Karim Benzema

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Karim Benzema
Karim Benzema wearing Real Madrid home kit 2021-2022.jpg
Karim Benzema trong màu áo Real Madrid năm 2021
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Karim Mostafa Benzema[1]
Ngày sinh 19 tháng 12, 1987 (34 tuổi)[2]
Nơi sinh Lyon, Pháp
Chiều cao 1,85 m (6 ft 1 in)[3]
Vị trí Tiền đạo cắm
Thông tin câu lạc bộ
Đội hiện nay
Real Madrid
Số áo 9
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
1996–2005 Lyon
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2004–2006 Lyon B 20 (15)
2004–2009 Lyon 112 (43)
2009– Real Madrid 413 (218)
Đội tuyển quốc gia
2004 U-17 Pháp 2 (1)
2004–2005 U-18 Pháp 16 (36)
2005–2006 U-19 Pháp 9 (5)
2006–2007 U-21 Pháp 5 (0)
2007– Pháp 94 (31)
Thành tích
* Số trận ra sân và số bàn thắng ở câu lạc bộ chuyên nghiệp chỉ được tính cho giải quốc gia và chính xác tính đến 1 tháng 5 năm 2022
‡ Số trận ra sân và số bàn thắng ở đội tuyển quốc gia chính xác tính đến 16 tháng 11 năm 2021

Karim Mostafa Benzema (sinh ngày 19 tháng 12 năm 1987) là cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Pháp thi đấu ở vị trí tiền đạo cắm cho câu lạc bộ Tây Ban Nha Real Madridđội tuyển quốc gia Pháp. Một tiền đạo sáng tạo và hiệu quả được biết đến nhờ lối chơi và khả năng dứt điểm, Benzema được coi là một trong những tiền đạo xuất sắc nhất trong thế hệ của mình.

Sinh ra tại Lyon với cha mẹ là người Algeria, Benzema bắt đầu sự nghiệp của mình với câu lạc bộ quê hương Olympique Lyonnais vào năm 2005, đóng góp vào ba chức vô địch Ligue 1. Vào năm 2008, anh được vinh danh là Cầu thủ của năm và được chọn vào Đội hình tiêu biểu của năm khi anh kết thúc màu giải với tư cách là cầu thủ ghi bàn hàng đầu và giành chức vô địch quốc gia thứ tư trong sự nghiệp và danh hiệu Coupe de France đầu tiên. Năm 2009, Benzema trở thành bản hợp đồng kỷ lục Pháp khi ký hợp đồng với Real Madrid với bản hợp đồng chuyển nhượng trị giá 35 triệu euro. Sau những nỗ lực gây dựng tên tuổi của mình ở mùa giải đầu tiên, anh đạt được hiệu suất ghi bàn ổn định với câu lạc bộ, và đáng chú ý là trở thành một phần của bộ ba được đánh giá cao cùng với Cristiano RonaldoGareth Bale - được gọi là BBC - bộ ba không thể thiếu trong thời kỳ mà Real Madrid đã giành được bốn chức vô địch UEFA Champions League từ năm 2014–2018.

đội tuyển Pháp, Benzema đã giành được Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu 2004 và có trận ra mắt cho đội tuyển Pháp vào năm 2007 ở tuổi 19. Kể từ đó anh đã có hơn 90 lần ra sân cho đội tuyển và xuất hiện trong bốn giải đấu lớn: UEFA Euro các kỳ 2008, 20122020 cùng với FIFA World Cup 2014. Anh đã ghi bàn thắng đầu tiên của mình trong trận giao hữu với Áo và xếp thứ năm trong danh sách cầu thủ ghi bàn hàng đầu cho đội tuyển quốc gia của mình. Benzema đã gây tranh cãi khi bị loại khỏi đội hình tham dự FIFA World Cup 2010 và không thi đấu cho đội tuyển Pháp trong hơn 5 năm khi dính líu tới một vụ bê bối công khai liên quan đến tống tiền vào năm 2015. Anh trở lại đội hình tham dự Euro 2020.

Sự nghiệp câu lạc bộ

Olympique Lyonnais

Benzema là người Pháp gốc Algérie, trưởng thành từ lò đào tạo của câu lạc bộ Olympique Lyonnais. Anh bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp trong màu áo câu lạc bộ Olympique Lyonnais từ mùa giải 2004-05. Nhưng mùa giải đầu tiên chỉ là một sự thất vọng với Benzema khi anh không ghi được bàn thắng nào và thường xuyên phải ngồi ghế dự bị. Phải đến mùa giải 2006-07, Karim Benzema mới có mặt trong đội hình chính thức. Mùa giải 2007-08, anh ghi được 19 bàn ở Ligue I và lập 1 cú đúp vào lưới Glasgow Rangers cũng như 1 bàn vào lưới Manchester United tại UEFA Champions League. Kết thúc mùa giải 2007-08, anh được bầu chọn là cầu thủ xuất sắc nhất giải Ligue I. Xếp tiếp theo là tuyển thủ Senegal của Marseille, Mamadou Niang, tiền vệ của Lyon, Jérémy Toulalan và tiền vệ người Brasil, Wendel (Girondins de Bordeaux).

Do thành tích thi đấu như trên mà Benzema được nhiều câu lạc bộ nổi tiếng theo đuổi như Barcelona, Manchester United. Tuy nhiên, ngày 13 tháng 3 năm 2008, Benzema đã ký bản hợp đồng mới với Lyonnais theo đó anh sẽ thi đấu cho câu lạc bộ này đến năm 2013.[4] Sau khi hợp đồng được ký kết, Benzema trở thành một trong những cầu thủ được trả lương cao nhất tại Pháp.[5]

Karim Benzema đã khởi đầu mùa giải 2008-09 rất thành công khi lập cú đúp vào lưới Toulouse trong trận đầu tiên của Lyon tại Ligue 1 mùa giải 2008–09.[6] Nửa đầu mùa giải league 1, anh đã ghi được 10 bàn. Bàn thắng của anh vào lưới Caen trong chiến thắng 3–1 cuối mùa giải đã nâng tổng số bàn thắng cả mùa của anh lên con số 17, đưa anh lên vị trí thứ 2 trong các tay săn bàn xuất sắc nhất Ligue 1.[7] Tuy nhiên vào cuối mùa giải, Lyon của Benzema chỉ xếp thứ 3 chung cuộc và mất cơ hội giành chức vô địch Ligue 1 lần thứ 8 liên tiếp.

Tại UEFA Champions League 2008–09, Karim Benzema đã đóng góp cho Lyon 5 bàn thắng trong các trận đấu gặp Steaua Bucureşti (2 bàn)[8], Fiorentina (2 bàn),[9][10] và 1 bàn vào lưới Bayern Munich.[11]

Trước khi đến với câu lạc bộ Hoàng gia Tây Ban Nha Real Madrid, Benzema đã thi đấu cho Lyon trong 112 trận và ghi được 43 bàn thắng.năm 2013. Anh từng bị buộc tội cưỡng hiếp một cô người mẫu và suýt bị ngồi tù cùng Franck Ribéry

Real Madrid

Tháng 7 năm 2009, Real Madrid đã tạo ra một cú sốc trên thị trường chuyển nhượng khi chính thức có được Benzema ngay trước mặt Manchester United với bản hợp đồng trị giá 35 triệu Euro (có thể tăng lên 41 triệu Euro phụ thuộc vào thành tích và mức độ đóng góp)[12]. với mức giá 40 triệu Euro. Benzema là bản hợp đồng thứ tư của Real Madrid trong mùa hè 2009, sau Raul Albiol, Kaka, Cristiano Ronaldo.

Sau đó vào ngày 10 tháng 7, trước sự chứng kiến của gần 20.000 cổ động viên thành Madrid, Karim Benzema đã chính thức có màn ra mắt tại sân Bernabéu. Tuy nhiên, khác với màn ra mắt của Kaká, Raúl AlbiolCristiano Ronaldo, Benzema lại chưa nhận số áo chính thức vì anh đã khước từ chiếc áo số 19 của Klaas-Jan Huntelaar và đang chờ đợi đội bóng cấp cho anh chiếc áo số 10 ưa thích, khi đó đang thuộc sở hữu của Wesley Sneijder.[13]

Benzema có trận đấu đầu tiên cho Real Madrid vào ngày 20 tháng 7 trong trận giao hữu đầu mùa bóng với câu lạc bộ Ireland Shamrock Rovers tại Dublin.[14] Anh cũng chính là cầu thủ ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu ở phút thứ 87.[15] Ngày 24 tháng 8, Benzema đã đóng góp 2 bàn thắng trong chiến thắng 4–0 của Real trước câu lạc bộ Na Uy Rosenborg qua đó đoạt danh hiệu truyền thống Cúp Santiago Bernabeu.[16] Tổng cộng trong các trận giao hữu đầu mùa, Benzema đã có 5 bàn thắng, đứng đầu danh sách ghi bàn cùng với Raúl.[17]

Benzema có trận đấu đầu tiên tại La Liga vào ngày 29 tháng 8 với Deportivo de La Coruña.[18] Anh có bàn thắng chính thức đầu tiên vào ngày 20 tháng 9 với pha lập công nâng tỉ số lên 4-0 trong chiến thắng 5-0 trước Xerez.[19][20] Ngày 30 tháng 1, Benzema đã chấm dứt cơn khát bàn thắng hơn hai thắng bằng cú đúp vào lưới Deportivo, giúp Real chấm dứt 19 năm không thắng trên sân Riazor.[21]

Từ năm 2010 đến 2019, Benzema cùng đội Real Madrid C.F. có 18 danh hiệu, trong đó: 4 lần vô địch UEFA Champions League, 6 lần vô địch Copa Del Rey, 2 lần vô địch Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ và 3 Siêu cúp bóng đá Tây Ban Nha.

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia

Năm 2004, Benzema cùng đội tuyển U-17 Pháp giành cúp vô địch giải U-17 châu Âu[22]. Đến năm 2006, lần đầu tiên Benzema được huấn luyện viên trưởng Raymond Domenech triệu tập vào đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp, năm anh mới 18 tuổi. Trong trận đầu tiên thi đấu cho đội tuyển vào tháng 3 năm 2007, Benzema đã ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu vào lưới đội tuyển Áo chỉ sau 8 phút được vào sân.[23] Bàn thắng thứ hai của anh đến trong trận Pháp thắng quần đảo Faroe 6-0.

Euro 2008 là cơ hội để tiền đạo này toả sáng khi anh được huấn luyện viên Raymond Domenech đưa vào đội hình chính thức. Trận đầu tiên gặp Romania, Benzema đá cặp với Nicolas Anelka nhưng cả hai đều chơi rất cá nhân chứ không chịu phối hợp với nhau nên đều bị thay ra trong hiệp 2. Đến trận gặp đội tuyển Ý anh lại được ra sân ngay từ đầu nhưng vẫn không tìm được bàn thắng và Benzema rời Euro 2008 khi không ghi được bàn nào.[24] Ngày 13 tháng 5 năm 2010, Benzema đã không có tên trong danh sách sơ bộ 30 cầu thủ Pháp tham dự World Cup 2010 do mất phong độ và bất đồng với Domenech.[25]

Thống kê sự nghiệp

Quốc tế

Tính đến ngày 16 tháng 11 năm 2021[26]
Đội tuyển quốc gia Năm Trận Bàn
Pháp 2007 8 3
2008 11 2
2009 8 3
2010 5 3
2011 10 2
2012 12 2
2013 10 3
2014 13 7
2015 4 2
2016 0 0
2017 0 0
2018 0 0
2019 0 0
2020 0 0
2021 13 9
Tổng cộng 94 36

Bàn thắng quốc tế

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1 28 tháng 3 năm 2007 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Áo 1–0 1–0 Giao hữu
2 13 tháng 10 năm 2007 Tórsvøllur, Tórshavn, Quần đảo Faroe  Quần đảo Faroe 3–0 6–0 Vòng loại Euro 2008
3 5–0
4 20 tháng 8 năm 2008 Ullevi, Göteborg, Thụy Điển  Thụy Điển 1–1 3–2 Giao hữu
5 14 tháng 10 năm 2008 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Tunisia 3–1 3–1
6 5 tháng 6 năm 2009 Sân vận động Gerland, Lyon, Pháp  Thổ Nhĩ Kỳ 1–0 1–0
7 10 tháng 10 năm 2009 Sân vận động Roudourou, Guingamp, Pháp  Quần đảo Faroe 5–0 5–0 Vòng loại World Cup 2010
8 14 tháng 10 năm 2009 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Áo 1–0 3–1
9 7 tháng 9 năm 2010 Sân vận động Koševo, Sarajevo, Bosna và Hercegovina  Bosna và Hercegovina 1–0 2–0 Vòng loại Euro 2012
10 12 tháng 10 năm 2010 Sân vận động Saint-Symphorien, Metz, Pháp  Luxembourg 1–0 2–0
11 17 tháng 11 năm 2010 Sân vận động Wembley, Luân Đôn, Anh  Anh 1–0 2–1 Giao hữu
12 9 tháng 2 năm 2011 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Brasil 1–0 1–0
13 2 tháng 9 năm 2011 Sân vận động Qemal Stafa, Tirana, Albania  Albania 1–0 2–1 Vòng loại Euro 2012
14 5 tháng 6 năm 2012 MMArena, Le Mans, Pháp  Estonia 2–0 4–0 Giao hữu
15 3–0
16 11 tháng 10 năm 2013 Sân vận động Công viên các Hoàng tử, Paris, Pháp  Úc 6–0 6–0
17 15 tháng 10 năm 2013 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Phần Lan 3–0 3–0 Vòng loại World Cup 2014
18 19 tháng 11 năm 2013 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Ukraina 2–0 3–0 Vòng loại play-off World Cup 2014
19 5 tháng 3 năm 2014 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Hà Lan 1–0 2–0 Giao hữu
20 8 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Pierre-Mauroy, Villeneuve-d'Ascq, Pháp  Jamaica 3–0 8–0
21 5–0
22 15 tháng 6 năm 2014 Sân vận động Beira-Rio, Porto Alegre, Brasil  Honduras 1–0 3–0 World Cup 2014
23 3–0
24 20 tháng 6 năm 2014 Itaipava Arena Fonte Nova, Salvador, Brasil  Thụy Sĩ 4–0 5–2
25 11 tháng 10 năm 2014 Stade de France, Saint-Denis, Pháp  Bồ Đào Nha 1–0 2–1 Giao hữu
26 8 tháng 10 năm 2015 Allianz Riviera, Nice, Pháp  Armenia 3–0 4–0
27 4–0
28 23 tháng 6 năm 2021 Puskás Aréna, Budapest, Hungary  Bồ Đào Nha 1–1 2–2 Euro 2020
29 2–1
30 28 tháng 6 năm 2021 Arena Națională, Bucharest, România  Thụy Sĩ 1–1 3–3 (s.h.p.)
31 2–1
32 7 tháng 10 năm 2021 Sân vận động Juventus, Torino, Ý  Bỉ 1–2 3–2 Vòng chung kết UEFA Nations League 2021
33 10 tháng 10 năm 2021 San Siro, Milano, Ý  Tây Ban Nha 1–1 2–1 Chung kết UEFA Nations League 2021
34 13 tháng 11 năm 2021 Sân vận động Công viên các Hoàng tử, Paris, Pháp  Kazakhstan 4–0 8–0 Vòng loại World Cup 2022
35 5–0
36 16 tháng 11 năm 2021 Sân vận động Olympic Helsinki, Helsinki, Phần Lan  Phần Lan 1–0 2–0

Danh hiệu

Lyon[27]

Real Madrid[27]

U17 Pháp

Pháp

Cá nhân

  • Giải thưởng Bravo: 2008
  • Cầu thủ bóng đá Pháp của năm: 2011, 2012, 2014

Tham khảo

  1. ^ “Acta del Partido celebrado el 20 de marzo de 2016, en Madrid” [Minutes of the Match held on 20 March 2016, in Madrid] (bằng tiếng Tây Ban Nha). Royal Spanish Football Federation. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2019.
  2. ^ “FIFA Club World Cup UAE 2017: List of players: Real Madrid CF” (PDF). FIFA. 16 tháng 12 năm 2017. tr. 5. Truy cập ngày 23 tháng 12 năm 2017.
  3. ^ “Real Madrid C.F. – Karim Benzema”. Real Madrid C.F. Truy cập ngày 18 tháng 11 năm 2017.
  4. ^ “ESPNsoccernet - Europe - Benzema extends Lyon contract until 2013”. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 10 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2008.
  5. ^ Benzema becomes one of the highest paid footballers in France: He is sticking to his club until 2013 - Football - Sport competitions - France - International - Africa
  6. ^ “Lyon v. Toulouse Match Report”. Ligue de Football Professionel. 10 tháng 8 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 4 năm 2009. Truy cập 25 tháng 6 năm 2009.
  7. ^ “Lyon v. Caen Match Report”. Ligue de Football Professionel. 23 tháng 5 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 6 năm 2009. Truy cập 25 tháng 6 năm 2009.
  8. ^ “Lyon prove too strong for valiant Steaua”. Union of European Football Associations. 21 tháng 10 năm 2008. Truy cập 25 tháng 6 năm 2009.
  9. ^ “Lyon fight back denies Fiorentina”. Union of European Football Associations. 17 tháng 9 năm 2008. Truy cập 25 tháng 6 năm 2009.
  10. ^ “Benzema leads Lyon onwards”. Union of European Football Associations. 25 tháng 11 năm 2008. Truy cập 25 tháng 6 năm 2009.
  11. ^ “Bayern hold on to edge past Lyon”. Union of European Football Associations. 10 tháng 12 năm 2008. Truy cập 25 tháng 6 năm 2009.
  12. ^ Real "tậu" Benzema ngay trước mũi M.U
  13. ^ Benzema chính thức ra mắt tại Real Madrid
  14. ^ “Benzema saves Real Madrid in Dublin”. Yahoo Eurosport. 20 tháng 7 năm 2009. Truy cập 20 tháng 7 năm 2009.
  15. ^ “Ronaldo quiet as Rovers almost hold off Real”. ESPN. 20 tháng 7 năm 2009. Truy cập 20 tháng 7 năm 2009.
  16. ^ "Hủy diệt" Rosenborg, Real Madrid đoạt Bernabeu Cup
  17. ^ “Led by Benzema, Real Madrid cruises past Rosenborg 4-0 in pre-season”. The Canadian Press. ngày 24 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2009.
  18. ^ Cristóbal, Carlos (ngày 29 tháng 8 năm 2009). “3-2: Los goles de Raúl, Cristiano y Lass dan al Real Madrid sus primeros tres puntos en Liga”. Real Madrid (bằng tiếng Tây Ban Nha). Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2009.
  19. ^ “Ronaldo tỏa sáng, Real Madrid nghiền nát Xerez”. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 3 năm 2010.
  20. ^ Real Madrid 5 - 0 Xerez
  21. ^ Pháo Benzema thông nòng, Real bắn tan Super Depor
  22. ^ “France 2-1 Spain line-ups”. Union of European Football Associations. ngày 15 tháng 5 năm 2004. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2009.
  23. ^ Vignal, Patrick (ngày 28 tháng 3 năm 2007). “Debutant Benzema gives France win over Austria”. Reuters. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2009.
  24. ^ Winter, Henry (ngày 18 tháng 6 năm 2008). “Italy expose French frailties”. The Telegraph. London. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2009.
  25. ^ Dương Châu (ngày 13 tháng 5 năm 2010). “Karim Benzema bị loại khỏi Đội tuyển Pháp tham dự World Cup”. Hanoimoi.com. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2011.
  26. ^ “Benzema, Karim”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 10 tháng 6 năm 2014.
  27. ^ a b “K. Benzema”. Soccerway. Truy cập ngày 30 tháng 5 năm 2016.
  28. ^ “Real Madrid win the longest LaLiga Santander season”. Marca. 17 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2021.
  29. ^ “Karim Benzema axed from france euro 2016 squad”. Telegraph. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2021.
  30. ^ “France beat Spain to win Nations League”. UEFA. 10 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2021.

Liên kết ngoài