Giải vô địch bóng đá thế giới 2018

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
Чемпионат мира по футболу FIFA 2018
Chempionat mira po futbolu FIFA 2018
2018 FIFA World Cup.svg
Biểu trưng chính thức của Giải vô địch bóng đá thế giới 2018
Chi tiết giải đấu
Nước chủ nhà Nga
Thời gian14 tháng 6 – 15 tháng 7
Số đội32 (từ 5 liên đoàn)
Địa điểm thi đấu12 (tại 11 thành phố chủ nhà)
Vị trí chung cuộc
Vô địch Pháp (lần thứ 2)
Á quân Croatia
Hạng ba Bỉ
Hạng tư Anh
Thống kê giải đấu
Số trận đấu64
Số bàn thắng169 (2,64 bàn/trận)
Số khán giả3.031.768 (47.371 khán giả/trận)
Vua phá lướiAnh Harry Kane (6 bàn thắng)
Cầu thủ
xuất sắc nhất
Croatia Luka Modric
Cầu thủ trẻ
xuất sắc nhất
Pháp Kylian Mbappé
Thủ môn
xuất sắc nhất
Bỉ Thibaut Courtois
Đội đoạt giải
phong cách
 Tây Ban Nha[1]
2014
2022

Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 hay còn gọi là Cúp bóng đá thế giới 2018 (tiếng Anh: 2018 FIFA World Cup, tiếng Nga: Чемпионат мира по футболу FIFA 2018) là giải vô địch bóng đá thế giới lần thứ 21 được tổ chức tại Nga. Đây là lần đầu tiên, giải được tổ chức tại một quốc gia thuộc khu vực Đông Âu và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc Liên Xô cũ. Giải đấu diễn ra từ ngày 14 tháng 6 đến 15 tháng 7 năm 2018.[2]

Đây là lần đầu tiên World Cup được tổ chức ở Đông Âu,[3] và là lần thứ 11 giải đấu tổ chức ở châu Âu.[4] Với chi phí ước tính hơn 14,2 tỷ đô la, đây là kỳ World Cup đắt đỏ nhất từ trước đến nay.[5] Đây cũng là kỳ World Cup đầu tiên mà công nghệ hỗ trợ trọng tài (VAR) đã được sử dụng.[6][7]

Giải đấu có 32 đội tuyển quốc gia tham dự, bao gồm nước chủ nhà Nga và 31 đội tuyển vượt qua vòng loại của giải. Trong đó có 20 đội đã góp mặt từ giải năm 2014, trong khi IcelandPanama có lần tham dự đầu tiên. 64 trận đấu của giải được diễn ra trên 12 sân vận động thuộc 11 thành phố khác nhau của Nga.

Đương kim vô địch Đức bị loại ngay từ vòng bảng lần đầu tiên kể từ năm 1938 sau khi lần đầu tiên để thua 2 trận vòng bảng mà đáng chú ý là trận thua sốc 0-2 trước đội bóng châu Á Hàn Quốc, qua đó trở thành đội đương kim vô địch thứ 6 trong lịch sử không vượt qua vòng bảng World Cup (sau Brasil năm 1966, Pháp năm 2002, Ý năm 19502010Tây Ban Nha năm 2014). Đội chủ nhà Nga đã lọt vào đến tứ kết của giải, thành tích tốt nhất của đội kể từ khi tách ra khỏi Liên bang Xô viết (trước đó Liên Xô lọt vào top 4 năm 1966). Croatia đã có lần đầu tiên trong lịch sử lọt vào một trận chung kết World Cup, vượt qua thành tích giành hạng 3 mà đội làm được vào năm 1998. Bỉ cũng có lần đầu tiên giành hạng 3 trong khi Anh lọt vào top 4 đội mạnh nhất lần thứ 3 (trong đó có kỳ World Cup mà họ vô địch năm 1966) và cũng là lần đầu tiên kể từ năm 1990. Uruguay và Brazil đều bị loại tại tứ kết khiến cho Nam Mỹ ngày càng bị lép vế so với châu Âu. Đáng chú ý là đội tuyển từng 4 lần vô địch Ý không vượt qua vòng loại của giải.

Pháp giành chức vô địch World Cup lần thứ 2 trong lịch sử (lần đầu vào năm 1998) khi đánh bại Croatia với tỷ số 4–2 trong trận chung kết diễn ra vào ngày 15 tháng 7 ở Moskva tại sân vận động Luzhniki.[8] Đây là lần thứ tư liên tiếp mà chức vô địch thế giới thuộc về các đội bóng đến từ châu Âu. Ba lần trước là Ý năm 2006, Tây Ban Nha năm 2010Đức năm 2014.

Sau khi FIFA bỏ Cúp Liên đoàn các châu lục 2021 ở Qatar vào ngày 15 tháng 3 năm 2019 vì lý do thời tiết, đây là kì World Cup cuối cùng mà tại trước đó một năm, Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 được tổ chức tại quốc gia chủ nhà, sau khi Đức vô địch.

Lựa chọn chủ nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Đại diện đấu thầu Nga kỷ niệm việc trao quyền đăng cai World Cup 2018 cho Nga, tháng 12 năm 2010.
Tổng thống Nga Vladimir Putin đang cầm chiếc Cúp FIFA World Cup tại lễ trao giải trước ở Moskva, tháng 9 năm 2017
Tiền 100 rúp của ngân hàng Nga kỷ niệm giấy polymer năm 2018. Tiền giấy bạc kỷ niệm Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.

Những thủ tục đấu thầu để đăng cai các giải vô địch bóng đá thế giới 2018 và 2022 đã bắt đầu vào tháng 1 năm 2009, và hạn chót để các liên đoàn bóng đá quốc gia làm thủ tục đăng ký là ngày 2 tháng 2 năm 2009.[9] Ban đầu có chín quốc gia nộp hồ sơ xin đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, nhưng sau đó México rút lui,[10] còn hồ sơ của Indonesia đã bị FIFA từ chối vào tháng 2 năm 2010 sau khi chính phủ nước này không đệ trình đơn hỗ trợ đấu thầu.[11] Ba quốc gia không thuộc UEFA còn lại (Úc, Nhật Bản và Hoa Kỳ) cũng dần rút khỏi quá trình vận động xin đăng cai World Cup năm 2018, và hồ sơ xin đăng cai World Cup 2022 của các quốc gia thuộc UEFA cũng bị loại bỏ. Như vậy, cuối cùng chỉ còn lại bốn ứng viên xin đăng cai Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, trong đó có 2 hồ sơ xin đồng đăng cai gồm có: Anh, Nga, Hà Lan/Bỉ và Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha.

Ủy ban điều hành FIFA gồm 22 thành viên đã triệu tập tại Zürich vào ngày 2 tháng 12 năm 2010 để bỏ phiếu lựa chọn các quốc gia chủ nhà của cả hai giải đấu World Cup 2018 và World Cup 2022.[12] Nga giành quyền được làm chủ nhà của giải đấu năm 2018 trong lượt bỏ phiếu vòng thứ hai khi đạt số phiếu bầu cao nhất ̣(13 phiếu). Bồ Đào Nha/Tây Ban Nha đứng thứ hai, và Bỉ/Hà Lan xếp thứ ba. Hồ sơ của Anh xin tổ chức giải đấu lần thứ hai của họ (lần đầu vào năm 1966) bị loại từ vòng bỏ phiếu đầu tiên.[13]

Kết quả bỏ phiếu như sau:[14]

Đấu thầu FIFA 2018 (chiến thắng nếu đạt đủ 12 phiếu bầu)
Các ứng cử viên Bỏ phiếu
Vòng 1 Vòng 2
Nga 9 13
Bồ Đào Nha / Tây Ban Nha 7 7
Bỉ / Hà Lan 4 2
Anh 2 Bị loại

Chỉ trích[sửa | sửa mã nguồn]

Hiệp hội bóng đá Anh (FA) và một số liên đoàn thành viên khác đã gia tăng mối lo ngại về sự hối lộ từ Nga và tham nhũng từ các thành viên FIFA. Họ tuyên bố rằng bốn thành viên trong ủy ban điều hành đã yêu cầu tiền hối lộ để bỏ phiếu cho Anh, còn Sepp Blatter cho biết cuộc bỏ phiếu đã được dàn xếp trước để Nga giành chiến thắng.[15] Một cuộc điều tra nội bộ do Michael J. Garcia dẫn đầu, mang tên Garcia Report 2014 đã bị Hans-Joachim Eckert, trưởng ban điều hành vấn đề đạo đức của FIFA từ chối phát hành trước công chúng. Thay vào đó Eckert đưa ra một bản tóm tắt sửa đổi ngắn hơn, và việc ông (và FIFA) miễn cưỡng công bố báo cáo đầy đủ đã khiến Garcia từ chức để phản đối.[16] Chính vì những tranh cãi trên, FA đã từ chối chấp nhận sự tha tội của Eckert cho Nga, khi Greg Dyke kêu gọi tái kiểm tra vụ việc và David Bernstein kêu gọi tẩy chay World Cup.[17][18]

Các đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại trừ đội tuyển Nga được vào thẳng do là chủ nhà, tất cả 209 quốc gia là thành viên của FIFA đều phải tham gia vòng loại để xác định ra 32 đội tuyển lọt vào vòng chung kết của giải đấu được tổ chức trên đất Nga.[19] ZimbabweIndonesia đã bị cấm thi đấu và sau đó bị trục xuất khi chưa thi đấu một trận đấu nào ở vòng loại,[20][21] với GibraltarKosovo, gia nhập FIFA vào 13 tháng 5 năm 2016 (sau thời gian sắp xếp sơ đồ thi đấu nhưng trước khi bắt đầu vòng loại châu Âu), nên được tham dự vòng loại.[22] Số đội tham dự cho mỗi châu lục (không tính chủ nhà) vẫn tương tự như năm 2014.[23][24] Trận đấu đầu tiên của vòng loại World Cup 2018 là trận đấu vào ngày 12 tháng 3 năm 2015 giữa Đông TimorMông Cổ, thuộc hệ thống vòng loại khu vực châu Á (AFC).[25] Lễ bốc thăm vòng loại diễn ra vào lúc 18:00 giờ địa phương (UTC+3) ngày 25 tháng 7 năm 2015 tại Cung điện Konstantinovsky ở Strelna, Sankt-Peterburg.[2][26][27][28]

Trong số 32 quốc gia đủ điều kiện tham dự FIFA World Cup 2018, có 20 nước đã tham dự giải đấu trước đó vào năm 2014, trong khi hai đội tuyển IcelandPanama có lần đầu tiên trong lịch sử tham dự một kì World Cup, Iceland cũng đi vào lịch sử khi là quốc gia ít dân nhất có đội tuyển bóng đá tham dự World Cup [29]. Một số đội tuyển khác cũng đã có sự trở lại sau khi đã vắng mặt trong ít nhất ba kì World Cup bao gồm: Ai Cập, lần đầu tham dự sau 28 năm vắng mặt từ lần xuất hiện cuối cùng vào năm 1990; Maroc, có lần gần nhất tham dự World Cup vào năm 1998; Peru, trở lại giải đấu lớn nhất hành tinh sau 36 năm vắng mặt (từ năm 1982); và Senegal, đã có lần thứ 2 tham dự World Cup sau khi lọt vào tứ kết năm 2002. Đây là lần đầu tiên có ba quốc gia Bắc Âu (Đan Mạch, Iceland và Thụy Điển) và bốn quốc gia thuộc thế giới Ả Rập (Ai Cập, Maroc, Ả Rập Xê Út và Tunisia) cùng giành quyền tham dự vòng chung kết[30].

Các quốc gia đáng chú ý không vượt qua vòng loại World Cup lần này bao gồm đội tuyển từng 4 lần vô địch Ý (lần đầu tiên vắng mặt kể từ năm 1958) và đội tuyển từng ba lần về nhì Hà Lan (lần đầu tiên kể từ năm 2002), cùng với bốn nhà vô địch châu lục: nhà vô địch Cúp bóng đá châu Phi 2017 Cameroon, nhà vô địch 2 lần liên tiếp Copa América và á quân của Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 Chile, nhà vô địch Cúp bóng đá châu Đại Dương 2016 New Zealand, và nhà vô địch Cúp Vàng CONCACAF 2017 Hoa Kỳ (lần đầu tiên kể từ năm 1986). Các đội bóng đáng chú ý khác cũng không thể giành vé tham dự là GhanaBờ Biển Ngà, dù cả hai đều đã tham dự ba giải đấu trước đó.[31]

Ghi chú: Xếp hạng tương đương với Bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA lúc vòng chung kết bắt đầu.[32]

Bốc thăm[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bốc thăm được tổ chức vào ngày 1 tháng 12 năm 2017, lúc 18:00 giờ Moskva, tại Điện KremlinMoskva.[33][34] 32 đội tuyển được rút thăm chia thành 8 bảng 4 đội.

Đối với lễ bốc thăm, các đội tuyển được phân bổ vào bốn nhóm được dựa trên bảng xếp hạng thế giới FIFA vào tháng 10 năm 2017. Nhóm 1 gồm chủ nhà Nga (được tự động gán vào vị trí A1) và 7 đội tuyển có thứ hạng cao nhất trên BXH FIFA, nhóm 2 chứa 8 đội tuyển tiếp theo, và cứ như vậy cho các nhóm 3 và 4.[35] Điều này có khác biệt so với các lễ bốc thăm trước đó (chỉ nhóm 1 được dựa trên bảng xếp hạng FIFA khi các nhóm còn lại đã được dựa trên cân nhắc về địa lý). Tương tự như các kỳ World Cup trước, các đội tuyển từ cùng liên đoàn không được cùng bảng đấu với nhau, ngoại trừ châu Âu nơi mỗi bảng có thể chứa lên đến hai đội tuyển tới từ châu lục này.

Nhóm 1 Nhóm 2 Nhóm 3 Nhóm 4

 Nga (65) (chủ nhà)
 Đức (1) (đương kim vô địch)
 Brasil (2)
 Bồ Đào Nha (3)
 Argentina (4)
 Bỉ (5)
 Ba Lan (6)
 Pháp (7)

 Tây Ban Nha (8)
 Peru (10)
 Thụy Sĩ (11)
 Anh (12)
 Colombia (13)
 México (16)
 Uruguay (17)
 Croatia (18)

 Đan Mạch (19)
 Iceland (21)
 Costa Rica (22)
 Thụy Điển (25)
 Tunisia (28)
 Ai Cập (30)
 Sénégal (32)
 Iran (34)

 Serbia (38)
 Nigeria (41)
 Úc (43)
 Nhật Bản (44)
 Maroc (48)
 Panama (49)
 Hàn Quốc (62)
 Ả Rập Xê Út (63)

Đội hình[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi đội tuyển phải đăng ký một danh sách sơ bộ gồm 30 cầu thủ. Từ đội hình sơ bộ, đội tuyển phải đăng ký một đội hình cuối cùng gồm 23 cầu thủ (ba cầu thủ trong đội tuyển đó phải là thủ môn) theo thời hạn FIFA. Các cầu thủ trong đội hình cuối cùng có thể được thay thế do chấn thương nghiêm trọng trong vòng 24 giờ trước khi bắt đầu trận đấu đầu tiên của đội tuyển, nơi các cầu thủ thay thế không cần phải vào đội hình vòng sơ bộ.[36]

Đối với các cầu thủ có tên trong đội hình vòng sơ bộ gồm 30 cầu thủ, thời gian nghỉ ngơi bắt buộc đối với họ là từ giữa ngày 21 và ngày 27 tháng 5 năm 2018, ngoại trừ những cầu thủ thi đấu trong trận chung kết UEFA Champions League 2018 được diễn ra vào ngày 26 tháng 5.[37]

Trong tháng 2 năm 2018, FIFA công bố rằng số lượng cầu thủ được trong danh sách sơ bộ sẽ được tăng từ 30 lên 35.[38]

Trọng tài[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 29 tháng 3 năm 2018, FIFA đã phát hành danh sách 36 trọng tài và 63 trợ lý trọng tài được lựa chọn để điều khiển các trận đấu.[39] Vào ngày 30 tháng 4 năm 2018, FIFA đã phát hành danh sách 13 trọng tài điều khiển công nghệ VAR, những người chỉ hoạt động như thiết bị VAR trong giải đấu.[40]

Công nghệ VAR[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 16 tháng 3 năm 2018, hội đồng FIFA được phê chuẩn việc sử dụng công nghệ hỗ trợ trọng tài (VAR) lần đầu tiên trong một giải đấu World Cup.[41].

Các hoạt động VAR cho tất cả các trận đấu đang hoạt động từ một trụ sở chính tại Moskva, nhận được video trực tiếp về các trận đấu và có liên hệ vô tuyến với các trọng tài trên sân [42]. Các hệ thống được thiết lập để truyền thông tin liên quan đến VAR tới các đài truyền hình và hình ảnh trên màn hình lớn của sân vận động được sử dụng để phục vụ cho người hâm mộ [42].

VAR có tác động đáng kể trong một số trận đấu. Vào ngày 15 tháng 6 năm 2018, bàn thắng của cầu thủ Diego Costa trong trận đấu Bồ Đào Nha với Tây Ban Nha tại vòng bảng trở thành bàn thắng đầu tiên của World Cup dựa trên quyết định của VAR [43], hình phạt đầu tiên do quyết định VAR được trao cho Pháp trong trận đấu Pháp và Úc tại vòng bảng vào ngày 16 tháng 6 và dẫn đến một bàn thắng từ chấm penalty của Antoine Griezmann[44]. Một số kỷ lục của các hình phạt đã được trao trong giải đấu, với hiện tượng này là một phần do VAR [45]. Nhìn chung, công nghệ mới đã được cả những bình luận khen ngợi và chỉ trích [46]. FIFA tuyên bố triển khai VAR thành công sau tuần đầu tiên của giải [47].

Địa điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Nga đã đề xuất các thành phố chủ nhà sau đây: Kaliningrad, Kazan, Krasnodar, Moskva, Nizhny Novgorod, Rostov trên sông Đông, Sankt-Peterburg, Samara, Saransk, Sochi, Volgograd, Yaroslavl, và Yekaterinburg.[48] Hầu hết các thành phố ở Nga thuộc châu Âu, trong khi Sochi[49]Yekaterinburg[50] nằm khá gần với biên giới Á-Âu, để giảm bới thời gian di chuyển cho các đội tuyển trong một đất nước rộng lớn. Báo cáo đánh giá đấu thầu đã nói: "Đấu thầu của Nga đề xuất 13 thành phố chủ nhà và 16 sân vận động, do đó vượt quá yêu cầu tối thiểu của FIFA. Ba trong số 16 sân vận động đã được cải tạo và 13 sân vận động đã được xây mới"[51]

Vào tháng 10 năm 2011, Nga được giảm số lượng các sân vận động từ 16 xuống 14. Việc xây dựng sân vận động Podolsk được đề xuất ở vùng Moskva đã bị chính quyền vùng hủy bỏ và cũng ở thủ đô, Otkrytiye Arena đang cạnh tranh với sân vận động Dynamo, trên đó sẽ được xây dựng đầu tiên.[52]

Sự lựa chọn cuối cùng của các thành phố chủ nhà đã được công bố vào ngày 29 tháng 9 năm 2012. Số lượng thành phố đã giảm xuống còn 11 và số sân vận động lên đến 12 vì Krasnodar và Yaroslavl đã bị loại khỏi danh sách cuối cùng. Trong số 12 sân vận động được sử dụng cho giải đấu, 3 sân vận động (Luzhniki, Yekaterinburg và Sochi) đã được cải tạo rộng rãi và 9 sân vận động khác được sử dụng là thương hiệu mới; 11,8 tỷ đô la đã được chi cho việc tổ chức giải đấu.[53]

Sepp Blatter tuyên bố trong tháng 7 năm 2014 rằng do lo ngại về tiến độ hoàn thành các địa điểm ở Nga, số lượng các địa điểm cho giải đấu có thể giảm từ 12 xuống 10. Ông cũng nói rằng "Chúng ta sẽ không phải rơi vào tình huống, như trường hợp của một, hai hoặc thậm chí ba sân vận động ở Nam Phi, nơi nó là một vấn đề của những gì bạn làm với các sân vận động này".[54]

Tái thiết sân vận động Trung tâm Yekaterinburg vào tháng 1 năm 2017

Vào tháng 10 năm 2014, trong chuyến thăm chính thức đầu tiên của họ tới Nga, Ủy ban kiểm tra của FIFA và trưởng đoàn Chris Unger đã đến thăm Sankt-Peterburg, Sochi, Kazan và cả hai địa điểm ở Moskva. Họ đã tỏ ra hài lòng với tiến độ.[55]

Vào ngày 8 tháng 10 năm 2015, FIFA và Ban tổ chức địa phương đã đồng ý về tên chính thức của các sân vận động được sử dụng trong giải đấu.[56]

Trong số 12 địa điểm được sử dụng, sân vận động Luzhniki ở Moskva và sân vận động Sankt-Peterburg – hai sân vận động lớn nhất ở Nga – được sử dụng nhiều nhất, cả hai đều tổ chức 7 trận đấu. Sochi, Kazan, Nizhny Novgorod và Samara đều tổ chức 6 trận đấu, trong đó có mỗi sân tổ chức một trận tứ kết, trong khi sân vận động Otkrytiye ở Moskva và Rostov trên sông Đông đã tổ chức 5 trận đấu, trong đó có mỗi sân tổ chức một trận đấu vòng 16 đội. Volgograd, Kaliningrad, Yekaterinburg và Saransk đều tổ chức 4 trận đấu, nhưng không tổ chức bất kỳ trận đấu vòng đấu loại trực tiếp nào.

Các sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoại thất của đấu trường Otkrytiye ở Moskva

Tổng cộng có 12 sân vận động ở 11 thành phố của Nga đã được xây dựng và cải tạo cho Giải vô địch bóng đá thế giới.[57]

  • Kaliningrad: Sân vận động Kaliningrad. Các cọc đầu tiên được đưa vào mặt đất vào tháng 9 năm 2015. Vào ngày 11 tháng 4 năm 2018 sân vận động mới tổ chức trận đấu đầu tiên.
  • Kazan: Đấu trường Kazan. Sân vận động này đã được xây dựng cho Đại hội thể thao sinh viên mùa hè thế giới 2013. Kể từ đó, nó đã tổ chức Giải vô địch thể thao dưới nước thế giới 2015 và Cúp Liên đoàn các châu lục 2017. Sân vận động này đóng vai trò như một đấu trường trên sân nhà FC Rubin Kazan.
  • Moskva: Sân vận động Luzhniki. Sân vận động lớn nhất trong nước đã được đóng cửa để cải tạo vào năm 2013. Sân vận động này đã được đưa vào hoạt động vào tháng 11 năm 2017.
  • Moskva: Sân vận động Spartak. Sân vận động này là một đấu trường trên sân nhà với tên gọi FC Spartak Moscow. Theo yêu cầu của FIFA, trong Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, nó được gọi là sân vận động Spartak thay vì tên thông thường là Otkrytiye Arena. Sân vận động này đã được tổ chức trận đấu đầu tiên vào ngày 5 tháng 9 năm 2014.
  • Nizhny Novgorod: Sân vận động Nizhny Novgorod. Việc xây dựng sân vận động Nizhny Novgorod được bắt đầu vào năm 2015. Dự án này đã được hoàn thành vào tháng 12 năm 2017.[58]
  • Rostov trên sông Đông: Đấu trường Rostov. Sân vận động này nằm bên bờ trái sông Đông. Việc xây dựng sân vận động này đã được hoàn thành vào ngày 22 tháng 12 năm 2017.
  • Sankt-Peterburg: Sân vận động Sankt-Peterburg. Việc xây dựng sân vận động này được bắt đầu vào năm 2007. Dự án này đã được hoàn thành chính thức vào ngày 29 tháng 12 năm 2016.[59] Sân vận động này đã được tổ chức các trận của Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 và sẽ phục vụ là địa điểm tổ chức Giải vô địch bóng đá châu Âu 2020.
  • Samara: Đấu trường Samara. Việc xây dựng chính thức được bắt đầu vào ngày 21 tháng 7 năm 2014. Dự án này đã được hoàn thành vào ngày 21 tháng 4 năm 2018.
  • Saransk: Đấu trường Mordovia. Sân vận động này ở Saransk được dự kiến đã được đưa vào hoạt động vào năm 2012 trong thời gian cho việc khai trương Spartakiad toàn Nga, nhưng kế hoạch đã được sửa đổi. Khai mạc đã được dời đến năm 2017. Đấu trường này được tổ chức trận đấu đầu tiên vào ngày 21 tháng 4 năm 2018.
  • Sochi: Sân vận động Fisht. Sân vận động này được tổ chức các lễ khai mạc và bế mạc của Thế vận hội Mùa đông 2014. Sau đó, nó đã được cải tạo để chuẩn bị cho Cúp Liên đoàn các châu lục 2017 và Giải vô địch bóng đá thế giới 2018.
  • Volgograd: Đấu trường Volgograd. Đấu trường chính của Volgograd đã được xây dựng trên địa bàn sân vận động Trung tâm đã bị phá hủy, tại dưới chân khu liên hợp đài tưởng niệm Mamayev Kurgan. Sân vận động này đã được đưa vào hoạt động vào ngày 3 tháng 4 năm 2018.[60]
  • Yekaterinburg: Đấu trường Ekaterinburg. Sân vận động Trung tâm của Yekaterinburg đã được cải tạo cho Giải vô địch bóng đá thế giới. Các khán đài của đấu trường có sức chứa 35.000 khán giả. Dự án cải tạo đã được hoàn thành vào tháng 12 năm 2017.
Moskva Sankt-Peterburg Sochi
Sân vận động Luzhniki Otkrytiye Arena
(Sân vận động Spartak)
Sân vận động Krestovsky
(Sân vận động Sankt-Peterburg)
Sân vận động Olympic Fisht
(Sân vận động Fisht)
Sức chứa: 78.011[61] Sức chứa: 44.190[62] Sức chứa: 64.468[63] Sức chứa: 44.287[64]
Moscow-Exterior of Luzhniki Stadium (2).jpg Stadium Otkrytiye Arena1.jpg Krestovsky Stadium.jpg Fisht Stadium in January 2018.jpg
Volgograd Rostov trên sông Đông
Volgograd Arena Rostov Arena
Sức chứa: 43.713[65] Sức chứa: 43.472[66]
Volgograd Arena 2018-06-25 before match Saudi Arabia vs Egypt Outside 01.jpeg Rostov Arena (2).jpg
Nizhny Novgorod Kazan
Sân vận động Nizhny Novgorod Kazan Arena
Sức chứa: 43.319[67] Sức chứa: 42.873[68]
Стадион Нижний Новгород, 23 июня 2018.jpg Общий вид стадиона.jpg
Samara Saransk Kaliningrad Yekaterinburg
Cosmos Arena
(Samara Arena)
Mordovia Arena Sân vận động Kaliningrad Sân vận động Trung tâm
(Ekaterinburg Arena)
Sức chứa: 41.970[69] Sức chứa: 41.685[70] Sức chứa: 33.973[71] Sức chứa: 33.061[72]
Samara Arena.jpg 29062334998 mordovia-arena-saransk-russia-may-2018.jpg Kaliningrad stadium - 2018-04-07.jpg Japan-Senegal in Yekaterinburg (FIFA World Cup 2018) 06.jpg

Đại bản doanh của đội tuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Các đại bản doanh đã được sử dụng bởi 32 đội tuyển quốc gia làm nơi ở và tập luyện trước và trong suốt giải đấu Cúp Thế giới lần này. Vào ngày 9 tháng 2 năm 2018, FIFA đã công bố các đại bản doanh cho mỗi đội tuyển tham gia.[73]

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Là một phần của chương trình chuẩn bị cho Giải vô địch bóng đá thế giới 2018, một chương trình phụ liên bang “Xây dựng và cải tạo cơ sở hạ tầng giao thông” đã được thực hiện với tổng ngân sách 352,5 tỷ rúp, với 170,3 tỷ đến từ ngân sách liên bang, 35,1 tỷ từ ngân sách khu vực và 147,1 tỷ từ các nhà đầu tư.[77] Khoản chi tiêu lớn nhất của liên bang là cơ sở hạ tầng hàng không (117,8 tỷ rúp).[78] Việc xây dựng các khách sạn mới là một lĩnh vực quan trọng trong phát triển cơ sở hạ tầng ở các thành phố chủ nhà World Cup.[79]

Sân bay quốc tế PlatovRostov trên sông Đông đã được nâng cấp với hệ thống kiểm soát không lưu tự động, hệ thống giám sát hiện đại, điều hướng, giao tiếp, kiểm soát và hệ thống hỗ trợ khí tượng.[80] Sân bay Koltsovo đã được nâng cấp với các công cụ kỹ thuật vô tuyến cho hoạt động bay và nhận được dải đường băng thứ hai. Sân bay Saransk đã nhận được một hệ thống định vị mới. Sân bay Khrabrovo đã được nâng cấp với điều hướng vô tuyến và thiết bị thời tiết.[81] Việc cải tạo và nâng cấp các công cụ kỹ thuật vô tuyến cho hoạt động bay đã được hoàn thành tại các sân bay Moskva, Sankt-Peterburg, Volgograd, Samara, Ekaterinburg, KazanSochi.[82] Vào ngày 27 tháng 3, Bộ Công nghiệp Xây dựng, Nhà ở và Tiện ích của Nga đã báo cáo rằng tất cả các thông tin liên lạc trong phạm vi trách nhiệm của nó đã được đưa vào hoạt động. Cơ sở cuối cùng đã được ủy nhiệm là một trạm xử lý chất thải ở Volgograd.

Tình nguyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Các ứng viên tình nguyện cho Ban tổ chức địa phương 2018 Nga đã khai trương vào ngày 1 tháng 6 năm 2016. Chương trình tình nguyện viên Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 Nga đã lập kỷ lục mới: vào ngày 30 tháng 12 khi thời gian đăng ký kết thúc, ban tổ chức đã nhận được khoảng 177.000 đơn đăng ký.[83] Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 sẽ thu hút tổng cộng 17.040 tình nguyện viên và hơn 18.000 tình nguyện viên thành phố trong 11 thành phố chủ nhà.[84] Họ đã được đào tạo tại 15 trung tâm tình nguyện viên của Ban tổ chức địa phương có trụ sở tại 15 trường đại học và trong các trung tâm tình nguyện viên tại các thành phố chủ nhà. Ưu tiên, đặc biệt là trong các lĩnh vực chính, được trao cho những người có kiến thức về ngoại ngữ và kinh nghiệm tình nguyện viên. Tình nguyện viên có thể là công dân Nga hoặc bất kỳ quốc gia nào khác.[85]

Phương tiện[sửa | sửa mã nguồn]

Các dịch vụ giao thông công cộng miễn phí được cung cấp cho những người có vé xem các trận đấu trong thời gian diễn ra World Cup, bao gồm các chuyến tàu bổ sung liên kết giữa các thành phố chủ nhà, cũng như các dịch vụ như dịch vụ xe buýt bên trong nội ô.[86][87][88]

Lễ khai mạc[sửa | sửa mã nguồn]

Ca sĩ người Nga Aida Garifullina và ca sĩ người Anh Robbie Williams đang hát ca khúc "Angels" trong lễ khai mạc

Lễ khai mạc World Cup 2018 diễn ra vào thứ năm ngày 14 tháng 6 năm 2018 tại sân vận động Luzhniki ở Moskva, Nga [89] lúc 3:30 (BST), khoảng nửa tiếng trước trận đấu mở màn giữa hai đội Nga và Ả Rập Saudi [90][91]

Buổi lễ khai mạc có sự góp mặt của ca sĩ nhạc pop người Anh Robbie Williams, người đã trình diễn ca khúc "Let Me Entertain You" trước khi ca sĩ Nga Aida Garifullina xuất hiện và cùng song ca bài hát "Angels" với Williams. Ngoài ra, buổi lễ cũng có sự góp mặt của cựu ngôi sao đội tuyển Brasil Ronaldo.

Lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Đếm ngược 1000 ngày trước lễ khai mạc tại Moscow

Toàn bộ lịch thi đấu được FIFA công bố vào ngày 24 tháng 7 năm 2015 (chưa có giờ thi đấu chính thức mà sẽ được thông báo sau).[92][93] Vào 1 tháng 12, đã có quyết định về thời gian của FIFA.[94]

Nga sẽ được đặt ở vị trí A1 ở vòng bảng và chơi trong trận đấu mở màn với đội tuyển yếu nhất bảng A Saudi Arabia tại sân vận động LuzhnikiMoskva vào ngày 14 tháng 6.[95] Sân vận động này cũng sẽ là sân vận động sẽ tổ chức trận đấu bán kết 2 vào ngày 11 tháng 7 và trận chung kết vào ngày 15 tháng 7. Zenit ArenaSankt-Peterburg sẽ tổ chức trận đấu bán kết 1 vào ngày 10 tháng 7 và trận đấu tranh hạng ba diễn ra vào ngày 14 tháng 7.[96][97]

Vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Các tiêu chí vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Cách xếp hạng, luật chọn đội đi tiếp tại vòng bảng ở World Cup 2018 được FIFA giải thích cụ thể ở điều 32.5 trang 43.[36]

  • Áp dụng cho tất cả các trận đấu ở vòng bảng, thứ tự xếp hạng của các đội trong một bảng được quyết định lần lượt dựa trên các yếu tố:
  1. Số điểm đạt được;
  2. Hiệu số bàn thắng bại;
  3. Số bàn thắng ghi được;
  • Ngoài ra, trong trường hợp có ít nhất 2 đội ngang bằng nhau trong tất cả các tiêu chí trên, thứ tự sẽ được quyết định như sau:
  1. Giành được nhiều điểm nhất trong các trận đối đầu trực tiếp với các đội còn lại được xét cùng ở vòng bảng. (Các đội cùng điểm cùng hiệu số cùng bàn thắng);
  2. Hiệu số bàn thắng thua tính trong các trận đối đầu trực tiếp với các đội còn lại được xét cùng ở vòng bảng;
  3. Ghi được nhiều bàn thắng nhất trong các trận đối đầu trực tiếp với các đội còn lại được xét cùng ở vòng bảng;
  4. Điểm fair-play cao nhất dựa trên số thẻ vàng và thẻ đỏ ở vòng bảng:
    • Thẻ vàng: –1 điểm;
    • Thẻ đỏ gián tiếp (2 thẻ vàng): –3 điểm;
    • Thẻ đỏ trực tiếp: –4 điểm;
    • Thẻ vàng + thẻ đỏ trực tiếp: –5 điểm (Mỗi cầu thủ chỉ bị trừ 1 lần điểm với 1 trong các trường hợp kể trên, trong 1 trận đấu).
  5. Bốc thăm.

Bảng A[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ chào sân trước trận khai mạc giữa Nga và Ả Rập Xê Út.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Uruguay 3 3 0 0 5 0 +5 9 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Nga (H) 3 2 0 1 8 4 +4 6
3  Ả Rập Xê Út 3 1 0 2 2 7 −5 3
4  Ai Cập 3 0 0 3 2 6 −4 0
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
(H) Chủ nhà.
Nga  5–0  Ả Rập Xê Út
Chi tiết
Khán giả: 78.011[98]
Trọng tài: Néstor Pitana (Argentina)
Ai Cập  0–1  Uruguay
Chi tiết

Nga  3–1  Ai Cập
Chi tiết
Uruguay  1–0  Ả Rập Xê Út
Chi tiết

Uruguay  3–0  Nga
Chi tiết
Khán giả: 41.970[102]
Trọng tài: Malang Diedhiou (Sénégal)
Ả Rập Xê Út  2–1  Ai Cập
Chi tiết

Bảng B[sửa | sửa mã nguồn]

Trận đấu đầu tiên của bảng B, Iran chạm trán Maroc ở Sankt-Peterburg.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Tây Ban Nha 3 1 2 0 6 5 +1 5 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Bồ Đào Nha 3 1 2 0 5 4 +1 5
3  Iran 3 1 1 1 2 2 0 4
4  Maroc 3 0 1 2 2 4 −2 1
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Maroc  0–1  Iran
Chi tiết
Bồ Đào Nha  3–3  Tây Ban Nha
Chi tiết
Khán giả: 43.866[105]
Trọng tài: Gianluca Rocchi (Ý)

Bồ Đào Nha  1–0  Maroc
Chi tiết
Khán giả: 78.011[106]
Trọng tài: Mark Geiger (Hoa Kỳ)
Iran  0–1  Tây Ban Nha
Chi tiết
Khán giả: 42.718[107]
Trọng tài: Andrés Cunha (Uruguay)

Iran  1–1  Bồ Đào Nha
Chi tiết
Tây Ban Nha  2–2  Maroc
Chi tiết

Bảng C[sửa | sửa mã nguồn]

Úc v Peru.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Pháp 3 2 1 0 3 1 +2 7 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Đan Mạch 3 1 2 0 2 1 +1 5
3  Peru 3 1 0 2 2 2 0 3
4  Úc 3 0 1 2 2 5 −3 1
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Pháp  2–1  Úc
Chi tiết
Khán giả: 41.279[110]
Trọng tài: Andrés Cunha (Uruguay)
Peru  0–1  Đan Mạch
Chi tiết
Khán giả: 40.502[111]
Trọng tài: Bakary Gassama (Gambia)

Đan Mạch  1–1  Úc
Chi tiết
Pháp  1–0  Peru
Chi tiết

Đan Mạch  0–0  Pháp
Chi tiết
Khán giả: 78.011[114]
Trọng tài: Sandro Ricci (Brasil)
Úc  0–2  Peru
Chi tiết
Khán giả: 44.073[115]
Trọng tài: Sergei Karasev (Nga)

Bảng D[sửa | sửa mã nguồn]

Iceland v Croatia.
Cầu thủ của Croatia, Josip Pivarić trong trận đấu.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Croatia 3 3 0 0 7 1 +6 9 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Argentina 3 1 1 1 3 5 −2 4
3  Nigeria 3 1 0 2 3 4 −1 3
4  Iceland 3 0 1 2 2 5 −3 1
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Argentina  1–1  Iceland
Chi tiết
Khán giả: 44.190[116]
Trọng tài: Szymon Marciniak (Ba Lan)
Croatia  2–0  Nigeria
Chi tiết

Argentina  0–3  Croatia
Chi tiết
Nigeria  2–0  Iceland
Chi tiết

Nigeria  1–2  Argentina
Chi tiết
Iceland  1–2  Croatia
Chi tiết

Bảng E[sửa | sửa mã nguồn]

Brasil v Costa Rica.
Cầu thủ Brasil Miranda.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Brasil 3 2 1 0 5 1 +4 7 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Thụy Sĩ 3 1 2 0 5 4 +1 5
3  Serbia 3 1 0 2 2 4 −2 3
4  Costa Rica 3 0 1 2 2 5 −3 1
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Costa Rica  0–1  Serbia
Chi tiết
Khán giả: 41.432[122]
Trọng tài: Malang Diedhiou (Sénégal)
Brasil  1–1  Thụy Sĩ
Chi tiết

Brasil  2–0  Costa Rica
Chi tiết
Serbia  1–2  Thụy Sĩ
Chi tiết

Serbia  0–2  Brasil
Chi tiết
Khán giả: 44.190[126]
Trọng tài: Alireza Faghani (Iran)
Thụy Sĩ  2–2  Costa Rica
Chi tiết

Bảng F[sửa | sửa mã nguồn]

Đức v México.
Các cầu thủ México chụp ảnh trước trận đấu.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Thụy Điển 3 2 0 1 5 2 +3 6 Giành quyền vòng đấu loại trực tiếp
2  México 3 2 0 1 3 4 −1 6
3  Hàn Quốc 3 1 0 2 3 3 0 3
4  Đức 3 1 0 2 2 4 −2 3
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Đức  0–1  México
Chi tiết
Khán giả: 78.011[128]
Trọng tài: Alireza Faghani (Iran)
Thụy Điển  1–0  Hàn Quốc
Chi tiết

Hàn Quốc  1–2  México
Chi tiết
Đức  2–1  Thụy Điển
Chi tiết

Hàn Quốc  2–0  Đức
Chi tiết
Khán giả: 41.835[132]
Trọng tài: Mark Geiger (Hoa Kỳ)
México  0–3  Thụy Điển
Chi tiết

Bảng G[sửa | sửa mã nguồn]

Bỉ v Tunisia.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Bỉ 3 3 0 0 9 2 +7 9 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Anh 3 2 0 1 8 3 +5 6
3  Tunisia 3 1 0 2 5 8 −3 3
4  Panama 3 0 0 3 2 11 −9 0
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Bỉ  3–0  Panama
Chi tiết
Tunisia  1–2  Anh
Chi tiết

Bỉ  5–2  Tunisia
Chi tiết
Khán giả: 44.190[136]
Trọng tài: Jair Marrufo (Hoa Kỳ)
Anh  6–1  Panama
Chi tiết

Anh  0–1  Bỉ
Chi tiết
Panama  1–2  Tunisia
Chi tiết
Khán giả: 37.168[139]
Trọng tài: Nawaf Shukralla (Bahrain)

Bảng H[sửa | sửa mã nguồn]

Nhật Bản v Ba Lan.
VT Đội ST T H B BT BB HS Đ Giành quyền tham dự
1  Colombia 3 2 0 1 5 2 +3 6 Giành quyền vào vòng đấu loại trực tiếp
2  Nhật Bản 3 1 1 1 4 4 0 4[a]
3  Sénégal 3 1 1 1 4 4 0 4[a]
4  Ba Lan 3 1 0 2 2 5 −3 3
Nguồn: FIFA
Quy tắc xếp hạng: Các tiêu chí vòng bảng
Ghi chú:
  1. ^ a ă Điểm giải phong cách: Nhật Bản −4, Sénégal −6.
Colombia  1–2  Nhật Bản
Chi tiết
Khán giả: 40.842[140]
Trọng tài: Damir Skomina (Slovenia)
Ba Lan  1–2  Sénégal
Chi tiết
Khán giả: 44.190[141]
Trọng tài: Nawaf Shukralla (Bahrain)

Nhật Bản  2–2  Sénégal
Chi tiết
Ba Lan  0–3  Colombia
Chi tiết
Khán giả: 42.873[143]

Nhật Bản  0–1  Ba Lan
Chi tiết
Khán giả: 42.189[144]
Trọng tài: Janny Sikazwe (Zambia)
Sénégal  0–1  Colombia
Chi tiết
Khán giả: 41.970[145]
Trọng tài: Milorad Mažić (Serbia)

Vòng đấu loại trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ nhà Nga gặp Tây Ban Nha ở vòng 16 đội.

Trong vòng đấu loại trực tiếp, nếu trận đấu kết thúc với tỉ số hòa sau thời gian thi đấu chính thức, hiệp phụ sẽ được diễn ra (gồm hai hiệp trong đó mỗi hiệp 15 phút) và tiếp theo, nếu tỉ số hòa vẫn được duy trì, hai đội sẽ bước vào loạt sút luân lưu để xác định đội thắng cuộc.[36]

Nếu một trận đấu có hiệp phụ, sẽ có quyền thay thế cầu thủ thứ tư.[41]

Sơ đồ[sửa | sửa mã nguồn]

 
Vòng 16 độiTứ kếtBán kếtChung kết
 
              
 
30 tháng 6 – Sochi
 
 
 Uruguay2
 
6 tháng 7 – Nizhny Novgorod
 
 Bồ Đào Nha1
 
 Uruguay0
 
30 tháng 6 – Kazan
 
 Pháp2
 
 Pháp4
 
10 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
 Argentina3
 
 Pháp1
 
2 tháng 7 – Samara
 
 Bỉ0
 
 Brasil2
 
6 tháng 7 – Kazan
 
 México0
 
 Brasil1
 
2 tháng 7 – Rostov trên sông Đông
 
 Bỉ2
 
 Bỉ3
 
15 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
 Nhật Bản2
 
 Pháp4
 
1 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
 Croatia2
 
 Tây Ban Nha1 (3)
 
7 tháng 7 – Sochi
 
 Nga (p)1 (4)
 
 Nga2 (3)
 
1 tháng 7 – Nizhny Novgorod
 
 Croatia (p)2 (4)
 
 Croatia (p)1 (3)
 
11 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
 Đan Mạch1 (2)
 
 Croatia (h.p.)2
 
3 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
 Anh1 Play-off tranh hạng ba
 
 Thụy Điển1
 
7 tháng 7 – Samara14 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
 Thụy Sĩ0
 
 Thụy Điển0 Bỉ2
 
3 tháng 7 – Moskva (Otkrytiye)
 
 Anh2  Anh0
 
 Colombia1 (3)
 
 
 Anh (p)1 (4)
 

Vòng 16 đội[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp  4–3  Argentina
Chi tiết
Khán giả: 42.873[146]
Trọng tài: Alireza Faghani (Iran)

Uruguay  2–1  Bồ Đào Nha
Chi tiết

Tây Ban Nha  1–1 (h.p.)  Nga
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
3–4
Khán giả: 78.011[148]
Trọng tài: Björn Kuipers (Hà Lan)

Croatia  1–1 (h.p.)  Đan Mạch
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
3–2

Brasil  2–0  México
Chi tiết
Khán giả: 41.970[150]
Trọng tài: Gianluca Rocchi (Ý)

Bỉ  3–2  Nhật Bản
Chi tiết

Thụy Điển  1–0  Thụy Sĩ
Chi tiết

Colombia  1–1 (h.p.)  Anh
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
3–4
Khán giả: 44.190[153]
Trọng tài: Mark Geiger (Hoa Kỳ)

Tứ kết[sửa | sửa mã nguồn]

Uruguay  0–2  Pháp
Chi tiết

Brasil  1–2  Bỉ
Chi tiết
Khán giả: 42.873[155]
Trọng tài: Milorad Mažić (Serbia)

Thụy Điển  0–2  Anh
Chi tiết
Khán giả: 39.991[156]
Trọng tài: Björn Kuipers (Hà Lan)

Nga  2–2 (h.p.)  Croatia
Chi tiết
Loạt sút luân lưu
3–4
Khán giả: 44.287[157]
Trọng tài: Sandro Ricci (Brasil)

Bán kết[sửa | sửa mã nguồn]

Pháp  1–0  Bỉ
Chi tiết

Croatia  2–1 (h.p.)  Anh
Chi tiết

Play-off tranh hạng ba[sửa | sửa mã nguồn]

Bỉ  2-0  Anh
Meunier Bàn thắng 4'
E. Hazard Bàn thắng 82'
Chi tiết

Chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chung kết bắt đầu lúc 18:00 Giờ Moskva (UTC+03:00) tại Sân vận động Luzhniki (quận Khamovniki, Okrug, Moskva, Nga. Nhiệt độ trên sân là 27 °C (81 °F) với một cơn dông nhỏ và các tia sét quan sát thấy được. Tham dự trên sân có 78.011 khán giả trong đó có 10 nguyên thủ quốc gia đương thời, bao gồm tổng thống Nga Vladimir Putin, tổng thống Pháp Emmanuel Macrontổng thống Croatia Kolinda Grabar-Kitarović cũng như chủ tịch FIFA Gianni Infantino. Hai đội xuất phát với đội hình giống hệt hai trận bán kết trước đó. Croatia là đội kiểm soát bóng chính trong trận đấu. Cầu thủ mang áo số 17 bên phía Croatia Mario Mandžukić đã trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử World Cup ghi bàn vào lưới cả hai đội trong một trận chung kết (ghi bàn cả vào lưới đối phương lẫn lưới nhà).[159] 15 tháng 7, 201818:00 MSK (UTC+3)

Chi tiết[sửa | sửa mã nguồn][sửa | sửa mã nguồn]

15 tháng 7, 201818:00 MSK (UTC+3)

Pháp 10-2 Croatia
Trần Quốc Lương 80'

Trần Quốc Lương 81'

Trần Quốc Lương 82'

Trần Quốc Lương 83'

Trần Quốc Lương 84'

Trần Quốc Lương 85'

Trần Quốc Lương 86'

Trần Quốc Lương 87'

Trần Quốc Lương 88'

Trần Quốc Lương 89'

Chi tiết
Pháp[160]
Croatia[160]
GK 1 Hugo Lloris (c)
RB 2 Benjamin Pavard
CB 4 Raphaël Varane
CB 5 Samuel Umtiti
LB 21 Lucas Hernández Thẻ vàng 41'
CM 6 Blaise Matuidi
CM 13 N'Golo Kanté Thẻ vàng 27' Thay ra sau 55 phút 55'
RW 10 Kylian Mbappé
AM 7 Paul Pogba
LW 14 Antoine Griezmann Thay ra sau 73 phút 73'
ST 9 Olivier Giroud Thay ra sau 81 phút 81'
Vào thay người:
MF 15 Steven Nzonzi Vào sân sau 55 phút 55'
MF 12 Corentin Tolisso Vào sân sau 73 phút 73'
FW 18 Nabil Fekir Vào sân sau 81 phút 81'
Huấn luyện viên:
Didier Deschamps
FRA-CRO 2018-07-15.svg
GK 23 Danijel Subašić
RB 2 Šime Vrsaljko Thẻ vàng 90+2'
CB 6 Dejan Lovren
CB 21 Domagoj Vida
LB 3 Ivan Strinić Thay ra sau 82 phút 82'
CM 7 Ivan Rakitić
CM 11 Marcelo Brozović
RW 18 Ante Rebić Thay ra sau 71 phút 71'
AM 10 Luka Modrić (c)
LW 4 Ivan Perišić
CF 17 Mario Mandžukić
Vào thay người:
FW 9 Andrej Kramarić Vào sân sau 71 phút 71'
MF 20 Marko Pjaca Vào sân sau 82 phút 82'
Huấn luyện viên:
Zlatko Dalić

Cầu thủ xuất sắc nhất trận:
Antoine Griezmann (Pháp)[161]

Trợ lý trọng tài:[160]
Hernán Maidana (Argentina)
Juan Pablo Belatti (Argentina)
Trọng tài thứ tư:
Björn Kuipers (Hà Lan)
Trọng tài thứ năm:
Erwin Zeinstra (Hà Lan)
Trợ lý trọng tài video:
Massimiliano Irrati (Ý)
Trợ lý trọng tài trợ lý video:
Mauro Vigliano (Argentina)
Carlos Astroza (Chile)
Danny Makkelie (Hà Lan)

|style="width:60%; vertical-align:top;"| Quy tắc trận đấu[36]

  • 90 phút thi đấu chính thức.
  • 30 phút của hiệp phụ nếu hòa.
  • Sút loạt luân lưu 11m nếu tỷ số vẫn hòa.
  • Tối đa 3 cầu thủ được thay thế, với cầu thủ thứ tư được cho phép trong hiệp phụ.

|}

Các thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Sau trận đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Cổ động viên ăn mừng chiến thắng tại Pa-ri (bên trái) và ở Arc de Triomphe (bên phải) sau trận đấu.

Pháp đã trở thành quốc gia thứ sáu giành chức vô địch Cúp Thế giới nhiều hơn một lần.[164] Didier Deschamps đã trở thành người thứ ba đã giành được Cúp Thế giới với tư cách là cả hai một cầu thủ và huấn luyện viên, sau Franz BeckenbauerMário Zagallo.[165] Trận chung kết này là trận chung kết có nhiều bàn thắng kể từ năm 1966 và là điểm số cao nhất trong thời gian thường xuyên kể từ năm 1958.[166][167] Những đám đông lớn, bao gồm 90.000 người tại khu vực cổ động viên tháp Eiffel và ước tính một triệu người trên đại lộ Champs-Élysées, đã tổ chức chiến thắng ở Paris.[168][169]

Luka Modrić của Croatia đã giành được Quả bóng vàng là cầu thủ xuất sắc nhất của giải đấu.[170] Antoine Griezmann của Pháp, cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu,[171] cũng giành được giải thưởng Quả bóng đồng và Chiếc giày bạc với bốn bàn thắng và hai kiến tạo. Kylian Mbappé đã giành được giải thưởng Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất cho giải đấu.[172]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên awards
  2. ^ a ă “Ethics: Executive Committee unanimously supports recommendation to publish report on 2018/2022 FIFA World Cup™ bidding process” (Thông cáo báo chí). FIFA.com. Ngày 19 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “Your Ultimate Guide to Watching the 2018 World Cup”. Time. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  4. ^ Vyatchanin, Nikita (14 tháng 6 năm 2018). “В России стартовал чемпионат мира по футболу”. pnp.ru (bằng tiếng Nga). Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  5. ^ “Непредвиденные расходы: как менялась смета ЧМ-2018”. rbc.ru (bằng tiếng Nga). 8 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  6. ^ Sport, Telegraph (10 tháng 7 năm 2018). “What is VAR, what are the rules, and how is it being used by FIFA for World Cup 2018 in Russia?”. The Telegraph (bằng tiếng Anh). ISSN 0307-1235. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2018. 
  7. ^ Campbell, Paul (22 tháng 5 năm 2018). “Will VAR improve the World Cup?”. The Guardian. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  8. ^ “Russia united for 2018 FIFA World Cup Host Cities announcement”. FIFA. 29 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  9. ^ Goff, Steve (ngày 16 tháng 1 năm 2009). “Future World Cups”. The Washington Post. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2009. 
  10. ^ “Mexico withdraws FIFA World Cup bid”. FIFA. Ngày 29 tháng 9 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2011. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  11. ^ “Indonesia's bid to host the 2022 World Cup bid ends”. BBC Sport. Ngày 19 tháng 3 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 3 năm 2010. Truy cập ngày 19 tháng 3 năm 2010. 
  12. ^ “Combined bidding confirmed”. FIFA. Ngày 20 tháng 12 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2008. 
  13. ^ “England miss out to Russia in 2018 World Cup Vote”. BBC News. Ngày 2 tháng 12 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 2 tháng 12 năm 2010. 
  14. ^ Doyle, Paul; Busfield, Steve (ngày 2 tháng 12 năm 2010). “World Cup 2018 and 2022 decision day – live!”. The Guardian (Luân Đôn). Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 12 năm 2016. 
  15. ^ “What We Know About Corruption in the 2018 And 2022 World Cup Bids”. VICE Sports. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  16. ^ "Michael Garcia: FIFA investigator resigns in World Cup report row". BBC Sport. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2014. 
  17. ^ “Former FA chairman David Bernstein calls for 2018 World Cup boycott”. the Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  18. ^ Editorial, Reuters. “Qatar World Cup organizers ready to fight for 2022”. U.S. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  19. ^ “Road to Russia with new milestone”. FIFA. 15 tháng 1 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 3 năm 2015. 
  20. ^ “Zimbabwe expelled from the preliminary competition of the 2018 FIFA World Cup Russia”. FIFA. 12 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  21. ^ “Indonesia excluded from 2018 World Cup qualifiers”. Reuters. 3 tháng 6 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 3 năm 2016. 
  22. ^ “Kosovo & Gibraltar become eligible for 2018 World Cup Qualifying”. Russia: RT. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2016. 
  23. ^ “2022 FIFA World Cup to be played in November/December”. FIFA. 20 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2017. 
  24. ^ “Current allocation of FIFA World Cup confederation slots maintained”. FIFA. 30 tháng 5 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  25. ^ “Long road to Russia begins in Dili”. FIFA. 11 tháng 3 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 11 năm 2017. 
  26. ^ “FIFA World Cup™ Preliminary Draw: 1 week to go”. FIFA.com. Ngày 18 tháng 7 năm 2015. 
  27. ^ “Organising Committee for the FIFA World Cup extends its responsibilities to cover 2018 and 2022”. FIFA.com. Ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  28. ^ “Konstantinovsky Palace to stage Preliminary Draw of the 2018 FIFA World Cup”. FIFA.com. Ngày 10 tháng 10 năm 2014. 
  29. ^ T.A.W. (ngày 12 tháng 11 năm 2017). “How Iceland (population: 330,000) qualified for the World Cup”. The Economist. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  30. ^ “In first, 4 Arab countries qualify for FIFA World Cup Finals”. The Times of Israel. Ngày 12 tháng 11 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2017. 
  31. ^ Reineking, Jim (12 tháng 6 năm 2018). “FIFA World Cup 2018: Notable teams that failed to qualify”. USA Today. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  32. ^ “FIFA/Coca-Cola World Ranking”. FIFA. 7 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 6 năm 2018. 
  33. ^ “Final Draw to take place in State Kremlin Palace”. FIFA.com. Ngày 24 tháng 1 năm 2017. 
  34. ^ “World Cup draw 2018: England drawn with Belgium, Panama and Tunisia in Group G”. telegraph.co.uk. Ngày 24 tháng 11 năm 2017. 
  35. ^ “OC for FIFA Competitions approves procedures for the Final Draw of the 2018 FIFA World Cup”. FIFA.com. Ngày 14 tháng 9 năm 2017. 
  36. ^ a ă â b “Regulations – 2018 FIFA World Cup Russia” (PDF). FIFA.com.  Lỗi chú thích: Thẻ <ref> không hợp lệ: tên “regulations” được định rõ nhiều lần, mỗi lần có nội dung khác
  37. ^ “Rest periods tor the players on the provisional list tor the 2018 FIFA World Cup Russia™” (PDF). FIFA.com. Ngày 30 tháng 3 năm 2017. 
  38. ^ “Organising Committee for FIFA Competitions: Updates on the FIFA World Cup™ and women’s tournaments”. FIFA.com. Ngày 8 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2018. 
  39. ^ “36 referees and 63 assistant referees appointed as Russia 2018 Match Officials”. 29 tháng 3 năm 2018.  List of match officials
  40. ^ “World Cup 2018 List of video match officials” (PDF). 
  41. ^ a ă “FIFA Council decides on key steps for the future of international competitions”. FIFA.com. Ngày 16 tháng 3 năm 2018. 
  42. ^ a ă MacInnes, Paul (ngày 12 tháng 6 năm 2018). “How will VAR work at the World Cup and how much is riding on it?”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  43. ^ Austin, Jack (ngày 15 tháng 6 năm 2018). “Why Diego Costa's goal against Portugal made World Cup history”. The Independent. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  44. ^ “World Cup 2018: History made with first penalty awarded by VAR during France vs Australia”. The Independent. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. 
  45. ^ “Ronaldo penalty sets new World Cup record”. ESPN.com. Ngày 26 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  46. ^ McLean, Max (ngày 16 tháng 6 năm 2018). “12 very different opinions on VAR at the World Cup to help you make your mind up”. independent.ie. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  47. ^ “FIFA 'satisfied' with World Cup refereeing, VAR”. ESPN. Ngày 20 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  48. ^ “2018 FIFA World Cup Bid Evaluation Report: Russia” (PDF). FIFA. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 14 tháng 12 năm 2010. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2002. 
  49. ^ National Geographic Atlas. National Geographic Society. 2011. tr. 59. 
  50. ^ “The border between Europe and Asia”. welcome2018.com. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  51. ^ Marikar, Hafiz. “Russia to host next FIFA World Cup”. Dailynews.lk. The Associated Newspapers of Ceylon Ltd. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  52. ^ “Почему у России осталось только 14 стадионов к ЧМ-2018 – Известия (Why are there only 14 stadiums for the Russia 2018 World Cup)”. Izvestia (bằng tiếng Nga). Ngày 7 tháng 10 năm 2011. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2011. 
  53. ^ “2018 FIFA World Cup to be played in 11 Host Cities”. FIFA. Ngày 29 tháng 9 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012. 
  54. ^ Saakov, Rafael (ngày 22 tháng 7 năm 2014). “Russia 2018: Major challenges for next World Cup hosts”. BBC. Bản gốc lưu trữ ngày 28 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  55. ^ Rogovitskiy, Dmitriy (ngày 21 tháng 10 năm 2014). “Russia on track for World Cup 2018, say FIFA inspectors”. Reuters. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  56. ^ “Stadium names for the 2018 FIFA World Cup Russia confirmed”. FIFA. Ngày 8 tháng 10 năm 2015. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 11 năm 2017. 
  57. ^ “World Cup 2018 venues: From Saint Petersburg to Luzhniki, A guide to Russia's stadiums and arenas”. The Telegraph. Ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2018. 
  58. ^ “Стадион на 45000 зрительских мест к Чемпионату мира по футболу в Нижнем Новгороде” [Stadium for 45,000 spectators for the World Cup in Nizhny Novgorod]. stroytransgaz.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  59. ^ “Стадион на Крестовском ввели в эксплуатацию”. fontanka.ru (bằng tiếng Nga). Ngày 29 tháng 12 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  60. ^ “Стадион ЧМ-2018 по футболу в Волгограде введен в эксплуатацию” [The 2018 World Cup in Volgograd was put into operation] (bằng tiếng Nga). RIA Novosti. Ngày 3 tháng 4 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 3 tháng 4 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  61. ^ “Luzhniki Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  62. ^ “Spartak Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  63. ^ “Saint Petersburg Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  64. ^ “Fisht Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  65. ^ “Volgograd Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  66. ^ “Rostov Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  67. ^ “Nizhny Novgorod Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  68. ^ “Kazan Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  69. ^ “Samara Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  70. ^ “Mordovia Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  71. ^ “Kaliningrad Stadium”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  72. ^ “Ekaterinburg Arena”. FIFA. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  73. ^ “Team Base Camps for 2018 FIFA World Cup confirmed”. FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). Ngày 9 tháng 2 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 2 năm 2018. 
  74. ^ “Croatia defender Pivaric says he has 'excellent' 1st impression of training base”. fourfourtwo.com.au. Ngày 12 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  75. ^ McNulty, Phil (ngày 12 tháng 6 năm 2018). “World Cup 2018: Life inside the England bubble – what they can expect in Repino”. BBC. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  76. ^ Grohmann, Karolos (ngày 14 tháng 6 năm 2018). “Soccer: No tropical paradise? No problem for Germany, says midfielder Kroos”. Reuters. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2018. 
  77. ^ “The budget for the 2018 World Cup is about € 1 billion”. Чемпионат (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  78. ^ “228 billion spent on preparation of the transport infrastructure of the World Cup 2018”. sport24.ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  79. ^ Services, MATCH AG. “Список гостиниц - Размещение - Чемпионат мира по футболу FIFA 2018 в России™ - FIFA.com”. FIFA.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  80. ^ “Алмазная радиосвязь”. Газета.Ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  81. ^ “Kaliningrad airport’s new terminal put in operation”. Russian Aviation Insider. Ngày 26 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2018. 
  82. ^ “Алмазная радиосвязь”. Газета.Ru (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  83. ^ “New record of the Volunteer program of the World Cup 2018”. welcome2018.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 22 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  84. ^ FIFA.com (ngày 17 tháng 1 năm 2017). “A set of volunteers at the World Cup 2018 set a new World Cup record”. www.fifa.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  85. ^ FIFA.com. “Чемпионат мира по футболу FIFA 2018 в России™ - Волонтерская программа: F.A.Q. - FIFA.com” [FIFA 2018 World Cup in Russia™ - Volunteer program: F.A.Q.]. www.fifa.com (bằng tiếng Nga). Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 10 năm 2016. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2018. 
  86. ^ Ames, Nick (27 tháng 3 năm 2018). “World Cup 2018: what is a Fan ID and do I need one to watch games in Russia?”. The Guardian. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018. 
  87. ^ “Aussie soccer fan's World Cup dream crushed by new Russian visa rejection”. ABC News. 8 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018. 
  88. ^ “What World Cup fans going to Russia should know”. BBC. 6 tháng 6 năm 2018. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2018. 
  89. ^ Tirkey, Joy (ngày 13 tháng 6 năm 2018). “FIFA World Cup, Opening Ceremony: When And Where To Watch, Live Coverage On TV, Live Streaming Online”. NDTV Sports. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  90. ^ “World Cup 2018 Opening Ceremony: What time will it start and when will Robbie Williams feature?”. The Telegraph. Ngày 13 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  91. ^ “Robbie Williams show at World Cup opening ceremony is too short to ever be dull”. Guardian. Ngày 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  92. ^ “Match schedules for FIFA Confederations Cup 2017 and 2018 FIFA World Cup™ unveiled”. FIFA.com. Ngày 24 tháng 7 năm 2015. 
  93. ^ “FIFA World Cup Russia 2018 - Matches”. FIFA.com. 
  94. ^ “FIFA World Cup Russia 2018 – Match Schedule” (PDF). FIFA. 20 tháng 12 năm 2017. Bản gốc lưu trữ (PDF) ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017. 
  95. ^ “The FIFA/Coca-Cola World Ranking – October 2017”. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 10 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 10 năm 2017. 
  96. ^ “Belgium outclass England in third-place play-off to clinch best-ever World Cup finish”. The Telegraph. 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  97. ^ “2022 FIFA World Cup to be played in November/December”. FIFA.com. Ngày 20 tháng 3 năm 2015. 
  98. ^ “Match report – Group A – Russia-Saudi Arabia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 14 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 6 năm 2018. 
  99. ^ “Match report – Group A – Egypt-Uruguay” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  100. ^ “Match report – Group A – Russia-Egypt” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  101. ^ “Match report – Group A – Uruguay-Saudi Arabia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  102. ^ “Match report – Group A – Uruguay v Russia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 25 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018. 
  103. ^ “Match report – Group A – Saudi Arabia v Egypt” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 25 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018. 
  104. ^ “Match report – Group B – Morocco-Iran” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  105. ^ “Match report – Group B – Portugal-Spain” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2018. 
  106. ^ “Match report – Group B – Portugal-Morocco” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  107. ^ “Match report – Group B – Iran-Spain” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 20 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 20 tháng 6 năm 2018. 
  108. ^ “Match report – Group B – IR Iran v Portugal” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 25 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018. 
  109. ^ “Match report – Group B – Spain v Morocco” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 25 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2018. 
  110. ^ “Match report – Group C – France-Australia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  111. ^ “Match report – Group C – Peru-Denmark” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  112. ^ “Match report – Group C – Denmark-Australia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018. 
  113. ^ “Match report – Group C – France-Peru” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018. 
  114. ^ “Match report – Group C – Denmark v France” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2018. 
  115. ^ “Match report – Group C – Australia v Peru” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2018. 
  116. ^ “Match report – Group D – Argentina-Iceland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  117. ^ “Match report – Group D – Croatia-Nigeria” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 16 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2018. 
  118. ^ “Match report – Group D – Argentina-Croatia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 21 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2018. 
  119. ^ “Match report – Group D – Nigeria-Iceland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018. 
  120. ^ “Match report – Group D – Nigeria v Argentina” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2018. 
  121. ^ “Match report – Group D – Iceland v Croatia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 26 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2018. 
  122. ^ “Match report – Group E – Costa Rica-Serbia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  123. ^ “Match report – Group E – Brazil-Switzerland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  124. ^ “Match report – Group E – Brazil-Costa Rica” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018. 
  125. ^ “Match report – Group E – Serbia-Switzerland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 22 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 22 tháng 6 năm 2018. 
  126. ^ “Match report – Group E – Serbia v Brazil” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  127. ^ “Match report – Group E – Switzerland v Costa Rica” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  128. ^ “Match report – Group F – Germany-Mexico” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 17 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 6 năm 2018. 
  129. ^ “Match report – Group F – Sweden-Korea Republic” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. 
  130. ^ “Match report – Group F – Korea Republic-Mexico” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  131. ^ “Match report – Group F – Germany-Sweden” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  132. ^ “Match report – Group F – Korea Republic v Germany” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  133. ^ “Match report – Group F – Mexico v Sweden” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 27 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2018. 
  134. ^ “Match report – Group G – Belgium-Panama” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. 
  135. ^ “Match report – Group G – Tunisia-England” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2018. 
  136. ^ “Match report – Group G – Belgium-Tunisia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 23 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2018. 
  137. ^ “Match report – Group G – England v Panama” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018. 
  138. ^ “Match report – Group G – England v Belgium” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018. 
  139. ^ “Match report – Group G – Panama v Tunisia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018. 
  140. ^ “Match report – Group H – Colombia-Japan” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  141. ^ “Match report – Group H – Poland-Senegal” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2018. 
  142. ^ “Match report – Group H – Japan v Senegal” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018. 
  143. ^ “Match report – Group H – Poland v Colombia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 24 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 24 tháng 6 năm 2018. 
  144. ^ “Match report – Group H – Japan v Poland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018. 
  145. ^ “Match report – Group H – Senegal v Colombia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 28 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2018. 
  146. ^ “Match report – Round of 16 – France v Argentina” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 30 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2018. 
  147. ^ “Match report – Round of 16 – Uruguay v Portugal” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 30 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 30 tháng 6 năm 2018. 
  148. ^ “Match report – Round of 16 – Spain v Russia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018. 
  149. ^ “Match report – Round of 16 – Croatia v Denmark” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018. 
  150. ^ “Match report – Round of 16 – Brazil v Mexico” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018. 
  151. ^ “Match report – Round of 16 – Belgium v Japan” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 2 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2018. 
  152. ^ “Match report – Round of 16 – Sweden v Switzerland” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018. 
  153. ^ “Match report – Round of 16 – Colombia v England” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 3 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 3 tháng 7 năm 2018. 
  154. ^ “Match report – Quarter-finals – Uruguay v France”. https://resources.fifa.com/image/upload/eng-57-0706-uru-fra-fulltime-pdf-2982367.pdf?cloudid=zu6peytpxtyyzlqkmxcu (PDF). Fédération Internationale de Football Association. Ngày 6 tháng 7 năm 2018. 
  155. ^ “Match report – Quarter-final – Brazil v Belgium”. FIFA.com (PDF). Fédération Internationale de Football Association. Ngày 6 tháng 7 năm 2018. 
  156. ^ “Match report – Quarter-final – Sweden v England” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2018. 
  157. ^ “Match report – Quarter-final – Russia v Croatia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 7 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 7 năm 2018. 
  158. ^ “Match report – Semi-final – France v Belgium” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 10 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2018. 
  159. ^ HUY VŨ (Ngày 17 tháng 7 năm 2018). “Đội tuyển Pháp vô địch World Cup 2018”. nhandan.com.vn. 
  160. ^ a ă â “Tactical Line-up – Final – France v Croatia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 
  161. ^ “France v Croatia – Man of the Match”. FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 
  162. ^ “Match report: Half-time – Final – France v Croatia” (PDF). FIFA.com. Fédération Internationale de Football Association. Ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 
  163. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên match report
  164. ^ Prince-Wright, Joe (ngày 15 tháng 7 năm 2018). “France win World Cup after classic final”. NBC Sports. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 
  165. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên deschamps
  166. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên WaPo
  167. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Reuters-Summary
  168. ^ Felix, Bate (ngày 15 tháng 7 năm 2018). “Paris fanzone fills with 90,000 willing 'Les Bleus' to World Cup victory”. Reuters. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 
  169. ^ Chrisafis, Angelique (ngày 15 tháng 7 năm 2018). “Paris celebrates World Cup win as one million fans fill Champs-Élysées”. The Guardian. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 
  170. ^ “Golden consolation for magical Modric”. FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). Ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2018. 
  171. ^ “Formidable France secure second title”. FIFA.com (Fédération Internationale de Football Association). Ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 
  172. ^ “Luka Modric wins World Cup Golden Ball; Mbappe and Courtois also honoured”. ESPN. Ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]