Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bỉ
Huy hiệu áo/huy hiệu Hiệp hội
Biệt danhRode Duivels
Diables Rouges
Die Roten Teufel (Quỷ đỏ)
Hiệp hộiHiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ
Liên đoàn châu lụcUEFA (châu Âu)
Huấn luyện viên trưởngRoberto Martínez
Đội trưởngEden Hazard
Thi đấu nhiều nhấtJan Vertonghen (132)
Ghi bàn nhiều nhấtRomelu Lukaku (67)[1]
Sân nhàNhà vua Baudouin
Mã FIFABEL
Áo màu chính
Áo màu phụ
Hạng FIFA
Hiện tại 2 Giữ nguyên (6 tháng 10 năm 2022)[2]
Cao nhất1 (9.2018)
Thấp nhất71 (6.2007)
Hạng Elo
Hiện tại 9 Giảm 5 (30 tháng 11 năm 2022)[3]
Cao nhất1 (11.2019)
Thấp nhất74 (9.2009)
Trận quốc tế đầu tiên
 Bỉ 3–3 Pháp 
(Bruxelles, Bỉ; 1 tháng 5 năm 1904)
Trận thắng đậm nhất
 Bỉ 9–0 Zambia 
(Bruxelles, Bỉ; 4 tháng 6 năm 1994)
 Bỉ 10–1 San Marino 
(Bruxelles, Bỉ; 28 tháng 2 năm 2001)
Trận thua đậm nhất
Nghiệp dư Anh 11–2 Bỉ 
(Luân Đôn, Anh; 17 tháng 4 năm 1909)
Giải thế giới
Sồ lần tham dự14 (Lần đầu vào năm 1930)
Kết quả tốt nhấtHạng ba, 2018
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Sồ lần tham dự6 (Lần đầu vào năm 1972)
Kết quả tốt nhấtHạng nhì (1980)

Đội tuyển bóng đá quốc gia Bỉ (tiếng Pháp: Équipe de Belgique de football; tiếng Hà Lan: Belgisch voetbalelftal, tiếng Đức: Belgische Fußballnationalmannschaft) là đội tuyển cấp quốc gia của Bỉ do Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Bỉ quản lý.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bỉ có trận đấu chính thức đầu tiên vào ngày 1 tháng 5 năm 1904 là trận hoà 3-3 trước đội tuyển Pháp. Trước trận đấu này, đội tuyển chọn lọc của Bỉ có thi đấu vài trận, nhưng trong đội hình có một số cầu thủ Anh, do đó không được tính là trận đấu chính thức. Ví dụ Bỉ thắng Hà Lan 8-0 ngày 28 tháng 4 năm 1901 với sự có mặt của vài cầu thủ Anh. Sau trận đấu này, hai nước láng giềng Bỉ và Hà Lan có truyền thống một năm đấu 2 trận bắt đầu từ năm 1905, thường được tổ chức ở AntwerpRotterdam (sau chuyển sang Amsterdam). Vào thời điểm đó, đội tuyển Bỉ thường do 1 ban tuyển lựa quyết định gồm đại diện của 6 hoặc 7 câu lạc bộ lớn.

Biệt danh Những con quỷ đỏ của đội tuyển Bỉ do phóng viên Pierre Walckiers đặt cho sau trận thắng 3-2 trước Hà Lan (Rotterdam, 1906).

Hơn sáu thập kỉ sau, Bỉ trở thành một trong những đội bóng mạnh, tuy không vô địch các giải đấu lớn nhưng đối thủ không dễ vượt qua họ, kể cả ở sân nhà hay sân khách. Chìa khoá thành công của đội tuyển là việc sử dụng bẫy việt vị, một chiến thuật phòng ngự được phát triển trong thập niên 1960, ban đầu tại câu lạc bộ Anderlecht của huấn luyện viên người Pháp Pierre Sinibaldi.

Giai đoạn thập niên 1980 và đầu thập niên 1990 là thời gian mạnh nhất trong lịch sử của Bỉ. Thành tích cao nhất của họ trong giai đoạn này là á quân Euro 1980. Dưới sự chỉ đạo của huấn luyện viên dày dạn kinh nghiệm Guy Thys, người từng chỉ đạo hơn 100 trận đấu chính thức, Bỉ nổi tiếng là 1 đội tuyển tổ chức tốt, thể lực sung mãn, 1 đối thủ khó vượt qua.

Đội tuyển có những cầu thủ trình độ cao như thủ môn Jean-Marie Pfaff, hậu vệ phải Eric Gerets, tiền vệ Jan Ceulemans, và tiền vệ kiến thiết Enzo Scifo. Tuy có một vài trận đấu không tốt với các đối thủ yếu hơn, nhưng họ thường đấu hay khi gặp các đối thủ mạnh. Cho đến tận gần đây, năm 2002, các đội bóng hàng đầu thế giới cũng ngại chạm trán với Những con quỷ đỏ, thậm chí cả nhà vô địch World Cup 2002, đội tuyển Brasil cũng phải chật vật mới thắng Bỉ 2-0 ở trận đấu loại trực tiếp trong giải này. Tuy nhiên kể từ đó, đội tuyển Bỉ dần xuống phong độ, chưa tìm lại được danh tiếng thuở trước.

Sau khi thất bại tại vòng loại World Cup 2006 (lần đầu tiên sau 24 năm), huấn luyện viên Aimé Anthuenis không được gia hạn hợp đồng, và René Vandereycken thay thế Anthuenis từ 1 tháng 1 năm 2006. Tuy vậy ông cũng không đưa được đội tuyển Bỉ vượt qua vòng loại Euro 2008, chỉ xếp thứ 5 ở bảng đấu loại.

Bỉ hiện tại có hàng loạt cầu thủ chuyên môn như các tiền đạo Mirallas, Benteke, Lukaku, Batshuayi, các tiền vệ Fellaini, Witsel, Carrasco, Dembele, De Bruyne, Nainggolan, MertensHazard. Hàng thủ thì có những Kompany, Vermaelen, Alderweireld, Vertonghen cùng các thủ môn CourtoisMignolet.

Giải vô địch thế giới[sửa | sửa mã nguồn]

Sự xuất hiện của Bỉ tại giải vô địch thế giới (World Cup) phản ánh mức độ xuất hiện của tài năng ở trong nước tại từng thời điểm, giống như ở các đội tuyển Cộng hoà Séc, Hà Lan, hay Thụy Điển. Bỉ đã 6 lần liên tiếp vượt qua vòng loại World Cup Bỉ - (từ 1982 đến 2002), thành tích chỉ kém Ý(12 lần), Argentina (9) và Tây Ban Nha (8). Các đội tuyển khác có số lần vào vòng chung kết liên tục nhiều hơn không được tính do trong số đó có những lần không phải tham gia vòng loại vì là chủ nhà hoặc đương kim vô địch.

Thi đấu một cách nỗ lực ở World Cup, đội tuyển Bỉ đã vượt qua vòng đấu bảng 5 trong 6 lần tham dự từ 1982 đến 2002, trong đó có 4 lần liên tiếp. Một trong những chiến thắng đáng nhớ nhất của họ là trận thắng đương kim vô địch Argentina 1-0 tại trận khai mạc World Cup 1982 tại Camp Nou.

Bốn năm sau, họ có được thành tích tốt nhất ở World Cup trong lịch sử, khi xếp hạng 4 chung cuộc ở World Cup 1986 với những cầu thủ nổi bật như Jan Ceulemans, Eric Gerets và Jean-Marie Pfaff. Bỉ bất ngờ chiến thắng đội bóng được mến mộ Liên Xô với những hảo thủ như Igor Belanov, Rinat Dasayev... 4–3 sau 2 hiệp phụ ở vòng 2, sau đó là Tây Ban Nha ở tứ kết. Tuy nhiên Bỉ chịu khuất phục trước đội vô địch giải Argentina 0-2 ở bán kết. Tại trận tranh giải ba, Bỉ thua Pháp 2-4 sau hai hiệp phụ. Đội trưởng tuyển Bỉ, tiền vệ Jan Ceulemans là cầu thủ Bỉ đầu tiên được lựa chọn vào đội hình tiêu biểu của một World Cup.

Mặc dù bị loại ngay từ vòng 2, màn trình diễn của Bỉ tại World Cup 1990 được đánh giá còn tốt hơn 4 năm trước. Ở trận đấu loại trực tiếp, Bỉ chiếm ưu thế trước Anh, chỉ thua ở những phút cuối của hiệp phụ bởi bàn thắng của David Platt. Enzo Scifo nhận giải Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất và cầu thủ xuất sắc thứ nhì sau Lothar Matthäus.

Tại World Cup 1994, Bỉ thua đương kim vô địch Đức tại vòng 2. Trận đấu đáng nhớ bởi 1 quyết định gây tranh cãi của trọng tài Kurt Röthlisberger. Bỉ không được 1 quả phạt đền khi Josip Weber bị chèn ngã trong vòng cấm. Michel Preud'homme được bầu là thủ môn xuất sắc nhất giải và có tên trong đội hình tiêu biểu.

World Cup 1998, Bỉ cùng đội vô địch Pháp là 2 đội không thua 1 trận đấu nào. 3 trận hòa ở vòng bảng trước Hà Lan, MexicoHàn Quốc không đủ giúp họ vào vòng sau. Tại giải này Enzo Scifo và Franky Van Der Elst tham dự World Cup lần thứ 4, lập kỉ lục của Bỉ.

Bỉ khởi đầu World Cup 2002 không thật suôn sẻ, nhưng đội bóng tiến bộ qua từng trận đấu. Đội trưởng Marc Wilmots ghi bàn trong cả ba trận đấu vòng bảng. Ở vòng 2 họ gặp phải nhà vô địch của giải Brasil. Giống như năm 1994, kết quả trận đấu bị ảnh hưởng bởi quyết định không chính xác của trọng tài. Ngay cả người Brasil cũng ngạc nhiên khi trọng tài Peter Prendergast không công nhận bàn thắng mở tỉ số của Marc Wilmots. Kết cục Bỉ thua 0-2. Huấn luyện viên Brasil Luiz Felipe Scolari thừa nhận sau giải rằng Những con quỷ đỏ là đối thủ khó khăn nhất của Brasil ở giải này. Bỉ giành được giải thưởng fair-play (cho đội bóng chơi đẹp). Marc Wilmots cân bằng kỉ lục tham dự 4 kì World Cup của Enzo Scifo và Franky Van Der Elst, tuy nhiên lần tham dự đầu tiên Wilmots không được ra sân. Wilmots cũng lập kỉ lục ghi bàn cho Bỉ tại các kì World Cup với 5 bàn thắng.

Sau World Cup 2002, phong độ đội tuyển không tốt khi họ không vượt qua vòng loại ở 2 kỳ World Cup 20062010. Năm 2014, với lứa cầu thủ tài năng mới, Bỉ lọt vào đến tứ kết nhưng để thua Argentina. World Cup 2018 là bước ngoặt lớn khi các lứa cầu thủ đội này đã giành được huy chương đồng của một kỳ World Cup.

Năm Thành tích Thứ
hạng*
Số
trận
Thắng Hòa** Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Uruguay 1930 Vòng 1 11 2 0 0 2 0 4
Ý 1934 Vòng 1 15 1 0 0 1 2 5
Pháp 1938 Vòng 1 13 1 0 0 1 1 3
1950 Bỏ cuộc
Thụy Sĩ 1954 Vòng 1 12 2 0 1 1 5 8
1958 đến 1966 Không vượt qua vòng loại
México 1970 Vòng 1 10 3 1 0 2 4 5
1974 đến 1978 Không vượt qua vòng loại
Tây Ban Nha 1982 Vòng 2 10 5 2 1 2 3 5
México 1986 Hạng 4 4 7 2 2 3 12 15
Ý 1990 Vòng 2 11 4 2 0 2 6 4
Hoa Kỳ 1994 Vòng 2 11 4 2 0 2 4 4
Pháp 1998 Vòng 1 19 3 0 3 0 3 3
Hàn Quốc Nhật Bản 2002 Vòng 2 14 4 1 2 1 6 7
2006 đến 2010 Không vượt qua vòng loại
Brasil 2014 Tứ kết 6 5 4 0 1 6 3
Nga 2018 Hạng ba 3 7 6 0 1 16 6
Qatar 2022 Vòng 1 23 3 1 1 1 1 2
Canada México Hoa Kỳ 2026 Chưa xác định
Tổng cộng 14/22 1 lần
hạng 3
51 21 10 20 69 74
*Thứ hạng không chính thức dựa trên vòng đấu mà đội bóng lọt vào và điểm số đạt được với các đội bóng cùng vào một vòng đấu.
**Tính cả các trận hòa ở các vòng đấu loại trực tiếp phải giải quyết bằng sút phạt đền luân lưu.

Thế vận hội[sửa | sửa mã nguồn]

Bỉ từng đoạt huy chương vàng môn bóng đá tại Thế vận hội Mùa hè 1920 và huy chương đồng Thế vận hội Mùa hè 1900.

  • (Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1988)
Năm Thứ
hạng
Số
trận
Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
Pháp 1900 Hạng ba 1 0 0 1 2 6
1904 đến 1912 Không tham dự
Bỉ 1920 Huy chương vàng 3 3 0 0 8 1
Pháp 1924 Vòng 2 1 0 0 1 1 8
Hà Lan 1928 Tứ kết 3 1 0 2 9 12
1936 đến 1976 Không tham dự
1980 đến 1984 Không vượt qua vòng loại
1988 Không tham dự
Tổng cộng 1 lần
vô địch
8 4 0 4 20 27

Giải vô địch châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích của Bỉ tại Giải vô địch bóng đá châu Âu tốt hơn so với World Cup. Thành tích tốt nhất của họ là ngôi á quân năm 1980 tại Ý sau khi thua sát nút 1-2 trước Tây Đức tại trận chung kết. Bỉ là chủ nhà (hoặc đồng chủ nhà) 2 lần, xếp thứ ba năm 1972 và gây thất vọng trong năm 2000 khi là đội chủ nhà đầu tiên bị loại ngay từ vòng bảng.

Sau Euro 2000, phong độ đội tuyển không tốt khi họ không vượt qua vòng loại ở 3 kỳ Euro 2004, 20082012. Năm 20162020, với lứa cầu thủ tài năng mới, Bỉ lọt vào đến tứ kết nhưng để thua Xứ WalesÝ.

Năm Thành tích Số trận Thắng Hòa Thua Bàn
thắng
Bàn
thua
1960 đến 1968 Không vượt qua vòng loại
Bỉ 1972 Hạng ba 2 1 0 1 3 3
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư 1976 Không vượt qua vòng loại
Ý 1980 Hạng nhì 4 1 2 1 4 4
Pháp 1984 Vòng bảng 3 1 0 2 4 8
1988 đến 1996 Không vượt qua vòng loại
BỉHà Lan 2000 Vòng bảng 3 1 0 2 2 5
2004 đến 2012 Không vượt qua vòng loại
Pháp 2016 Tứ kết 5 3 0 2 9 5
Liên minh châu Âu 2020 Tứ kết 5 4 0 1 9 3
Đức 2024 Chưa xác định
Tổng cộng 6/16 1 lần Á quân
'
22 11 2 9 31 28

UEFA Nations League[sửa | sửa mã nguồn]

Thành tích tại UEFA Nations League
Mùa giải Hạng đấu Bảng Pos Pld W D L GF GA
2018–19 A Vòng bảng 5th 4 3 0 1 9 6
Ý 2020–21 A Hạng tư 4th 8 5 0 3 19 11
2022–23 A Vòng bảng 7th 6 3 1 2 11 8
Tổng cộng 1 lần
hạng tư
3/3 18 11 1 6 39 25

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Hạng ba: 2018
Á quân: 1980
Hạng ba: 1972
1992 1920
1920 1900

Lịch đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ khoác áo đội tuyển nhiều nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Jan Vertonghen là cầu thủ khoác áo đội tuyển Bỉ nhiều nhất với 145 trận.

Tính đến 1 tháng 12 năm 2022, 10 cầu thủ khoác áo đội tuyển Bỉ nhiều lần nhất là:

# Cầu thủ Năm thi đấu Số trận Bàn thắng Vị trí
1 Jan Vertonghen 2007– 145 9 Hậu vệ
2 Axel Witsel 2008– 130 12 Tiền vệ
3 Toby Alderweireld 2009– 127 5 Hậu vệ
4 Eden Hazard 2008–2022 126 33 Tiền đạo
5 Dries Mertens 2011– 109 21 Tiền đạo
6 Romelu Lukaku 2010– 104 68 Tiền đạo
7 Thibaut Courtois 2011– 100 0 Thủ môn
8 Jan Ceulemans 1977–1991 96 23 Tiền vệ/Tiền đạo
9 Kevin De Bruyne 2010– 97 25 Tiền vệ
10 Timmy Simons 2001–2013 94 6 Hậu vệ/Tiền vệ

Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất[sửa | sửa mã nguồn]

Romelu Lukaku là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bỉ với 68 bàn.

Tính đến 1 tháng 12 năm 2022, 10 cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất cho đội tuyển Bỉ là:

# Cầu thủ Năm thi đấu Bàn thắng Số trận Vị trí Hiệu suất
1 Romelu Lukaku 2010– 68 104 Tiền đạo 0.65
2 Eden Hazard 2008–2022 33 126 Tiền vệ/Tiền đạo 0.26
3 Bernard Voorhoof 1928–1940 30 61 Tiền đạo 0.49
Paul Van Himst 1960–1974 30 81 Tiền đạo 0.37
5 Marc Wilmots 1990–2002 29 70 Tiền vệ 0.41
6 Joseph Mermans 1945–1956 27 56 Tiền đạo 0.48
Michy Batshuayi 2015– 27 50 Tiền đạo 0.54
8 Ray Braine 1925–1939 26 54 Tiền đạo 0.48
Robert De Veen 1906–1913 26 23 Tiền đạo 1.13
10 Kevin De Bruyne 2010– 25 97 Tiền vệ 0.26

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách 26 cầu thủ tham dự FIFA World Cup 2022.
Số liệu thống kê tính đến ngày 1 tháng 12 năm 2022 sau trận gặp Croatia.

Số VT Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Trận Bàn Câu lạc bộ
1 1TM Thibaut Courtois 11 tháng 5, 1992 (30 tuổi) 100 0 Tây Ban Nha Real Madrid
12 1TM Simon Mignolet 6 tháng 3, 1988 (34 tuổi) 35 0 Bỉ Club Brugge
13 1TM Koen Casteels 25 tháng 6, 1992 (30 tuổi) 4 0 Đức VfL Wolfsburg

2 2HV Toby Alderweireld 2 tháng 3, 1989 (33 tuổi) 127 5 Bỉ Antwerp
3 2HV Arthur Theate 25 tháng 5, 2000 (22 tuổi) 4 0 Pháp Rennes
4 2HV Wout Faes 3 tháng 4, 1998 (24 tuổi) 1 0 Anh Leicester City
5 2HV Jan Vertonghen (đội phó) 24 tháng 4, 1987 (35 tuổi) 145 9 Bỉ Anderlecht
15 2HV Thomas Meunier 12 tháng 9, 1991 (31 tuổi) 62 8 Đức Borussia Dortmund
21 2HV Timothy Castagne 5 tháng 12, 1995 (27 tuổi) 29 2 Anh Leicester City
26 2HV Zeno Debast 24 tháng 10, 2003 (19 tuổi) 3 0 Bỉ Anderlecht

6 3TV Axel Witsel 12 tháng 1, 1989 (33 tuổi) 130 12 Tây Ban Nha Atlético Madrid
7 3TV Kevin De Bruyne (đội phó 3) 28 tháng 6, 1991 (31 tuổi) 97 25 Anh Manchester City
8 3TV Youri Tielemans 7 tháng 5, 1997 (25 tuổi) 58 5 Anh Leicester City
11 3TV Yannick Carrasco 4 tháng 9, 1993 (29 tuổi) 62 8 Tây Ban Nha Atlético Madrid
18 3TV Amadou Onana 16 tháng 8, 2001 (21 tuổi) 4 0 Anh Everton
19 3TV Leander Dendoncker 15 tháng 4, 1995 (27 tuổi) 31 1 Anh Aston Villa
20 3TV Hans Vanaken 24 tháng 8, 1992 (30 tuổi) 23 5 Bỉ Club Brugge
22 3TV Charles De Ketelaere 10 tháng 3, 2001 (21 tuổi) 11 1 Ý AC Milan

9 4 Romelu Lukaku 13 tháng 5, 1993 (29 tuổi) 104 68 Ý Inter Milan
10 4 Eden Hazard (đội trưởng) 7 tháng 1, 1991 (31 tuổi) 126 33 Tây Ban Nha Real Madrid
14 4 Dries Mertens 6 tháng 5, 1987 (35 tuổi) 109 21 Thổ Nhĩ Kỳ Galatasaray
16 4 Thorgan Hazard 29 tháng 3, 1993 (29 tuổi) 47 9 Đức Borussia Dortmund
17 4 Leandro Trossard 4 tháng 12, 1994 (28 tuổi) 24 5 Anh Brighton & Hove Albion
23 4 Michy Batshuayi 2 tháng 10, 1993 (29 tuổi) 50 27 Thổ Nhĩ Kỳ Fenerbahçe
24 4 Loïs Openda 16 tháng 2, 2000 (22 tuổi) 6 2 Pháp Lens
25 4 Jérémy Doku 27 tháng 5, 2002 (20 tuổi) 12 2 Pháp Rennes

Triệu tập gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Vt Cầu thủ Ngày sinh (tuổi) Số trận Bt Câu lạc bộ Lần cuối triệu tập
TM Matz Sels 26 tháng 2, 1992 (30 tuổi) 2 0 Pháp Strasbourg v.  Hà Lan, 25 tháng 9 năm 2022
TM Thomas Kaminski 23 tháng 10, 1992 (30 tuổi) 0 0 Anh Blackburn Rovers v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022
TM Davy Roef 6 tháng 2, 1994 (28 tuổi) 0 0 Bỉ Gent v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022

HV Jason Denayer 28 tháng 6, 1995 (27 tuổi) 35 1 Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất Shabab Al Ahli FIFA World Cup 2022 PRE
HV Dedryck Boyata 28 tháng 11, 1990 (32 tuổi) 31 0 Bỉ Club Brugge v.  Hà Lan, 25 tháng 9 năm 2022
HV Brandon Mechele 28 tháng 1, 1993 (29 tuổi) 3 0 Bỉ Club Brugge v.  Hà Lan, 25 tháng 9 năm 2022
HV Thomas Foket 25 tháng 9, 1994 (28 tuổi) 10 1 Pháp Reims v.  Ba Lan, 14 tháng 6 năm 2022
HV Sebastiaan Bornauw 22 tháng 3, 1999 (23 tuổi) 3 0 Đức VfL Wolfsburg v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022
HV Siebe Van der Heyden 30 tháng 5, 1998 (24 tuổi) 1 0 Bỉ Union SG v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022

TV Alexis Saelemaekers 27 tháng 6, 1999 (23 tuổi) 9 1 Ý AC Milan FIFA World Cup 2022 PRE
TV Bryan Heynen 6 tháng 2, 1997 (25 tuổi) 0 0 Bỉ Genk FIFA World Cup 2022 PRE
TV Dennis Praet 14 tháng 5, 1994 (28 tuổi) 15 2 Anh Leicester City v.  Ba Lan, 14 tháng 6 năm 2022
TV Yari Verschaeren 12 tháng 7, 2001 (21 tuổi) 7 1 Bỉ Anderlecht v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022
TV Orel Mangala 18 tháng 3, 1998 (24 tuổi) 2 0 Anh Nottingham Forest v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022
TV Albert Sambi Lokonga 22 tháng 10, 1999 (23 tuổi) 1 0 Anh Arsenal v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022

Dodi Lukebakio 24 tháng 9, 1997 (25 tuổi) 5 0 Đức Hertha BSC FIFA World Cup 2022 PRE
Christian Benteke 3 tháng 12, 1990 (32 tuổi) 45 18 Hoa Kỳ D.C. United v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022
Divock Origi 18 tháng 4, 1995 (27 tuổi) 32 3 Ý AC Milan v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022
Adnan Januzaj 5 tháng 2, 1995 (27 tuổi) 15 1 Tây Ban Nha Sevilla v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022
Dante Vanzeir 16 tháng 4, 1998 (24 tuổi) 1 0 Bỉ Union SG v.  Burkina Faso, 29 tháng 3 năm 2022

Chú thích
COV = Cầu thủ rút lui vì dương tính COVID-19
INJ = Không được triệu tập do chấn thương
WD = Rút lui do chấn thương
PRE = Đội hình sơ bộ
RET = Đã chia tay đội tuyển quốc gia

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Trước năm 1910, một hội đồng của Hiệp hội bóng đá Bỉ đứng ra lựa chọn cầu thủ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên RSSSF BelIntRec
  2. ^ “Bảng xếp hạng FIFA/Coca-Cola thế giới”. FIFA. 6 tháng 10 năm 2022. Truy cập 6 tháng 10 năm 2022.
  3. ^ Elo rankings change compared to one year ago. “World Football Elo Ratings”. eloratings.net. 30 tháng 11 năm 2022. Truy cập 30 tháng 11 năm 2022.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]