng A
 
6 tháng 7 – Nizhny Novgorod
 
Nhì bảng B
 
Thắng trận 49
 
30 tháng 6 – Kazan
 
Thắng trận 50
 
Nhất bảng C
 
10 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
Nhì bảng D
 
Thắng trận 57
 
2 tháng 7 – Samara
 
Thắng trận 58
 
Nhất bảng E
 
6 tháng 7 – Kazan
 
Nhì bảng F
 
Thắng trận 53
 
2 tháng 7 – Rostov trên sông Đông
 
Thắng trận 54
 
Nhất bảng G
 
15 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
Nhì bảng H
 
Thắng trận 61
 
1 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
Thắng trận 62
 
Nhất bảng B
 
7 tháng 7 – Sochi
 
Nhì bảng A
 
Thắng trận 51
 
1 tháng 7 – Nizhny Novgorod
 
Thắng trận 52
 
Nhất bảng D
 
11 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
Nhì bảng C
 
Thắng trận 59
 
3 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
Thắng trận 60 Play-off tranh hạng ba
 
Nhất bảng F
 
7 tháng 7 – Samara 14 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
Nhì bảng E
 
Thắng trận 55 Thua trận 61
 
3 tháng 7 – Moskva (Otkrytiye)
 
Thắng trận 56 Thua trận 62
 
Nhất bảng H
 
 
Nhì bảng G
 

Vòng 16 đội

30 tháng 6, 2018 (2018-06-30)
17:00 MSK (UTC+3)
Nhất bảng C Trận 50 Nhì bảng D

30 tháng 6, 2018 (2018-06-30)
21:00 MSK (UTC+3)
Nhất bảng A Trận 49 Nhì bảng B

1 tháng 7, 2018 (2018-07-01)
17:00 MSK (UTC+3)
Nhất bảng B Trận 51 Nhì bảng A

1 tháng 7, 2018 (2018-07-01)
21:00 MSK (UTC+3)
Nhất bảng D Trận 52 Nhì bảng C

2 tháng 7, 2018 (2018-07-02)
18:00 SAMT (UTC+4)
Nhất bảng E Trận 53 Nhì bảng F

2 tháng 7, 2018 (2018-07-02)
21:00 MSK (UTC+3)
Nhất bảng G Trận 54 Nhì bảng H

3 tháng 7, 2018 (2018-07-03)
17:00 MSK (UTC+3)
Nhất bảng F Trận 55 Nhì bảng E

3 tháng 7, 2018 (2018-07-03)
21:00 MSK (UTC+3)
Nhất bảng H Trận 56 Nhì bảng G

Tứ kết

6 tháng 7, 2018 (2018-07-06)
17:00 MSK (UTC+3)
Thắng trận 49 Trận 57 Thắng trận 50

6 tháng 7, 2018 (2018-07-06)
21:00 MSK (UTC+3)
Thắng trận 53 Trận 58 Thắng trận 54

7 tháng 7, 2018 (2018-07-07)
18:00 SAMT (UTC+4)
Thắng trận 55 Trận 60 Thắng trận 56

7 tháng 7, 2018 (2018-07-07)
21:00 MSK (UTC+3)
Thắng trận 51 Trận 59 Thắng trận 52

Bán kết

10 tháng 7, 2018 (2018-07-10)
21:00 MSK (UTC+3)
Thắng trận 57 Trận 61 Thắng trận 58

11 tháng 7, 2018 (2018-07-11)
21:00 MSK (UTC+3)
Thắng trận 59 Trận 62 Thắng trận 60

Play-off tranh hạng ba

14 tháng 7, 2018 (2018-07-14)
17:00 MSK (UTC+3)
Thua trận 61 Trận 63 Thua trận 62

Chung kết

15 tháng 7, 2018 (2018-07-15)
18:00 MSK (UTC+3)
Thắng trận 61 Trận 64 Thắng trận 62

Thống kê

Cầu thủ ghi bàn

Đã có 78 bàn thắng ghi được trong 30 trận đấu, trung bình 2.6 bàn thắng cho mỗi trận đấu.

5 bàn
4 bàn
3 bàn
2 bàn
1 bàn
1 bàn phản lưới nhà

Nguồn: FIFA[103]

Kiến tạo

2 kiến tạo
1 kiến tạo

Nguồn: FIFA

Kỷ luật

Carlos Sánchez của Colombia đã nhận được một thẻ đỏ sau khi từ chối một bàn thắng bằng cách dùng cánh tay chặn bóng trong trận gặp Nhật Bản, cầu thủ này sẽ bị treo giò trong trận gặp Ba Lan.

Tiền thưởng

Số tiền thưởng đã được công bố vào tháng 10 năm 2017.[104]

Vị trí Số tiền (triệu đô la Mỹ)
Mỗi đội tuyển Tổng số
Vô địch 38 38
Á quân 28 28
Hạng ba 24 24
Hạng tư 22 22
Hạng 5–8 16 64
Hạng 9–16 12 96
Hạng 17–32 8 128
Tổng số 400

Tiếp thị

Xây dựng thương hiệu

Kiểu chữ được sử dụng cho xây dựng thương hiệu

Biểu trưng của giải đấu đã được công bố vào ngày 28 tháng 10 năm 2014 bởi các phi hành gia tại Trạm Không gian Quốc tế và sau đó chiếu lên nhà hát Bolshoi của Moskva trong chương trình truyền hình buổi tối. Phó thủ tướng, Bộ trưởng Thể thao Nga Vitaly Mutko nói rằng biểu trưng được lấy cảm hứng từ "Truyền thống nghệ thuật giàu có của Nga cùng lịch sử thành tích và đổi mới của nó", và chủ tịch FIFA Sepp Blatter tuyên bố rằng nó phản ánh "trái tim và tâm hồn" của đất nước.[105] Đối với việc xây dựng thương hiệu, một kiểu chữ được gọi là Dusha (từ Душа, tiếng Nga cho linh hồn) được tạo ra bởi cơ quan thiết kế Bồ Đào Nha Brandia Central vào năm 2014.

Linh vật

Tập tin:Zabivaka.png
Linh vật tượng trưng cho World Cup 2018

Linh vật Giải vô địch bóng đá thế giới chính thức cho giải đấu năm 2018, một con chó sói mang tên Zabivaka ("người ghi bàn" trong tiếng Nga), đã được công bố vào ngày 21 tháng 10 năm 2016. Zabivaka là một con chó sói được nhân hóa có chiếc áo thun len màu nâu và màu trắng với dòng chữ "RUSSIA 2018" và kính thể thao màu cam. Sự kết hợp giữa áo thun và quần short màu trắng, xanh dương và đỏ là màu sắc quốc gia của đội tuyển Nga. Nhà thiết kế là sinh viên Ekaterina Bocharova, và linh vật đã được lựa chọn bởi bỏ phiếu Internet.

Kết quả bầu cử được công bố vào ngày 22 tháng 10 năm 2016, trong Evening Urgant trên kênh truyền hình số 1 Nga. Chó Sói, có tên Zabivaka, giành được 53% số phiếu bầu. Lần lượt về sau là Hổ (27%) và Mèo (20%). Hơn một triệu người được tham gia bỏ phiếu, mà đã diễn ra trong khi tháng 9 năm 2016. [106]

Đặt vé

Giai đoạn một của bán vé được bắt đầu vào ngày 14 tháng 9 năm 2017, lúc 12:00 giờ Moskva, và kéo dài cho đến ngày 12 tháng 10 năm 2017.[107] Tổng hợp chính sách visa của Nga sẽ không áp dụng cho những người tham gia và người hâm mộ Giải vô địch bóng đá thế giới, những người sẽ có thể đến thăm Nga mà không có đóng dấu thị thực cho ngay trước và trong khi cuộc thi đấu bất kể quốc tịch của họ.[108]

Bóng thi đấu

Quả bóng "Telstar 18"

Quả bóng chính thức của World Cup 2018 mang tên "Telstar 18", được dựa theo tên và thiết kế của quả bóng Adidas đầu tiên tại World Cup năm 1970. Nó được giới thiệu trước công chúng vào ngày 9 tháng 11 năm 2017[109].

Hàng hóa

Vào ngày 30 tháng 4 năm 2018, EA đã công bố bản mở rộng miễn phí cho FIFA 18 dựa theo Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, bao gồm tất cả 32 đội tuyển đang tham gia và tất cả 12 sân vận động được sử dụng tại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.[110]

Bài hát chính thức

Bài hát chính thức của giải đấu là "Live It Up", với giọng hát của Will Smith, Nicky JamEra Istrefi, được phát hành vào ngày 25 tháng 5. Video âm nhạc chính thức của Giải vô địch bóng đá thế giới đã được phát hành vào ngày 8 tháng 6.[111]

Tranh cãi về nơi tổ chức

Cũng như Thế vận hội Mùa đông 2014, việc Nga tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 đưa tới nhiều đề tài tranh cãi. Một trong những đề tài bàn luận là mức độ kỳ thị chủng tộc trong nền bóng đá Nga,[112][113] và việc kỳ thị những người đồng tính trong xã hội Nga.[114][115][116] Việc Nga dính líu tới xung đột ở Ukraina, cũng đưa tới những kêu gọi dời nơi tổ chức giải này, nhất là sau khi Nga sáp nhập Krym vào nước mình[117][118] và việc nghi ngờ vai trò của Nga trong việc chuyến bay 17 của Malaysia Airlines bị bắn rơi.[119]

Sau vụ đầu độc điệp viên Skripal tại London mà Anh cáo buộc Nga chịu trách nhiệm, thủ tướng Anh Theresa May tuyên bố rằng sẽ không có bất cứ một vị bộ trưởng Anh hay thành viên nào của gia đình hoàng gia Anh tham dự lễ khai mạc World Cup hay tham gia bất cứ hoạt động nào liên quan đến World Cup ở Nga. Chính phủ Anh thậm chí yêu cầu gia đình các tuyển thủ nước này không đến Nga cổ vũ, để đảm bảo an toàn. Lãnh đạo các nước Ba Lan, Iceland, Đan Mạch, Thụy Điển, Australia, Nhật Bản cũng tuyên bố tẩy chay World Cup 2018 và sẽ không dự lễ khai mạc ngày hội bóng đá trên đất Nga.[120]

Công tác chuẩn bị và chi phí

Chính phủ Nga đã dành ngân sách khoảng 20 tỷ USD [121], sau đó giảm xuống còn 10 tỷ USD để chuẩn bị cho kỳ World Cup này, trong đó một nửa dành cho cơ sở hạ tầng giao thông. Nước chủ nhà tập trung mạnh vào việc nâng cấp các sân bay tại những thành phố lớn.

Quyền phát sóng

FIFA, thông qua một số công ty, đã bán quyền phát sóng cho giải vô địch bóng đá thế giới 2018 cho các nhà phát thanh địa phương khác nhau.

Hoa Kỳ, World Cup 2018 sẽ là kì World Cup đầu tiên được phát sóng trên truyền hình bởi Fox Sports. Fox Sport cho biết số người xem World Cup 2014 ở Hoa Kỳ đã đạt tới con số 16,5 triệu người xem. Do vậy, việc đội tuyển bóng đá quốc gia Hoa Kỳ không vượt qua vòng loại World Cup 2018 đã dẫn đến mối quan ngại rằng sự quan tâm và số người xem của Hoa Kỳ tại World Cup này sẽ bị giảm sút (đặc biệt là những khán giả "bình thường" chỉ quan tâm đến đội tuyển Hoa Kỳ). Trong một sự kiện ra mắt, Fox nói rằng họ đã lên kế hoạch tập trung vào đội tuyển Mexico trong phạm vi phủ sóng của mình để tận dụng sự phổ biến của họ trong số lượng người xem ở Hoa Kỳ (bao gồm người Mỹ gốc Tây Ban Nha và Mỹ La Tinh). Fox nói rằng họ vẫn cam kết phát sóng một số lượng đáng kể tin tức cho giải đấu.[122][123][124]

Tại Việt Nam, VTV là đơn vị sở hữu bản quyền phát sóng World Cup 2018. Tập đoàn Vingroup tài trợ 5 triệu USD chi phí mua bản quyền.[125][126]

Tài trợ

Đối tác của FIFA Nhà tài trợ của FIFA World Cup Những nhà tài trợ
châu Phi
Những nhà tài trợ
châu Á
Những nhà tài trợ
châu Âu
  • Egypt – Experience & Invest[139]

Xem thêm

Tham khảo

  1. ^ a ă “Ethics: Executive Committee unanimously supports recommendation to publish report on 2018/2022 FIFA World Cup™ bidding process” (Thông cáo báo chí). FIFA.com. Ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  2. ^ “Russia united for 2018 FIFA World Cup Host Cities announcement”. FIFA.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  3. ^ “FIFA Picks Cities for World Cup 2018”. En.rsport.ru. Ngày 29 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  4. ^ “Russia budget for 2018 Fifa World Cup nearly doubles”. BBC News. Ngày 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  5. ^ Goff, Steve (ngày 16 tháng 1 năm 2009). “Future World Cups”. The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2009. 
  6. ^ “Mexico withdraws FIFA World Cup bid”. FIFA. Ngày 29 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  7. ^ “Indonesia's bid to host the 2022 World Cup bid ends”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010. 
  8. ^ “Combined bidding confirmed”. FIFA. Ngày 20 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008. 
  9. ^ “England miss out to Russia in 2018 World Cup Vote”. BBC News. Ngày 2 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  10. ^ Doyle, Paul; Busfield, Steve (ngày 2 tháng 12 năm 2010). “World Cup 2018 and 2022 decision day – live!”. The Guardian (Luân Đôn). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2016. 
  11. ^ “What We Know About Corruption in the 2018 And 2022 World Cup Bids”. VICE Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  12. ^ "Michael Garcia: FIFA investigator resigns in World Cup report row". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  13. ^ “Former FA chairman David Bernstein calls for 2018 World Cup boycott”. the Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  14. ^ Editorial, Reuters. “Qatar World Cup organizers ready to fight for 2022”. U.S. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  15. ^ “Myanmar appeal partially upheld”. FIFA. Ngày 7 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  16. ^ “Zimbabwe expelled from 2018 World Cup”. BBC Sport. Ngày 12 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 12 tháng 3 năm 2015. 
  17. ^ “IMPACT OF FOOTBALL ASSOCIATION OF INDONESIA SUSPENSION”. AFC. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  18. ^ “FIFA World Cup™ Preliminary Draw: 1 week to go”. FIFA.com. Ngày 18 tháng 7 năm 2015. 
  19. ^ “Organising Committee for the FIFA World Cup extends its responsibilities to cover 2018 and 2022”. FIFA.com. Ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  20. ^ “Konstantinovsky Palace to stage Preliminary Draw of the 2018 FIFA World Cup”. FIFA.com. Ngày 10 tháng 10 năm 2014. 
  21. ^ a ă “2022 FIFA World Cup to be played in November/December”. FIFA.com. Ngày 20 tháng 3 năm 2015. 
  22. ^ “Current allocation of FIFA World Cup™ confederation slots maintained”. FIFA.com. Ngày 30 tháng 5 năm 2015. 
  23. ^ “Sorry, we can’t seem to find the page you’re looking for.”. Ngày 13 tháng 5 năm 2016. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017 – qua washingtonpost.com. 
  24. ^ “Kosovo & Gibraltar become eligible for 2018 World Cup Qualifying”. Truy cập ngày 10 tháng 1 năm 2017. 
  25. ^ T.A.W. (12 tháng 11 năm 2017). “How Iceland (population: 330,000) qualified for the World Cup”. The Economist. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  26. ^ “In first, 4 Arab countries qualify for FIFA World Cup Finals”. The Times of Israel. 12 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  27. ^ “Final Draw to take place in State Kremlin Palace”. FIFA.com. Ngày 24 tháng 1 năm 2017. 
  28. ^ “Final Draw to take place at 18:00”. telegraph.co.uk. Ngày 24 tháng 11 năm 2017. 
  29. ^ “OC for FIFA Competitions approves procedures for the Final Draw of the 2018 FIFA World Cup”. FIFA.com. Ngày 14 tháng 9 năm 2017. 
  30. ^ a ă “Regulations – 2018 FIFA World Cup Russia” (PDF). FIFA.com. 
  31. ^ “Rest periods tor the players on the provisional list tor the 2018 FIFA World Cup Russia™” (PDF). FIFA.com. Ngày 30 tháng 3 năm 2017. 
  32. ^ “Organising Committee for FIFA Competitions: Updates on the FIFA World Cup™ and women’s tournaments”. FIFA.com. Ngày 8 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2018. 
  33. ^ “FIFA Council decides on key steps for the future of international competitions”. FIFA.com. Ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  34. ^ “World Cup 2018 referees” (PDF). 
  35. ^ “World Cup 2018 List of video match officials” (PDF). 
  36. ^ “2018 FIFA World Cup Bid Evaluation Report: Russia” (PDF). FIFA. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 14 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2002. 
  37. ^ Marikar, Hafiz. “Russia to host next FIFA World Cup”. Dailynews.lk. The Associated Newspapers of Ceylon Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  38. ^ “Почему у России осталось только 14 стадионов к ЧМ-2018 – Известия (Why are there only 14 stadiums for the Russia 2018 World Cup)” (bằng tiếng Nga). Izvestia.ru. Ngày 7 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2011. 
  39. ^ “2018 FIFA World Cup™ to be played in 11 Host Cities”. fifa.com. Ngày 29 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012. 
  40. ^ Saakov, Rafael (ngày 22 tháng 7 năm 2014). “Russia 2018: Major challenges for next World Cup hosts”. BBC News. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  41. ^ Rogovitskiy, Dmitriy (ngày 21 tháng 10 năm 2014). “Russia on track for World Cup 2018, say FIFA inspectors”. Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  42. ^ “Stadium names for the 2018 FIFA World Cup Russia™ confirmed”. FIFA.com. Ngày 8 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  43. ^ “World Cup 2018 stadiums: A guide to the venues of this summer's tournament”. The Telegraph. Ngày 30 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  44. ^ “Stadium for 45,000 spectators for the World Cup in Nizhny Novgorod”. stroytransgaz.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  45. ^ “The 2018 World Cup in Volgograd was put into operation”. rsport.ria.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  46. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  47. ^ “Luzhniki Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  48. ^ “Spartak Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  49. ^ “Saint Petersburg Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  50. ^ “Fisht Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  51. ^ “Samara Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  52. ^ “Kazan Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  53. ^ “Rostov Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  54. ^ “Volgograd Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  55. ^ “Nizhny Novgorod Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  56. ^ “Mordovia Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  57. ^ “Ekaterinburg Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  58. ^ “Kaliningrad Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  59. ^ “Team Base Camps for 2018 FIFA World Cup™ confirmed”. FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). Ngày 9 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2018. 
  60. ^ “The budget for the 2018 World Cup is about € 1 billion”. Чемпионат (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  61. ^ “228 billion spent on preparation of the transport infrastructure of the World Cup 2018”. sport24.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  62. ^ Services, MATCH AG. “Список гостиниц - Размещение - Чемпионат мира по футболу FIFA 2018 в России™ - FIFA.com”. FIFA.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  63. ^ “Алмазная радиосвязь”. Газета.Ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  64. ^ “Kaliningrad airport’s new terminal put in operation”. Russian Aviation Insider. 26 tháng 7 năm 2017. Truy cập 4 tháng 6 năm 2018. 
  65. ^ “Алмазная радиосвязь”. Газета.Ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  66. ^ “New record of the Volunteer program of the World Cup 2018”. welcome2018.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  67. ^ FIFA.com (ngày 17 tháng 1 năm 2017). “A set of volunteers at the World Cup 2018 set a new World Cup record”. www.fifa.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  68. ^ FIFA.com. “Чемпионат мира по футболу FIFA 2018 в России™ - Волонтерская программа: F.A.Q. - FIFA.com” [FIFA 2018 World Cup in Russia™ - Volunteer program: F.A.Q.]. www.fifa.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  69. ^ Tirkey, Joy (13 tháng 6 năm 2018). “FIFA World Cup, Opening Ceremony: When And Where To Watch, Live Coverage On TV, Live Streaming Online”. NDTV Sports. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  70. ^ “World Cup 2018 Opening Ceremony: What time will it start and when will Robbie Williams feature?”. The Telegraph. 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  71. ^ “Robbie Williams show at World Cup opening ceremony is too short to ever be dull”. Guardian. 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  72. ^ “Match schedules for FIFA Confederations Cup 2017 and 2018 FIFA World Cup™ unveiled”. FIFA.com. 24 tháng 7 năm 2015. 
  73. ^ “FIFA World Cup Russia 2018 - Match Schedule” (PDF). FIFA.com. 
  74. ^ “Match report – Group A – Russia-Saudi Arabia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  75. ^ “Match report – Group A – Egypt-Uruguay” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  76. ^ “Match report – Group A – Russia-Egypt” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  77. ^ “Match report – Group A – Uruguay-Saudi Arabia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  78. ^ “Match report – Group B – Morocco-Iran” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  79. ^ “Match report – Group B – Portugal-Spain” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  80. ^ “Match report – Group B – Portugal-Morocco” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  81. ^ “Match report – Group B – Iran-Spain” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  82. ^ “Match report – Group C – France-Australia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  83. ^ “Match report – Group C – Peru-Denmark” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  84. ^ “Match report – Group C – Denmark-Australia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018. 
  85. ^ “Match report – Group C – France-Peru” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018. 
  86. ^ “Match report – Group D – Argentina-Iceland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  87. ^ “Match report – Group D – Croatia-Nigeria” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  88. ^ “Match report – Group D – Argentina-Croatia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018. 
  89. ^ “Match report – Group D – Nigeria-Iceland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018. 
  90. ^ “Match report – Group E – Costa Rica-Serbia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  91. ^ “Match report – Group E – Brazil-Switzerland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  92. ^ “Match report – Group E – Brazil-Costa Rica” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018. 
  93. ^ “Match report – Group E – Serbia-Switzerland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018. 
  94. ^ “Match report – Group F – Germany-Mexico” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  95. ^ “Match report – Group F – Sweden-Korea Republic” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. 
  96. ^ “Match report – Group F – Korea Republic-Mexico” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  97. ^ “Match report – Group F – Germany-Sweden” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  98. ^ “Match report – Group G – Belgium-Panama” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. 
  99. ^ “Match report – Group G – Tunisia-England” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. 
  100. ^ “Match report – Group G – Belgium-Tunisia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  101. ^ “Match report – Group H – Colombia-Japan” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  102. ^ “Match report – Group H – Poland-Senegal” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  103. ^ “Players: Goals scored”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018. 
  104. ^ Henley, Brendon (ngày 27 tháng 10 năm 2017). “FIFA World Cup Prize Money” (pdf). FIFA.com. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 29 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2017. 
  105. ^ 'Russia’s heart & soul': World Cup 2018 logo unveiled in Moscow (PHOTOS, VIDEO)”. RT. Ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  106. ^ “Wolf chosen as 2018 FIFA World Cup Official Mascot and named Zabivaka” (Thông cáo báo chí). FIFA. Ngày 21 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 21 tháng 10 năm 2016. 
  107. ^ “Ticket sales for 2018 FIFA World Cup™ to start on ngày 14 tháng 9 năm 2017”. FIFA.com. Ngày 12 tháng 9 năm 2017. 
  108. ^ “Russia to ease visa regime for World Cup fans in 2018”. Tiếng nói nước Nga. Ngày 11 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 6 tháng 6 năm 2015. 
  109. ^ “2018 FIFA World Cup™ official match ball unveiled: an exciting re-imagining”. FIFA.com. 9 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2017. 
  110. ^ “Archived copy”. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2018. 
  111. ^ “2018 FIFA World Cup Russia™ Official Song 'Live It Up' to be performed by all-star line-up”. FIFA. Ngày 23 tháng 5 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2018. 
  112. ^ Syal, Rajeev (ngày 3 tháng 12 năm 2010). “World Cup 2018 win raises Russian racism fears”. The Guardian. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  113. ^ “Yaya Toure: Black players may boycott 2018 Russia World Cup”. BBC Sport. Ngày 25 tháng 10 năm 2013. 
  114. ^ change.org. “Dismiss Russia As Host Of The 2018 World Cup”. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  115. ^ J.P. McCormick (ngày 25 tháng 3 năm 2014). “Campaigns demand FIFA bans Russia from hosting 2018 World Cup due to anti-gay law”. Pink News. 
  116. ^ J. Lavin (ngày 28 tháng 2 năm 2014). “Why FIFA Needs to Move the World Cup”. advocate.com. 
  117. ^ "Fifa urged to rethink staging 2018 World Cup in Russia". Bbc.com, 2014-03-21. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014.
  118. ^ Winter, Stuart (2014-03-23): "US calls for Fifa to drop Russia from hosting World Cup in 2018". Express.co.uk. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014.
  119. ^ “German politicians question Russia’s suitability to host 2018 World Cup”. The Guardian. Reuters. Ngày 23 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  120. ^ Sáu nước ủng hộ Anh, tẩy chay lễ khai mạc World Cup 2018 - VnExpress Thể Thao
  121. ^ “Russian Prime Minister Dmitry Medvedev says 2018 FIFA World Cup to cost 20 billion dollars”. NDTV. 13 tháng 6 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 3 năm 2018.  Đã bỏ qua tham số không rõ |df= (trợ giúp)
  122. ^ Draper, Kevin (ngày 11 tháng 10 năm 2017). “Fox and Others Will Feel Pain of U.S. Absence at World Cup”. The New York Times (bằng tiếng en-US). ISSN 0362-4331. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2017. 
  123. ^ “USMNT elimination is a disaster for Fox Sports”. SI.com (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2017. 
  124. ^ “Fox Projects Up to $20 Million in Lost World Cup Ad Sales”. Bloomberg.com. Ngày 11 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2017. 
  125. ^ “VTV chính thức có bản quyền truyền hình World Cup 2018”. 
  126. ^ “VTV đã đạt thỏa thuận bản quyền World Cup 2018”. 
  127. ^ “FIFA and adidas extend partnership until 2030”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  128. ^ “Coca-Cola renews Fifa football sponsorship until 2022”. Campaignlive.co.uk. Campaign. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  129. ^ “Gazprom agrees Fifa sponsorship deal”. SportsProMedia.com. SportsPro. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  130. ^ “Hyundai-Kia drives on as FIFA Partner until 2022”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  131. ^ “Qatar Airways announced as Official Partner and Official Airline of FIFA until 2022”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  132. ^ “Visa extending World Cup deal for eight years”. SportsBusinessDaily.com. Sports Business Daily. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  133. ^ “Wanda Group becomes new FIFA Partner”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 4 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  134. ^ “FIFA and Anheuser-Busch InBev announce FIFA World Cup™ sponsorship for 2018 / 2022”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  135. ^ “Hisense becomes Official Sponsor of 2018 FIFA World Cup™”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  136. ^ “McDonald’s looking ahead to 2018”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  137. ^ “Mengniu Group added to Fifa World Cup sponsor line-up”. Sportspromedia.com. SportsPro. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017. 
  138. ^ “Fifa agrees massive World Cup deal with Vivo”. SportsProMedia.com. SportsPro. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2017. 
  139. ^ “Egypt government selected as regional sponsor for 2018 FIFA World Cup”. Egypt Independent. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018. 
  140. ^ a ă “More Chinese sponsors sign up for Fifa World Cup”. TheDrum. TheDrum. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2018. 
  141. ^ “Fifa adds latest Chinese sponsor for World Cup”. SportsProMedia.com. SportsPro. Bản gốc lưu trữ ngày 14 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 5 tháng 3 năm 2018. 
  142. ^ “Alfa-Bank unveiled as first-ever Regional Supporter for the FIFA World Cup™”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2017. 
  143. ^ “Alrosa completes line-up of European Regional Supporters of the 2018 FIFA World Cup™”. FIFA.com. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2018. 
  144. ^ Carp, Sam. “Fifa World Cup adds Rostelecom as regional partner”. SportsPro. Truy cập ngày 22 tháng 3 năm 2018. 
  145. ^ “Russian Railways announced as an Official European Supporter of the 2018 FIFA World Cup™”. FIFA.com. Truy cập ngày 16 tháng 4 năm 2018. 

Liên kết ngoài