Thibaut Courtois

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Thibaut Courtois
Courtois aug 2014.jpg
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Thibaut Nicolas Marc Courtois
Ngày sinh 11 tháng 5, 1992 (24 tuổi)
Nơi sinh Bree, Bỉ
Chiều cao 1,99 m (6 ft 6 12 in)[Chuyển đổi: Số không hợp lệ]
Vị trí Thủ môn
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Chelsea
Số áo 13
CLB trẻ
1997–1999 Bilzen VV
1999–2009 Racing Genk
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2009–2011 Racing Genk 41 (0)
2011– Chelsea 58 (0)
2011–2014 Atlético Madrid (mượn) 111 (0)
Đội tuyển quốc gia
2011– Bỉ 44 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 27 tháng 8, 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 6 tháng 9, 2016

Thibaut Courtois (sinh ngày 11 tháng 5 1992 tại Bree, Bỉ) là cầu thủ bóng đá người Bỉ đang thi đấu ở vị trí thủ môn cho câu lạc bộ Chelseađội tuyển Bỉ. Anh từng thi đấu cho câu lạc bộ Racing Genk trước khi gia nhập Chelsea vào tháng 7 2011. Anh được mệnh danh là thủ môn trẻ xuất sắc nhất thế giới, người được biết đến với khả năng nhanh nhạy trong khung gỗ và những pha cứu thua ở độ khó rất cao.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Sự nghiệp sớm[sửa | sửa mã nguồn]

Thibaut Courtois gia nhập câu lạc bộ Bilzen VV từ lúc 5 tuổi. Anh bắt đầu thi đấu ở vị trí hậu vệ cánh trái. Sau đó, vào năm 1999, anh gia nhập câu lạc bộ Racing Genk lúc 7 tuổi và cùng lúc đó anh chuyển sang thi đấu ở vị trí thủ môn

K.R.C. Genk[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 17 tháng 4 năm 2009, Thibaut Courtois gia nhập đội một của Racing Genk sau khi kết thúc thi đấu ở đội trẻ. Anh dần dần thể hiện được phong độ chói sáng và nhờ đó anh đã trở thành thủ môn bắt chính của đội bóng.

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 16 tháng bảy 2011, Genk đồng ý một khoản phí với câu lạc bộ Chelsea về cuộc chuyển nhượng của Thibaut Courtois với giá 7.9 triệu bảng.[1]

Cho mượn tới Atlético Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Chỉ sau vài ngày chuyển tới Chelsea, anh được cho mượn sang câu lạc bộ Atlético Madrid.

Trở lại Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2014, HLV José Mourinho xác nhận Courtois sẽ trở lại Chelsea cho mùa giải mới.[2] Anh được mặc áo số 13.[3] 18/8/2014 anh có trận đầu tiên bắt chính cho Chelsea trong trận thắng 3-1 trước Burnley.[4] Trở lại Chelsea, anh ngay lập tức lấy được lòng CĐV nhà và vị trí số một trong khung gỗ của Petr Cech. Khiến Cech phải dự bị trong thời gian dài.

Mùa giải 2011- 2012

Courtois ra mắt cho Atlético trong chiến thắng 4-0 tại đấu trường UEFA Europa League trong Vitória de Guimarães vào ngày 25 tháng 8, và ba ngày sau đó anh tiếp tục giữ sạch lưới ở trận đấu đầu tiền của mình tại La Liga, một trận hòa không bàn thắng với Osasuna tại sân vận động Vicente Calderón. Courtois đã trở thành sự lựa chọn hàng đầu khi người cạnh tranh suất đá chính với anh là Sergio Asenjo, tiếp với phong độ khá tốt, Courtois tiếp tục bốn lần giữ sạch lưới trong sáu trận đấu La Liga đầu tiên của mình. Ngày 26 Tháng 11 năm 2011, Courtois lần đầu tiên nhận thẻ đỏ trong sự nghiệp chuyên nghiệp của mình sau khi vào bóng với Karim Benzema của Real Madrid ở một tình huống nguy hiểm. Cristiano Ronaldo đặt hình phạt qua thủ môn thay thế Asenjo và trận đấu này Atlético mất ba điểm vào tay thầy trò Mourinho với tỉ số 1-4. Atlético đã giành được chức vô địch 2012 UEFA Europa League, và Courtois giữ sạch lưới khi CLB giành chiến thắng 3-0 trước CLB đồng quê hương Tây Ban Nha - Athletic Bilbao.

Mùa giải 2012- 2013

Với những gì mà chàng Thủ môn số một đem lại, Atlético tiếp tục mượn Courtois từ Chelsea F.C cho đến hết mùa giải 2012-2013. Trận đấu đầu tiên của anh với chính câu lạc mẹ của mình - Chelsea là một trận thắng đầy thuyết phục mà Courtois đã thi đấu. Chính là trận chung kết UEFA Super Cup ở Monaco năm 2012, mà kết thúc trong chiến thắng 4-1 cho Atletico Madrid. Sau đó, trong các đấu trường quốc nội và quốc ngoại, Courtois lập kỷ lục 820 phút giữ sạch lưới cho Atlético Madrid mà không thủng lưới bàn nào tại sân nhà Estadio Vicente Calderon, Kỉ lục này đã kết thúc bằng một trận thua tức tưởi 1-0 trước câu lạc bộ cửa dưới Real Sociedad. Năm 2013, Atlético giành được chiếc cúp Copa del Rey với chiến thắng 2-1 trước đối thủ cùng thành phố Real, lần đầu tiên Atlético đã đánh bại đối thủ thành phố của họ trong 14 năm và tất nhiên là cái tên Courtois được xướng lên như là người hùng của trận đấu.

Đời sống riêng tư[sửa | sửa mã nguồn]

Chị gái của Thibaut, Valérie, là một cầu thủ bóng chuyền[5] chơi ở vị trí libero [6] và đại diện cho tuyển quốc gia Bỉ trên đấu trường quốc tế. Bố mẹ anh cũng từng là cầu thủ bóng chuyền. Hồi còn nhỏ Courtois cũng có chơi, tuy nhiên tới năm 12 tuổi anh quyết định tập trung hoàn toàn vào bóng đá.

Bạn gái hiện tại của Courtois là Marta Dominguez, một nữ sinh 22 tuổi người Tây Ban Nha. Hai người gặp nhau tại một hộp đêm nơi Marta làm phục vụ. Cô hoàn toàn kín tiếng trước công chúng, không sử dụng Instagram hay Twitter và Facebook được để ở chế độ riêng tư, chưa từng trả lời một câu hỏi phỏng vấn nào về mối quan hệ tình cảm của hai người. Chỉ sau trận đấu giữa Atlético Madrid và Barca, sau khi tiếng còi kết thúc trận đấu vang lên với tỉ số 1-1, Courtois chạy tới hôn Marta - lúc đó chỉ là một cô gái hoàn toàn vô danh - thì giới truyền thông mới biết tới mối quan hệ của hai người.

Sự nghiệp thi đấu đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Vào ngày 3 tháng 6 năm 2011, Courtois có tên trong danh sách cầu thủ tham dự vòng loại Euro 2012 của đội tuyển Bỉ đấu với Kazakhstan (Bỉ thắng 4-1).Ngày 11/10/2011,anh cũng có tên trong danh sách tham dự vòng loại Euro 2012,nhưng một lần nữa anh bị bỏ trên băng ghế dự bị,trận đấu kết thúc,Bỉ thua 3-1.

Ngày 15/11/2011,lần đầu tiên Courtois được điền tên vào đội hình xuất phát trong trận đấu giao hữu với Pháp,anh trở thành thủ môn trẻ nhất từng chơi cho Đội tuyển Bỉ.

Ngày 30/5/2016, anh được huấn luyện viên Marc Wilmots triệu tập tham dự Euro 2016.

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 15 tháng 8, 2016[7][8]
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu[9] Cúp quốc gia[10] League Cup Châu Âu Khác Tổng cộng
Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn Trận Bàn
Genk 2008–09 1 0 0 0 1 0
2009–10 0 0 0 0 0 0 0 0 0 0
2010–11 40 0 1 0 3[a] 0 44 0
Tổng cộng 41 0 1 0 3 0 0 0 45 0
Atlético Madrid (mượn) 2011–12 37 0 0 0 15[a] 0 52 0
2012–13 37 0 8 0 1[b] 0 46 0
2013–14 37 0 5 0 12[c] 0 2[d] 0 56 0
Tổng cộng 111 0 13 0 28 0 2 0 154 0
Chelsea 2014–15 32 0 0 0 2 0 5[c] 0 39 0
2015–16 15 0 1 0 0 0 1[c] 0 1[e] 0 18 0
2016–17 3 0 0 0 0 0 3 0
Tổng cộng 58 0 3 0 2 0 8 0 1 0 72 0
Tổng cộng 210 0 17 0 2 0 39 0 2 0 271 0
  1. ^ a ă All appearances in Europa League
  2. ^ appearance in UEFA Super Cup
  3. ^ a ă â All appearances in UEFA Champions League
  4. ^ Appearance in Supercopa de España
  5. ^ Appearance in FA Community Shield

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 6 tháng 9, 2016[11][12]
Bỉ
Năm Trận Bàn
2011 1 0
2012 6 0
2013 7 0
2014 13 0
2015 6 0
2016 11 0
Tổng cộng 44 0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Genk
Atlético Madrid
Chelsea

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ [1]
  2. ^ [2]
  3. ^ [3]
  4. ^ [4]
  5. ^ http://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%B3ng_chuy%E1%BB%81n
  6. ^ “Bóng chuyền – Wikipedia tiếng Việt”. Truy cập 28 tháng 10 năm 2015. 
  7. ^ Thibaut Courtois tại Soccerway. Truy cập ngày 9 tháng 2 năm 2015.
  8. ^ “Thibaut Courtois Premier League Player Profile”. Premier League official website. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015. 
  9. ^ Bao gồm Belgian Pro League, La LigaPremier League
  10. ^ Bao gồm Belgian Cup, Copa del Rey, và FA Cup
  11. ^ Thibaut Courtois tại National-Football-Teams.com
  12. ^ “Thibaut Courtois – national football team player”. eu-football.info. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]