Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bỉ

Huy hiệu

Tên khác Rode Duivels
Diables Rouges
Die Roten Teufel (Quỷ đỏ)
Hiệp hội Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ
Liên đoàn châu lục UEFA (châu Âu)
Huấn luyện viên Roberto Martínez
Đội trưởng Vincent Kompany
Thi đấu nhiều nhất Jan Ceulemans (96)[1]
Ghi bàn nhiều nhất Bernard VoorhoofPaul Van Himst (30)[1]
Sân nhà Sân vận động Vua Baudouin
Mã FIFA BEL
Xếp hạng FIFA 2 (9.2016)
Cao nhất 1 (11.2015-3.2016)
Thấp nhất 71 (6.2007)
Hạng Elo 14 (7.2016)
Elo cao nhất 2 (9.1920)
Elo thấp nhất 74 (9.2009)
Trang phục chính
Trang phục phụ
Trận quốc tế đầu tiên
 Bỉ 3–3 Pháp 
(Bruxelles, Bỉ; 1 tháng 5, 1904)
Trận thắng đậm nhất
 Bỉ 9–0 Zambia 
(Bruxelles, Bỉ; 4 tháng 6, 1994)
 Bỉ 10–1 San Marino 
(Bruxelles, Bỉ; 28 tháng 2, 2001)
Trận thua đậm nhất
Nghiệp dư Anh 11–2 Bỉ 
(Luân Đôn, Anh; 17 tháng 4, 1909)

Giải Thế giới
Số lần tham dự 12 (lần đầu vào năm 1930)
Kết quả tốt nhất Hạng tư, 1986
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Số lần tham dự 5 (lần đầu vào năm 1972)
Kết quả tốt nhất Hạng nhì (1980)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ là đội tuyển cấp quốc gia của Bỉ do Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ quản lý.

Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Bỉ là trận gặp đội tuyển Pháp vào năm 1984. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là vị trí thứ tư của World Cup 1986 và ngôi vị á quân của Euro 1980.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bỉ có trận đấu chính thức đầu tiên vào ngày 1 tháng 5 năm 1904 là trận hoà 3-3 trước đội tuyển Pháp. Trước trận đấu này, đội tuyển chọn lọc của Bỉ có thi đấu vài trận, nhưng trong đội hình có một số cầu thủ Anh, do đó không được tính là trận đấu chính thức. Ví dụ Bỉ thắng Hà Lan 8-0 ngày 28 tháng 4 năm 1901 với sự có mặt của vài cầu thủ Anh. Sau trận đấu này, hai nước láng giềng Bỉ và Hà Lan có truyền thống một năm đấu 2 trận bắt đầu từ năm 1905, thường được tổ chức ở AntwerpRotterdam (sau chuyển sang Amsterdam). Vào thời điểm đó, đội tuyển Bỉ thường do 1 ban tuyển lựa quyết định gồm đại diện của 6 hoặc 7 câu lạc bộ lớn.

Biệt danh Những con quỷ đỏ của đội tuyển Bỉ do phóng viên Pierre Walckiers đặt cho sau trận thắng 3-2 trước Hà Lan (Rotterdam, 1906).

Hơn sáu thập kỉ sau, Bỉ trở thành một trong những đội bóng mạnh, tuy không vô địch các giải đấu lớn nhưng đối thủ không dễ vượt qua họ, kể cả ở sân nhà hay sân khách. Chìa khoá thành công của đội tuyển là việc sử dụng bẫy việt vị, một chiến thuật phòng ngự được phát triển trong thập niên 1960, ban đầu tại câu lạc bộ Anderlecht của huấn luyện viên người Pháp Pierre Sinibaldi.

Thế hệ vàng (1980-2002)[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 là thời gian mạnh nhất trong lịch sử của Bỉ. Thành tích cao nhất của họ trong giai đoạn này là á quân Euro 1980. Dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên dày dạn kinh nghiệm Guy Thys, người từng chỉ đạo hơn 100 trận đấu chính thức, Bỉ nổi tiếng là 1 đội tuyển tổ chức tốt, thể lực sung mãn, 1 đối thủ khó vượt qua.

Đội tuyển có những cầu thủ trình độ cao như thủ môn Jean-Marie Pfaff, hậu vệ phải Eric Gerets, tiền vệ Jan Ceulemans, và tiền vệ kiến thiết Enzo Scifo. Tuy có một vài trận đấu không tốt với các đối thủ yếu hơn, nhưng họ thường đấu hay khi gặp các đối thủ mạnh. Cho đến tận gần đây, năm 2002, các đội bóng hàng đầu thế giới cũng ngại chạm trán với Những con quỷ đỏ, thậm chí cả nhà vô địch World Cup 2002, đội tuyển Brasil cũng phải chật vật mới thắng Bỉ 2-0 ở trận đấu loại trực tiếp trong giải này. Tuy nhiên kể từ đó, đội tuyển Bỉ dần xuống phong độ, chưa tìm lại được danh tiếng thuở trước.

Thoái trào và hi vọng mới (2003-2011)[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi thất bại tại vòng loại World Cup 2006 (lần đầu tiên sau 24 năm), huấn luyện viên Aimé Anthuenis không được gia hạn hợp đồng, và René Vandereycken thay thế Anthuenis từ 1 tháng 1 năm 2006. Tuy vậy ông cũng không đưa được đội tuyển Bỉ vượt qua vòng loại Euro 2008, chỉ xếp thứ 5 ở bảng đấu loại.

Thế hệ vàng mới (2012-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Bỉ hiện tại có hàng loạt cầu thủ chuyên môn tốt như các tiền đạo Mirallas, Benteke, Lukaku, các tiền vệ Fellaini, Witsel, Dembele, De BruyneHazard. Hàng thủ cũng rất mạnh với các cầu thủ nổi danh Kompany, Vermaelen, Alderweireld, Vertonghen cùng các thủ môn CourtoisMignolet.

Thành tích tại các giải đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Giải vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Sự xuất hiện của Bỉ tại giải vô địch thế giới (World Cup) phản ánh mức độ xuất hiện của tài năng ở trong nước tại từng thời điểm, giống như ở các đội tuyển Cộng hoà Séc, Hà Lan, hay Thụy Điển. Bỉ đã 6 lần liên tiếp vượt qua vòng loại World Cup - (từ 1982 đến 2002), thành tích chỉ kém Ý (12 lần), Argentina (9) và Tây Ban Nha (8). Các đội tuyển khác có số lần vào vòng chung kết liên tục nhiều hơn không được tính do trong số đó có những lần không phải tham gia vòng loại vì là chủ nhà hoặc đương kim vô địch.

Thi đấu một cách nỗ lực ở World Cup, đội tuyển Bỉ đã vượt qua vòng đấu bảng 5 trong 6 lần tham dự từ 1982 đến 2002, trong đó có 4 lần liên tiếp. Một trong những chiến thắng đáng nhớ nhất của họ là trận thắng đương kim vô địch Argentina 1-0 tại trận khai mạc World Cup 1982 tại Nou Camp.

Bốn năm sau, họ có được thành tích tốt nhất ở World Cup trong lịch sử, khi xếp hạng 4 chung cuộc ở World Cup 1986 với những cầu thủ nổi bật như Jan Ceulemans, Eric Gerets và Jean-Marie Pfaff. Bỉ bất ngờ chiến thắng đội bóng được mến mộ Liên Xô với những hảo thủ như Igor Belanov, Rinat Dasayev... 4–3 sau 2 hiệp phụ ở vòng 2, sau đó là Tây Ban Nha ở tứ kết. Tuy nhiên Bỉ chịu khuất phục trước đội vô địch giải Argentina 0-2 ở bán kết. Tại trận tranh giải ba, Bỉ thua Pháp 2-4 sau hai hiệp phụ. Đội trưởng tuyển Bỉ, tiền vệ Jan Ceulemans là cầu thủ Bỉ đầu tiên được lựa chọn vào đội hình tiêu biểu của một World Cup.

Mặc dù bị loại ngay từ vòng 2, màn trình diễn của Bỉ tại World Cup 1990 được đánh giá còn tốt hơn 4 năm trước. Ở trận đấu loại trực tiếp, Bỉ chiếm ưu thế trước Anh, chỉ thua ở những phút cuối của hiệp phụ bởi bàn thắng của David Platt. Enzo Scifo nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất và cầu thủ xuất sắc thứ nhì sau Lothar Matthäus.

Tại World Cup 1994, Bỉ thua đương kim vô địch Đức tại vòng 2. Trận đấu đáng nhớ bởi 1 quyết định gây tranh cãi của trọng tài Kurt Röthlisberger. Bỉ không được 1 quả phạt đền khi Josip Weber bị chèn ngã trong vòng cấm. Michel Preud'homme được bầu là thủ môn xuất sắc nhất giải và có tên trong đội hình tiêu biểu.

World Cup 1998, Bỉ cùng đội vô địch Pháp là 2 đội không thua 1 trận đấu nào. 3 trận hòa ở vòng bảng trước Hà Lan, MexicoHàn Quốc không đủ giúp họ vào vòng sau. Tại giải này Enzo Scifo và Franky Van Der Elst tham dự World Cup lần thứ 4, lập kỉ lục của Bỉ.

Bỉ khởi đầu World Cup 2002 không thật suôn sẻ, nhưng đội bóng tiến bộ qua từng trận đấu. Đội trưởng Marc Wilmots ghi bàn trong cả 3 trận đấu vòng bảng. Ở vòng 2 họ gặp phải nhà vô địch của giải Brasil. Giống như năm 1994, kết quả trận đấu bị ảnh hưởng bởi quyết định không chính xác của trọng tài. Ngay cả người Brasil cũng ngạc nhiên khi trọng tài Peter Prendergast không công nhận bàn thắng mở tỉ số của Marc Wilmots. Kết cục Bỉ thua 0-2. Huấn luyện viên Brasil Luiz Felipe Scolari thừa nhận sau giải rằng Những con quỷ đỏ là đối thủ khó khăn nhất của Brasil ở giải này. Bỉ giành được giải thưởng fair-play (cho đội bóng chơi đẹp). Marc Wilmots cân bằng kỉ lục tham dự 4 kì World Cup của Enzo Scifo và Franky Van Der Elst, tuy nhiên lần tham dự đầu tiên Wilmots không được ra sân. Wilmots cũng lập kỉ lục ghi bàn cho Bỉ tại các kì World Cup với 5 bàn thắng.

Sau World Cup 2002, phong độ đội tuyển không tốt khi họ không vượt qua vòng loại ở 2 kỳ World Cup 20062010. Năm 20142016, với lứa cầu thủ tài năng mới, Bỉ lọt vào đến tứ kết nhưng để thua lần lượt là Argentina và xứ Wales.

Năm Thành tích Thứ
hạng*
Số
trận
Thắng Hòa** Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Uruguay 1930 Vòng 1 11 2 0 0 2 0 4
Ý 1934 Vòng 1 15 1 0 0 1 2 5
Pháp 1938 Vòng 1 13 1 0 0 1 1 3
1950 Bỏ cuộc
Thụy Sĩ 1954 Vòng 1 12 2 0 1 1 5 8
1958 đến 1966 Không vượt qua vòng loại
México 1970 Vòng 1 10 3 1 0 2 4 5
1974 đến 1978 Không vượt qua vòng loại
Tây Ban Nha 1982 Vòng 2 10 5 2 1 2 3 5
México 1986 Hạng 4 4 7 2 2 3 12 15
Ý 1990 Vòng 2 11 4 2 0 2 6 4
Hoa Kỳ 1994 Vòng 2 11 4 2 0 2 4 4
Pháp 1998 Vòng 1 19 3 0 3 0 3 3
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Vòng 2 14 4 1 2 1 6 7
2006 đến 2010 Không vượt qua vòng loại
Brasil 2014 Tứ kết 6 5 4 0 1 6 3
Tổng cộng 12/20 1 lần
hạng 4
41 14 9 18 52 66
*Thứ hạng không chính thức dựa trên vòng đấu mà đội bóng lọt vào và điểm số đạt được với các đội bóng cùng vào một vòng đấu.
**Tính cả các trận hòa ở các vòng đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu.

Giải vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích của Bỉ tại Giải vô địch bóng đá châu Âu tốt hơn so với World Cup. Thành tích tốt nhất của họ là ngôi á quân năm 1980 tại Ý sau khi thua sát nút 1-2 trước Tây Đức tại trận chung kết. Bỉ là chủ nhà (hoặc đồng chủ nhà) 2 lần, xếp thứ ba năm 1972 và gây thất vọng trong năm 2000 khi là đội chủ nhà đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng.

Năm Thành tích Số trận Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
1960 đến 1968 Không vượt qua vòng loại
Bỉ 1972 Hạng ba 2 1 0 1 3 3
1976 Không vượt qua vòng loại
Ý 1980 Hạng nhì 4 1 2 1 4 4
Pháp 1984 Vòng bảng 3 1 0 2 4 8
1988 đến 1996 Không vượt qua vòng loại
BỉHà Lan 2000 Vòng bảng 3 1 0 2 2 5
2004 đến 2012 Không vượt qua vòng loại
Pháp 2016 Tứ kết 5 3 0 2 9 5
Tổng cộng 5/15
1 lần á quân
17 7 2 8 22 25

Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bỉ từng đoạt huy chương vàng môn bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 1920, huy chương đồng Thế vận hội Mùa hè 1900. Ngày 16 tháng 6, 2007, Bỉ đã giành quyền tham dự Thế vận hội Mùa hè 2008 sau khi hòa 2-2 với đội tuyển Hà Lan.

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng tư: 1986
Á quân: 1980
Hạng ba: 1972
1992 1920
1920 1900
Hạng tư: 2008

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Jan Ceulemans là cầu thủ khoác áo đội tuyển Bỉ nhiều nhất với 96 trận.

Tính đến 13 tháng 11 năm 2016, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Bỉ nhiều lần nhất là:

# Cầu thủ Năm thi đấu Số trận Bàn thắng Vị trí
1 Jan Ceulemans 1977–1991 96 23 Tiền vệ/Tiền đạo
2 Timmy Simons 2001–2013 93 6 Hậu vệ/Tiền vệ
3 Jan Vertonghen 2007– 87 6 Hậu vệ
4 Eric Gerets 1975–1991 86 2 Hậu vệ
Franky Van der Elst 1984–1998 86 1 Tiền vệ
6 Enzo Scifo 1984–1998 84 18 Tiền vệ
7 Daniel Van Buyten 2001–2014 83 10 Hậu vệ
8 Paul Van Himst 1960–1974 81 30 Tiền đạo
9 Bart Goor 1999–2008 78 13 Tiền vệ
10 Georges Grün 1984–1995 77 6 Hậu vệ

Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Bernard Voorhoof (trái)Paul Van Himst (phải) là 2 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bỉ với 30 bàn.

Tính đến 10 tháng 10 năm 2016, 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bỉ là:

# Cầu thủ Năm thi đấu Bàn thắng Số trận Vị trí Hiệu suất
1 Bernard Voorhoof 1928–1940 30 61 Tiền đạo 0.4918
Paul Van Himst 1960–1974 30 81 Tiền đạo 0.3704
3 Joseph Mermans 1945–1956 28 56 Tiền đạo 0.5000
Marc Wilmots 1990–2002 28 70 Tiền vệ 0.4000
5 Robert De Veen 1906–1913 26 23 Tiền đạo 1.1304
6 Wesley Sonck 2001–2010 24 55 Tiền đạo 0.4364
7 Ray Braine 1925–1939 23 52 Tiền đạo 0.4423
Marc Degryse 1984–1996 23 63 Tiền đạo 0.3651
9 Jan Ceulemans 1976–1991 22 96 Tiền vệ/Tiền đạo 0.2292
10 Rik Coppens 1949–1959 21 47 Tiền đạo 0.4468

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là danh sách 23 cầu thủ triệu tập tham dự trận giao hữu gặp Hà Lan vào ngày 9 và vòng loại World Cup 2018 gặp Estonia vào ngày 11 tháng 11, 2016[2][3].

Số lần khoác áo và bàn thắng tính đến ngày 13 tháng 11 năm 2016 sau trận gặp Estonia.[4]

0#0 Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bt Câu lạc bộ
1TM Thibaut Courtois 11 tháng 5, 1992 (24 tuổi) 47 0 Anh Chelsea
1TM Simon Mignolet 6 tháng 3, 1988 (28 tuổi) 17 0 Anh Liverpool
1TM Matz Sels 26 tháng 2, 1992 (24 tuổi) 0 0 Anh Newcastle United

2HV Timmy Simons 11 tháng 12, 1976 (39 tuổi) 94 6 Bỉ Club Brugge
2HV Jan Vertonghen (Đội phó 3) 24 tháng 4, 1987 (29 tuổi) 87 6 Anh Tottenham Hotspur
2HV Laurent Ciman 5 tháng 8, 1985 (31 tuổi) 16 1 Canada Montreal Impact
2HV Thomas Meunier 12 tháng 9, 1991 (25 tuổi) 15 1 Pháp Paris Saint-Germain
2HV Luis Pedro Cavanda 2 tháng 1, 1991 (25 tuổi) 2 0 Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
2HV Thomas Foket 25 tháng 9, 1994 (22 tuổi) 1 0 Bỉ Gent

3TV Axel Witsel 12 tháng 1, 1989 (27 tuổi) 78 8 Nga Zenit Saint Petersburg
3TV Steven Defour 15 tháng 4, 1988 (28 tuổi) 49 2 Anh Burnley
3TV Kevin De Bruyne 28 tháng 6, 1991 (25 tuổi) 48 12 Anh Manchester City
3TV Leander Dendoncker 15 tháng 4, 1995 (21 tuổi) 2 0 Bỉ Anderlecht
3TV Youri Tielemans 7 tháng 5, 1997 (19 tuổi) 2 0 Bỉ Anderlecht

4 Eden Hazard (Đội phó) 7 tháng 1, 1991 (25 tuổi) 76 17 Anh Chelsea
4 Romelu Lukaku 13 tháng 5, 1993 (23 tuổi) 54 19 Anh Everton
4 Dries Mertens 6 tháng 5, 1987 (29 tuổi) 54 11 Ý Napoli
4 Kevin Mirallas 5 tháng 10, 1987 (29 tuổi) 54 9 Anh Everton
4 Christian Benteke 3 tháng 12, 1990 (26 tuổi) 30 9 Anh Crystal Palace
4 Divock Origi 18 tháng 4, 1995 (21 tuổi) 22 3 Anh Liverpool
4 Yannick Carrasco 4 tháng 9, 1993 (23 tuổi) 15 4 Tây Ban Nha Atlético Madrid
4 Michy Batshuayi 2 tháng 10, 1993 (23 tuổi) 9 3 Anh Chelsea
4 Thorgan Hazard 29 tháng 3, 1993 (23 tuổi) 2 0 Đức Borussia Mönchengladbach

Triệu tập gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Jean-François Gillet 31 tháng 5, 1979 (37 tuổi) 9 0 Bỉ Standard Liège Euro 2016

HV Christian Kabasele INJ 24 tháng 2, 1991 (25 tuổi) 1 0 Anh Watford v.  Estonia, 13 tháng 11, 2016 WD
HV Vincent Kompany INJ (Đội trưởng) 10 tháng 4, 1986 (30 tuổi) 70 4 Anh Manchester City v.  Estonia, 13 tháng 11, 2016 WD
HV Toby Alderweireld INJ 2 tháng 3, 1989 (27 tuổi) 64 3 Anh Tottenham Hotspur v.  Gibraltar, 10 tháng 10, 2016
HV Sébastien Pocognoli 1 tháng 8, 1987 (29 tuổi) 13 0 Anh Brighton & Hove Albion v.  Gibraltar, 10 tháng 10, 2016
HV Nicolas Lombaerts 20 tháng 3, 1985 (31 tuổi) 38 3 Nga Zenit Saint Petersburg v.  Gibraltar, 10 tháng 10, 2016
HV Jordan Lukaku 25 tháng 7, 1994 (22 tuổi) 7 0 Ý Lazio v.  Gibraltar, 10 tháng 10, 2016 WD
HV Thomas Vermaelen INJ 14 tháng 11, 1985 (31 tuổi) 58 1 Ý Roma v.  Síp, 6 tháng 9, 2016
HV Jason Denayer 28 tháng 6, 1995 (21 tuổi) 8 0 Anh Sunderland Euro 2016
HV Dedryck Boyata 28 tháng 11, 1990 (26 tuổi) 2 0 Scotland Celtic Euro 2016 PRE, WD
HV Björn Engels INJ 15 tháng 9, 1994 (22 tuổi) 0 0 Bỉ Club Brugge Euro 2016 PRE, WD
HV Laurens De Bock 7 tháng 11, 1992 (24 tuổi) 0 0 Bỉ Club Brugge Euro 2016 PRE
HV Guillaume Gillet 9 tháng 3, 1984 (32 tuổi) 21 1 Pháp Nantes Euro 2016 PRE

TV Moussa Dembélé INJ 16 tháng 7, 1987 (29 tuổi) 66 5 Anh Tottenham Hotspur v.  Estonia, 13 tháng 11, 2016 WD
TV Marouane Fellaini INJ 22 tháng 11, 1987 (29 tuổi) 73 15 Anh Manchester United v.  Hà Lan, 8 tháng 11, 2016 WD
TV Nacer Chadli 2 tháng 8, 1989 (27 tuổi) 32 3 Anh West Bromwich Albion v.  Gibraltar, 10 tháng 10, 2016
TV Radja Nainggolan 4 tháng 5, 1988 (28 tuổi) 26 6 Ý Roma v.  Bosna và Hercegovina, 7 tháng 10, 2016 WD
TV Leander Dendoncker 15 tháng 4, 1995 (21 tuổi) 1 0 Bỉ Anderlecht v.  Síp, 6 tháng 9, 2016
TV Sven Kums 26 tháng 2, 1988 (28 tuổi) 0 0 Ý Udinese v.  Tây Ban Nha, 17 tháng 11, 2015

Laurent Depoitre 7 tháng 12, 1988 (28 tuổi) 1 1 Bồ Đào Nha Porto v.  Tây Ban Nha, 17 tháng 11, 2015 WD
Chú thích
INJ = Không được triệu tập do chấn thương
WD = Rút lui do chấn thương
PRE = Đội hình sơ bộ

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1910, một hội đồng của Hiệp hội bóng đá Bỉ đứng ra lựa chọn cầu thủ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Karel Stokkermans (24 tháng 7 năm 2014). “Belgium – Record International Players”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation (RSSSF). Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2016. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2014. 
  2. ^ “Red Devils Team Selection”. RBFA. 26 tháng 8 năm 2016. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2016. 
  3. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên voetbalkrant-20160830
  4. ^ “Rules & Governance – Law 3: The number of players”. The FA. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]