Ricardo Quaresma

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Ricardo Quaresma
Ricardo Quaresma - Inter Mailand (1).jpg
Ricardo Quaresma (2009)
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ricardo Andrade Quaresma Bernardo
Ngày sinh 26 tháng 9, 1983 (32 tuổi)
Nơi sinh Lisbon, Bồ Đào Nha
Chiều cao 1,75 m (5 ft 9 in)[1]
Vị trí Tiền vệ cánh
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Beşiktaş
Số áo 7
CLB trẻ
1997–2001 Sporting Lisbon
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2000–2003 Sporting CP B 15 (0)
2001–2003 Sporting Lisbon 59 (8)
2003–2004 Barcelona 22 (1)
2004–2008 Porto 114 (24)
2008–2010 Inter Milan 24 (1)
2009 Chelsea (cho mượn) 4 (0)
2010–2012 Beşiktaş 46 (8)
2013 Al Ahli Dubai 10 (2)
2014–2015 Porto 42 (10)
2015– Beşiktaş 26 (4)
Đội tuyển quốc gia
2000 U-17 Bồ Đào Nha 5 (2)
2000–2001 U-19 Bồ Đào Nha 4 (0)
2002–2006 U-21 Bồ Đào Nha 21 (6)
2003– Bồ Đào Nha 57 (8)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 4 tháng 5, 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 10 tháng 7, 2016

Ricardo Andrade Quaresma Bernardo sinh ngày 26 tháng 9 năm 1983 tại Lisboa, Bồ Đào Nha, là một cầu thủ bóng đá người Bồ Đào Nha. Anh chơi ở vị trí tiền vệ. Phong cách chơi bóng của anh là tốc độ, kĩ thuật và thường chơi tự do. Hiện anh đang chơi cho Beşiktaş và đội tuyển Bồ Đào Nha. Ricardo Quaresma có xuất thân là người Di-gan.[2][3] Anh thường được gọi tên hiệu bằng tiếng Bồ Đào Nha là "Cigano" nghĩa là "Di-gan".

Ricardo Quaresma trưởng thành tại Sporting Lisbon và sớm khẳng định được tên tuổi của mình và đã tỏa sáng giúp đội U17 Bồ Đào Nha vô địch giải U17 châu Âu năm 2000.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sporting Lisbon[sửa | sửa mã nguồn]

Ricardo Quaresma được đưa lên đội hình một vào năm 2001, anh trở thành trụ cột và cùng đội bóng giành cú đúp danh hiệu quốc nội mùa bóng 2001/2002. Quaresma lúc đó là một trong những cầu thủ trẻ tài năng nhất thế giới và Barcelona đã mang anh về sân Camp Nou với mức phí chuyển nhượng khoảng 6 triệu euro.

FC Barcelona[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2003, anh chuyển sang Barcelona thế nhưng những chấn thương liên tục khiến anh đánh mất phong độ và sau 1 mùa giải phải trở về Bồ Đào Nha đầu quân cho FC Porto.

FC Porto[sửa | sửa mã nguồn]

Thất bại tại Tây Ban Nha thế nhưng khi đầu quân cho Porto Quaresma lại tìm lại được cảm hứng chơi bóng và ngay trận đấu tranh siêu cúp châu Âu với Valencia năm 2004 Quaresma đã tỏa sáng với cú sút xa sấm sét nhưng Porto vẫn thất bại với tỉ số 1-2. Cũng trong năm 2004, Quaresma đã có danh hiệu đầu tiên cùng đội bóng khi ghi bàn thắng duy nhất vào lưới Benfica trong trận tranh siêu cúp Bồ Đào Nha.

Chính Quaresma là nguồn cảm hứng để mang về những thành công rực rỡ cho Porto giai đoạn đó. Với một lối chơi ma thuật và chính những đóng góp to lớn của anh đã được người hâm mộ tôn vinh với những bảng hiệu trên khán đài.

Inter Milan[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, trước sự xuất sắc của RQ7 mà khiến Mourinho phải tốn rất nhiều công sức để mang anh về Inter và cuộc chuyển nhượng Quaresma đến Inter tốn không ít giấy mực của báo chí... thế nhưng chỉ được những trận đầu tiên rồi sau đó những chấn thương rồi tiếp theo là phong độ đi xuống, Ricardo Quaresma không còn là chính anh, không còn một đôi chân ma thuật khiến cả châu Âu phải điên đảo ngày nào mà thay vào đó là sự tẻ nhạt và người ta nói Mourinho là người đã phá hủy anh, phá hủy đi một ngôi sao.

Anh bị đem cho mượn tại Chelsea với hy vọng tìm lại phong độ nhưng không thành công, Quaresma sau đó phải khăn gói ra đi và anh đã nói lựa chọn Inter Milan là sai lầm lớn nhất trong đời anh. Lối chơi khô cứng của Inter đã phá hủy Quaresma, sau khi rời Inter năm 2010 anh đã dạt sang Thổ Nhĩ Kỳ chơi bóng.

Besiktas JK[sửa | sửa mã nguồn]

Quaresma đầu quân cho Besiktas, anh thi đấu khá thành công khi ghi 11 bàn và có 18 pha kiến tạo ở mùa giải đầu tiên giúp đội bóng giành cúp quốc gia Thổ Nhĩ Kỳ. Sang mùa giải tiếp theo anh vẫn chơi khá tốt nhưng những mâu thuẫn với huấn luyện viên Carlos Carvalhal khiến anh bị thanh lý hợp đồng trước thời hạn vào năm 2012.

Al Ahli[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi rời Besiktas, đầu năm 2013 Quaresma sang Dubai chơi cho Al Ahli và cũng chỉ thi đấu có 10 trận và ghi được 2 bàn thắng trước khi bị câu lạc bộ kết thúc hợp đồng sớm vì lí do tương tự như ở Thổ Nhĩ Kỳ. Từ đó,anh thất nghiệp trong suốt nửa cuối năm 2013.

Trở lại Porto[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 1 năm 2014, Ricardo Quaresma chính thức trở lại Porto sau nhiều năm xa cách, Quaresma bây giờ không còn là một Quaresma hào hoa, lãng tử nữa mà thay vào đó lại một Quaresma bụi bặm, phong trần với những hình xăm trên người nhưng anh vẫn được các cổ động viên chào đón nhiệt thành và có lẽ trong lòng người hâm mộ nơi đây, họ vẫn còn rất yêu quý anh. Quaresma bất ngờ lấy lại cảm hứng chơi bóng với lối đá vẫn thế, vẫn đầy ma thuật khiến cho người hâm mộ siêu lòng.

Trở lại Besiktas[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè năm 2015, Quaresma trở lại Besiktas với bản hợp đồng kéo dài 2 năm. Anh cùng đội bóng giành chức vô địch Thổ Nhĩ Kỳ lần đầu tiên sau 8 năm.

Đội tuyển quốc gia Bồ Đào Nha[sửa | sửa mã nguồn]

Trong màu áo đội tuyển, Quaresma từng dự 2 kỳ Euro vào các năm 20082012 nhưng không có nhiều điều nổi bật. Đáng chú ý nhất có lẽ là bàn thắng bằng cú vẩy má ngoài tuyệt đẹp vào lưới tuyển Bỉ ở vòng loại Euro năm 2007, bàn thắng ấy được lọt vào Top 10 đường cong kì dị nhất làng bóng đá thế giới.

Năm 2016, anh cùng Bồ Đào Nha dự vòng chung kết Euro trên đất Pháp. Ở vòng 16 đội, chính anh là người ghi bàn thắng duy nhất ở phút thứ 117 của hiệp phụ thứ 2, giúp đội tuyển Bồ Đào Nha đánh bại đội tuyển Croatia để ghi tên mình vào tứ kết. Tại trận chung kết Euro 2016 gặp đội chủ nhà Pháp, ở phút thứ 25 của hiệp 1, anh đã phải vào sân thay cho tiền đạo Cristiano Ronaldo bị gặp phải chấn thương. Đội tuyển Bồ Đào Nha sau đó vượt qua đội chủ nhà Pháp với tỉ số 1-0 để lần đầu tiên lên ngôi vô địch.

Kỹ năng[sửa | sửa mã nguồn]

Ricardo Quaresma thuộc vào top những ngôi sao có nhều kĩ năng nhất của bóng đá thế giới hiện nay, với rất nhiều tuyệt kĩ lạ mắt khiến người hâm mộ không thể ngồi yên một chỗ mỗi khi anh đi bóng, nhưng hai tuyệt kĩ lợi hại nhất của anh chính là Trivela và Rabona.

Trivela là một tuyệt kĩ khó, dùng má ngoài chân để chơi bóng, có thể nói chính Quaresma là người mang kĩ thuật Trivela lên một tầm cao mới với những tình huống đi bóng rồi chuyền bóng và cả ghi bàn, khônng ít lần Quaresma ghi bàn và kiến tạo bằng kĩ thuật này và nhiều trong số đó là những bàn thắng tuyệt đẹp mà khó có cầu thủ nào trên thế giới có thể đạt đến đỉnh cao như vậy, nhắc đến Trivela người ta sẽ nhắc đến Quaresma.

Rabona hay hiểu là vắt bóng chéo chân, đây là một tuyệt kĩ khó, khi người thực hiện nó phải có cái trụ chân vững nếu không cẩn thận có thể gây ra chấn thương, kĩ năng này khá phổ biến trên thế giới từ thời của những Ronaldinho, "Ngoài hành tinh" Ronaldo,... cho đến bây giờ có rất nhiều ngôi sao hàng đầu thế giới sử dụng nó mỗi khi có cảm hứng như Cristiano Ronaldo, Eden Hazard, Angel Di Maria, ... nhưng những cầu thủ này xét về nhiều khía cạnh họ vẫn còn kém xa Quaresma, họ thường cảm hứng mới thực hiện nó đôi lần còn đối với Quaresma gần như đó là một kĩ năng của riêng anh, anh sử dụng nó thường xuyên trong mỗi trận đấu và có thể nói đã đạt tới đỉnh cao.

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 24 tháng 3, 2007 Sân vận động José Alvalade, Lisbon, Bồ Đào Nha  Bỉ 3–0 4–0 Vòng loại Euro 2008
2. 6 tháng 2, 2008 Letzigrund, Zurich, Thụy Sĩ  Ý 1–2 1–3 Giao hữu
3. 11 tháng 6, 2008 Stade de Genève, Geneva, Thụy Sĩ  Cộng hòa Séc 3–1 3–1 Euro 2008
4. 11 tháng 10, 2014 Stade de France, Paris, Pháp  Pháp 2–1 2–1 Giao hữu
5. 29 tháng 5, 2016 Sân vận động Dragão, Porto, Bồ Đào Nha  Na Uy 1–0 3–0 Giao hữu
6. 8 tháng 6, 2016 Sân vận động Ánh sáng, Lisbon, Bồ Đào Nha  Estonia 2–0 7–0 Giao hữu
7. 6–0
8. 25 tháng 6, 2016 Sân vận động Bollaert-Delelis, Lens, Pháp  Croatia 1–0 1–0 Euro 2016

Thống kê sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 19 tháng 3, 2016[4][5][6][7]

Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu Cúp quốc gia Cúp liên đoàn Siêu cúp Châu lục Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Sporting CP 2001–02 28 3 6 2 2 0 36 5
2002–03 31 5 2 0 1 0 4 0 38 5
Tổng cộng 59 8 8 2 1 0 6 0 74 10
Barcelona 2003–04 22 1 2 0 4 0 28 1
Tổng cộng 22 1 2 0 4 0 28 1
Porto 2004–05 32 5 1 0 1 1 8 0 42 6
2005–06 29 5 4 0 6 0 39 5
2006–07 26 6 1 0 1 0 8 2 36 8
2007–08 27 8 3 1 1 0 8 2 39 11
Tổng cộng 114 24 9 1 3 1 30 4 156 30
Internazionale 2008–09 13 1 0 0 6 0 19 1
2009–10 11 0 0 0 2 0 13 0
Tổng cộng 24 1 0 0 8 0 32 1
Chelsea (mượn) 2008–09 4 0 1 0 5 0
Tổng cộng 4 0 1 0 5 0
Beşiktaş 2010–11 21 3 8 3 10 5 39 11
2011–12 25 5 1 0 8 2 34 7
Tổng cộng 46 8 9 3 18 7 73 18
Al Ahli 2012–13 10 2 1 1 11 3
Tổng cộng 10 2 1 1 11 3
Porto 2013–14 12 4 3 1 3 1 6 4 24 10
2014–15 30 6 0 0 3 1 10 3 38 10
Tổng cộng 42 10 3 1 6 2 16 7 62 20
Beşiktaş 2015–16 20 3 4 0 6 1 30 4
Tổng cộng 20 3 4 0 6 1 30 4
Tổng cộng sự nghiệp 341 57 39 8 6 2 4 1 88 19 479 86

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 10 tháng 7, 2016[8]

Bồ Đào Nha
Năm Trận Bàn
2003 1 0
2004 1 0
2005 2 0
2006 2 0
2007 12 1
2008 7 2
2009
2010 2 0
2011 5 0
2012 3 0
2013
2014 4 1
2015 6 0
2016 11 4
Tổng cộng 57 8

Biệt danh[sửa | sửa mã nguồn]

Ricardo Quaresma được người hâm mộ đặt cho biệt danh là Harry Potter hay nhà ảo thuật để nói đến lối chơi đầy ma thuật của anh trên sân.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ricardo Quaresma. Transfermarkt. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013.
  2. ^ “Quaresma proud to be Gypsy”. 
  3. ^ http://www.portugoal.net/PlayerProfiles/Quaresma.htm.  |tựa đề= trống hay bị thiếu (trợ giúp)
  4. ^ “Quaresma Etisalat competitions stats”. PLC. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013. 
  5. ^ “UAE current season competitions stats”. UAE FA. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013. 
  6. ^ Quaresma career stats. Football Database.eu. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2013.
  7. ^ “Quaresma Turkey stats”. TFF. Truy cập ngày 24 tháng 4 năm 2013. 
  8. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên eu-fc