Real Madrid C.F.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Real Madrid CF
Logo
Tên đầy đủ Real Madrid Club de Fútbol
Biệt danh Los Blancos
Los Merengues
Los Vikingos (Những người Viking)[1]
Thành lập 6 tháng 3, 1902; 115 năm trước
với tên Madrid Football Club[2]
Sân vận động Santiago Bernabéu
Sức chứa
sân vận động
81.044[3]
Chủ tịch Tây Ban Nha Florentino Pérez
Huấn luyện viên Pháp Zinedine Zidane
2016-17 Thứ 1
Website Trang chủ của câu lạc bộ
Sân khách
Khác

Real Madrid Club de Fútbol (Câu lạc bộ Bóng đá Hoàng gia Madrid), thường được gọi là Real Madrid, là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp tại Madrid, Tây Ban Nha. Đội bóng mặc màu áo trắng truyền thống từ khi được thành lập vào ngày 6 tháng 3 năm 1902 với tên gọi Câu lạc bộ Bóng đá Madrid. Từ Real có nghĩa là Hoàng gia và đã được vua Alfonso XIII phong cho câu lạc bộ vào năm 1920 cùng chiếc vương miện trong logo của đội. Câu lạc bộ đã trở thành một thế lực lớn trên đấu trường trong nước và châu Âu từ những năm 1950.

Real Madrid được bình chọn là đội bóng vĩ đại nhất thế kỷ 20. CLB hiện đang giữ kỷ lục với 12 danh hiệu European Cup/UEFA Champions League. Không giống như hầu hết các câu lạc bộ bóng đá khác ở châu Âu, những thành viên của Real Madrid (thường được gọi là socios) đã sở hữu và điều hành đội bóng từ khi thành lập. Câu lạc bộ có giá trị ước tính khoảng 3,24 tỉ € (khoảng 3,65 tỉ $) vào năm 2015 và tính tới mùa giải 2014-2015 là câu lạc bộ thương mại thành công nhất với lợi nhuận đạt 577 triệu €.[4][5][6] Real Madrid cũng là một trong những câu lạc bộ bóng đá có số lượng người hâm mộ đông đảo nhất thế giới.[7]

Real Madrid có nhiều kình địch, nổi bật nhất là Barcelona cùng những trận El Clásico (hay còn gọi là Siêu kinh điển) giữa 2 đội. Sân nhà của đội từ năm 1947 là Sân vận động Santiago Bernabéu tại quận Chamartín, trung tâm thành phố Madrid. Sân được khánh thành ngày 14 tháng 12 năm 1947 với sức chứa hiện nay là 85.454 khán giả và kích thước đường chạy là 106x72 mét.

Cùng với Athletic BilbaoBarcelona, Real Madrid là một trong ba đội bóng chưa bao giờ bị xuống hạng ở giải đấu hạng nhất Tây Ban Nha. Ở đấu trường quốc nội, câu lạc bộ đã giành được kỉ lục 33 chức vô địch La Liga, 19 Cúp Nhà vua Tây Ban Nha, 10 Siêu cúp Tây Ban Nha, 1 Copa Eva Duarte và 1 Copa de la Liga.[8] Ở đấu trường quốc tế, Real Madrid lập kỉ lục 12 danh hiệu European Cup/UEFA Champions League, đồng kỉ lục với 3 Cúp liên lục địa, 2 Cúp UEFA Europa League, 4 Siêu cúp châu Âu và 2 FIFA Club World Cup.

Năm 2017, Read Madrid đã giành chiến thắng trước Juventus với tỉ số 4-1 để trở thành đội bóng đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch UEFA Champions League.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu tiên(1897–1945)[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình Real Madrid năm 1905

Khởi đầu của Real Madrid bắt đầu khi bóng đá được mang tới thành Madrid bởi những giảng viên và sinh viên của Học viện Tự do, trong đó có nhiều người đến từ CambridgeOxford. Họ thành lập Câu lạc bộ Bóng đá Sky vào năm 1897, thi đấu vào những buổi sáng Chủ nhật tại Moncloa. Câu lạc bộ tách ra làm hai vào năm 1900: Câu lạc bộ bóng đá Madrid mớiCâu lạc bộ Madrid.[9] Vào ngày 6 tháng 3 năm 1902, sau khi hội đồng mới đứng đầu là Juan Padrós được bầu ra, Câu lạc bộ Bóng đá thành Madrid được chính thức thành lập.[2] Ba năm sau, vào năm 1905, Madrid FC giành được danh hiệu đầu tiên khi đánh bại Athletic Bilbao trong trận chung kết Cup Nhà vua Tây Ban Nha. Câu lạc bộ trở thành một trong những thành viên đầu tiên của Liên đoàn Bóng đá Hoàng gia Tây Ban Nha vào ngày 4 tháng 1 năm 1909, khi chủ tịch câu lạc bộ Adolfo Meléndez ký thỏa thuận thành lập Hiệp hội Bóng đá Tây Ban Nha. Đội bóng bắt đầu chuyển sang sử dụng sân Campo de O'Donnell vào năm 1912.[10] Năm 1920, câu lạc bộ đổi tên thành Real Madrid sau khi được Vua Alfonso XIII đứng ra bảo hộ và phong tước vị "Hoàng gia".[11]

Năm 1929, Giải Vô địch Quốc gia Tây Ban Nha được thành lập. Real Madrid dẫn đầu mùa giải đầu tiên cho tới trận đấu cuối cùng, thất bại trước Athletic Bilbao khiến đội chỉ xếp ở vị trí thứ 2 sau Barcelona.[12] Đội bóng giành được chức Vô địch Quốc gia vào mùa giải 1931–1932 và trở thành đội đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch ở mùa giải tiếp theo.[13]

Ngày 14 tháng 4 năm 1938, đội bóng mất danh xưng Real và dùng lại tên Madrid C.F. vì sự ra đời của nền Cộng hòa ở Tây Ban Nha. Bóng đá được vẫn được diễn ra trong Thế chiến 2 và vào ngày 13 tháng 6 năm 1943, Madrid đè bẹp Barcelona 11–1 trong trận lượt về bán kết[14] Cúp Nhà vua Tây Ban Nha. Có người cho rằng những cầu thủ đã bị đe dọa bởi chính quyền,[15] như việc Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã "khẳng định với đội bóng rằng một vài người trong số họ còn chơi bóng chẳng qua là nhờ sự rộng lượng của chế độ này cho phép họ có mặt tại đất nước."[16](tr26) Chủ tịch Barcelona, Enric Piñeyro, đã bị hành hung bởi các cổ động viên Madrid.[17](tr284)

Santiago Bernabéu Yeste và thành công ở châu Âu (1945–1978)[sửa | sửa mã nguồn]

Amancio Amaro, đội trưởng của Yé-yé.

Santiago Bernabéu Yeste trở thành chủ tịch Real Madrid năm 1945.[18] Dưới thời ông, câu lạc bộ, sân nhà Santiago Bernabéu và sân tập Ciudad Deportiva được tu sửa lại sau khi bị hư hại trong cuộc nội chiến. Từ năm 1953, ông đưa về Madrid một loạt các cầu thủ ngoại đẳng cấp thế giới mà tiêu biểu nhất chính là Alfredo Di Stéfano.[19]

Năm 1955, dựa trên ý tưởng của tổng biên tập tờ báo thể thao Pháp L'Équipe Gabriel Hanot, Bernabéu, Bedrignan và Gusztáv Sebes khởi xướng một giải đấu thường niên kêu gọi tất cả các đội bóng châu Âu tham dự, giải đấu mà ngày nay được biết đến dưới tên UEFA Champions League.[20] Dưới thời Bernabéu, Real Madrid trở thành một thế lực hùng mạnh của cả bóng đá Tây Ban Nha nói riêng và châu Âu nói chung. Đội bóng đoạt năm Cúp châu Âu từ năm 1956 đến năm 1960, trong đó có chiến thắng 7-3 trước Eintracht Frankfurt trong trận chung kết Cúp châu Âu mùa 1959-1960 trên sân Hampden Park.[19] Sau năm thành công liên tiếp, Real được phép giữ phiên bản thật của chiếc Cup, và có quyền in Huy chương Danh dự của UEFA lên áo thi đấu.[21] Real Madrid dành chiếc cup thứ sáu mùa 1965-1966 khi đánh bại FK Partizan 2–1 trong trận chung kết với một đội hình mà tất cả các cầu thủ đều có cùng quốc tịch.[22] Đội hình ấy được gọi là Yé-yé. Cái tên "Ye-yé" xuất phát từ đoạn điệp khúc "Yeah, yeah, yeah" trong bài hát "She Loves You" của The Beatles sau khi bốn thành viên của đội chụp hình cho tờ Marca với những bộ tóc giả trên đầu. Thế hệ Ye-yé cũng là Á quân các kì Cúp châu Âu 1962 và 1964.[22]

Vào những năm 1970s, Real Madrid dành thêm 5 danh hiệu La Liga và 3 Cúp nhà Vua.[23] Đội bóng lọt vào trận chung kết UEFA Cup lần đầu tiên vào năm 1971 và thất bại trước đội bóng Anh là Chelsea với tỉ số 1-2.[24] Ngày 2 tháng 7 năm 1978, chủ tịch câu lạc bộ Santiago Bernabéu qua đời khi World Cup đang được tổ chức tại Argentina. Liên đoàn bóng đá thế giới FIFA quyết định để tang ba ngày trong thời gian diễn ra giải đấu để vinh danh ông.[25] Mùa giải sau đó, câu lạc bộ tổ chức Cúp Santiago Bernabéu đầu tiên để tưởng nhớ vị cố chủ tịch.

Quinta del Buitre và Cúp châu Âu thứ 5 (1980–2000)[sửa | sửa mã nguồn]

Logo CLB xuất sắc nhất XX.
Danh hiệu CLB xuất sắc nhất XX.

Đầu những năm 1980s, Real Madrid mất đi vị thế của mình ở La Liga cho đến khi một nhóm những ngôi sao "cây nhà lá vườn" mang thành công ở đấu trường quốc nội tới câu lạc bộ.[26] Phóng viên thể thao người Tây Ban Nha Julio César Iglesias đặt cho thế hệ cầu thủ ấy cái tên La Quinta del Buitre (Tạm dịch là "Năm con Kền kền") lấy từ biệt danh của một trong những cầu thủ, Emilio Butragueño. Bốn người còn lại là Manuel Sanchís, Martín Vázquez, MíchelMiguel Pardeza.[27] Với La Quinta del Buitre (chỉ còn bốn thành viên sau khi Pardeza chuyển tới Zaragoza năm 1986) cùng những trụ cột như thủ môn Francisco Buyo, hậu vệ phải Miguel Porlán Chendo và tiền đạo người México Hugo Sánchez, Real Madrid sở hữu một trong những đội hình xuất sắc nhất Tây Ban Nha và châu Âu suốt nửa cuối thập kỉ 80, đoạt 2 cúp UEFA, 5 chức La LigaVô địch Tây Ban Nha liên tiếp, 1 Cúp nhà Vua và 3 Siêu cúp Tây Ban Nha.[27] Đầu những năm 1990s, La Quinta del Buitre chia rẽ sau khi Martín Vázquez, Emilio Butragueño và Míchel rời khỏi câu lạc bộ.

Năm 1996, Chủ tịch Lorenzo Sanz chỉ định Fabio Capello làm huấn luyện viên của đội. Dù nhiệm kỳ của ông chỉ kéo dài đúng một mùa, Real Madrid vẫn khẳng định được vị thế nhà vô địch. Những cầu thủ như Roberto Carlos, Predrag Mijatović, Davor ŠukerClarence Seedorf được đưa về để củng cố đội hình vốn đã hùng mạnh với những Raúl, Fernando Hierro, Iván Zamorano, và Fernando Redondo. Kết quả, Real Madrid (với sự gia nhập của Fernando Morientes năm 1997) cuối cùng cũng kết thúc 32 năm mòn mỏi chờ đợi chiếc Cúp châu Âu thứ bảy. Năm 1998, dưới sự dẫn dắt của Jupp Heynckes, đội bóng áo trắng đánh bại Juventus 1–0 trong trận chung kết nhờ bàn thắng của Predrag Mijatović.[28]

Tháng 12 năm 2000, Real Madrid được bầu chọn là câu lạc bộ châu Âu xuất sắc nhất thế kỉ XX với 42.35 % số phiếu, vượt xa so với Manchester United chỉ với 9.69%.

Los Galácticos (Dải ngân hà) (2000-2006)[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm về nội dung này tại Galáctico.

Tháng 7 năm 2000, Florentino Pérez được bầu làm chủ tịch câu lạc bộ.[29] Ông tuyên bố trong chiến dịch tranh cử của mình sẽ xóa bỏ khoản nợ 270 triệu Euro của câu lạc bộ và nâng cấp cơ sở vật chất cho đội. Dù vậy, lời hứa quan trọng nhất của ông đã thành công khi đưa về Luís Figo.[30] Năm tiếp theo, đội bóng tái phân vùng khu tập luyện và bắt đầu tập hợp Dải ngân hà Galáctico nổi tiếng với những gương mặt lẫy lừng như Zinédine Zidane, Ronaldo, Luís Figo, Roberto Carlos, RaúlDavid Beckham. Không thể phủ nhận đây là một canh bạc lớn khi đội bóng không thể giành được danh hiệu gì trong ba mùa giải sau khi dành một cúp UEFA Champions League, 1 Cúp liên lục địa năm 2002 và La Liga năm 2003.[31]

Những ngày sau chiến thắng của đội bóng tại giải vô địch quốc gia 2003 diễn ra một loạt các cuộc tranh cãi. Đầu tiên là khi Perez sa thải vị huấn luyện viên vừa mang vinh quang về cho đội sau khi Giám đốc Thể thao của Real khẳng định rằng del Bosque không phải người thích hợp cho công việc này; rằng họ cần một người trẻ hơn để cải tổ đội bóng. Bầu không khí căng thẳng tiếp tục khi huyền thoại đội trưởng Fernando Hierro rời bỏ câu lạc bộ sau một sự bất đồng ý kiến với ban giám đốc, theo chân là Steve McManaman.

Dù vậy, đội bóng vẫn lên đường đi thi đấu giao hữu chuẩn bị cho mùa giải sau ở châu Á và giới thiệu bản hợp đồng mới: David Beckham. Perez và ban giám đốc từ chối gia hạn hợp đồng và tăng lương Claude Makélélé. Makelele cảm thấy thất vọng và chuyển đến Chelsea F.C. Vào những ngày cuối cùng của thị trường chuyển nhượng, Fernando Morientes ra đi theo dạng cho mượn đến Monaco. Real Madrid, với sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới Carlos Queiroz, bắt đầu mùa giải La Liga một cách chậm chạp với chiến thắng nhọc nhằn trước Real Betis.

Mùa giải 2005-06 khởi đầu với một loạt những bản hợp đồng đầy hứa hẹn - Julio Baptista (20 triệu Euro), Robinho (30 triệu Euro) và Sergio Ramos (30 triệu Euro - Điều khoản phá vỡ hợp đồng) - nhưng vị huấn luyện viên người Brazil không thể tìm ra đội hình phù hợp. Real Madrid tiếp diễn màn trình diễn nghèo nàn với thất bại nhục nhã trước F.C. Barcelona trên sân nhà Santiago Bernabéu. Luxemburgo từ chức và được thay thế bởi Juan Ramón López Caro, huấn luyện viên đội B là Real Madrid Castilla lúc bấy giờ.

Thay đổi không hề đem lại làn gió mới mà thay vào đó là thất bại 1-6 trước Real Zaragoza ở lượt đi tứ kết Cúp nhà Vua. Một thời gian ngắn sau đó, Real Madrid bị loại khỏi Champions League năm thứ tư liên tiếp sau khi thua Arsenal. Ngày 27 tháng 2 năm 2006, Florentino Pérez từ chức.[32]

Thời Ramón Calderón (2006-2009)[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ Real Madrid ăn mừng chức vô địch Siêu cúp Tây Ban Nha năm 2008.

Ramón Calderón được bầu làm chủ tịch câu lạc bộ ngày 2 tháng 7 năm 2006 đồng thời chỉ định Fabio Capello làm huấn luyện viên mới và Predrag Mijatović làm Giám đốc Thể thao. Real Madrid đoạt danh hiệu La Liga đầu tiên trong 4 năm vào năm 2007.[33] Ngày 9 tháng 6 năm 2007, Real làm khách của Zaragoza tại La Romareda. Trận đấu khởi đầu một cách tệ hại khi Real Madrid phải thay đổi đội hình chỉ vài phút trước giờ bóng lăn sau khi hậu vệ trẻ Miguel Torres gặp phải chấn thương gân kheo khi khởi động. Zaragoza dẫn trước Real 2-1 cho đến gần cuối trận trong khi Barcelona cũng đang dẫn trước Espanyol 2-1. Cơ hội vô địch của Kền kền trắng xem như đã chấm hết. Thế nhưng, hai bàn thắng của Ruud van Nistelrooy vào lưới Zaragoza và của Raúl Tamudo vào lưới Barca trong những phút cuối đã đem lại hy vọng cho Real Madrid. Sevilla lúc đó bị Mallorca cầm chân với tỉ số 0-0. Vậy là chiến thắng trước Mallorca trên sân nhà ở vòng sau sẽ mang lại cho đội bóng áo trắng danh hiệu La Liga thứ 30.

Ngày 17 tháng 6, Real đối mặt với Mallorca trên sân Bernabéu trong khi BarcelonaSevilla lần lượt gặp Gimnàstic de TarragonaVillarreal. Real bị dẫn 0-1 ở hiệp 1, trong khi Barcelona dẫn 3-0 trên sân Tarragona; nhưng ba bàn thắng trong vòng 30 phút cuối đã đem chiến thắng 3-1 tới cho Real Madrid và danh hiệu quốc nội đầu tiên từ năm 2003. Reyes ghi bàn mở tỉ số sau đường kiến tạo của Higuaín. Một pha phản lưới nhà và một bàn thắng tuyệt đẹp khác của Reyes báo hiệu giờ ăn mừng đã tới với đội bóng áo trắng. Hàng ngàn cổ động viên của Real Madrid đã bắt đầu diễu hành đến Quảng trường Cibeles để ăn mừng chức vô địch.[34]

Bước qua mùa giải 2007-08, Real Madrid tiếp tục thể hiện sức mạnh ở đấu trường trong nước khi bảo vệ thành công danh hiệu La Liga, qua đó họ có được danh hiệu quốc nội lần thứ 31. Mùa giải này Real đã thuyết phục vượt qua Barcelona trong cả hai lượt trận. Tại Nou Camp, Real Madrid đã ra về với 3 điểm trong tay khi hạ đại kình địch với tỷ số 1-0 nhờ bàn thắng duy nhất của Julio Baptista. Ở trận lượt về trên sân Bernabeu, Real Madrid với tư cách bảo vệ thành công ngôi vô địch đã xuất sắc đè bẹp Barca với tỷ sộ đậm 4-1 qua đó xếp thứ nhất chung cuộc, trong khi đại kình địch chỉ về với vị trí thứ 3. Tại Cup Nhà Vua, bất ngờ đã xảy ra khi đội bóng hoàng gia đã sớm bị loại khỏi sân chơi bởi câu lạc bộ Mallorca với tổng tỉ số 3-1. Ở Cup châu Âu năm 2007-08, Real Madrid cũng tiến vào vòng 1/16 với vị trí nhất bảng cùng thành tích thắng 3 hòa 2 thua 1. Họ gặp đối thủ đến từ Ý là câu lạc bộ AS Roma. Mặc dù được đánh giá cao nhưng Real Madrid không thể lọt vào vòng tứ kết khi để thua Roma ở cả hai lượt trận với cùng tỷ số 2-1.

Sang mùa giải 2008-09, với sự mạnh lên của kình địch Barcelona, Real Madrid không còn đủ sức cạnh tranh danh hiệu với đối thủ và phải trắng tay trên mọi mặt trận. Đầu tiên họ thất bại 0-2 trước kình địch Barca ở trận Siêu kinh điển diễn ra tại Nou Camp, nhưng nhục nhã nhất là ở trận lượt về, khi ấy Real Madrid đã để lọt lưới đến 6 bàn trong trận thua 2-6 tại Bernabeu, trận thua đậm nhất của Real trước Barca trong những năm gần đây. Ở Cup nhà Vua, Real cũng sớm phải rời giải sau trận thua trước đội bóng được đánh giá thấp hơn, Real Union. Tại UEFA Champions League, Real Madrid cũng lọt vào vòng 1/16 gặp Liverpool, ở trận lượt đi họ đã để thua các vị khách đến từ nước Anh với tỷ số 0-1, trận lượt về Real Madrid thảm bại 0-4 trên sân Anfield, qua đó kết thúc một mùa giải trắng tay và thua toàn diện trước đại kình địch Barca.

Kỷ nguyên thứ hai của Pérez và Mourinho (2009–2013) (Los Galácticos 2.0)[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 1 tháng 6 năm 2009, Florentino Pérez bắt đầu nhiệm kỳ thứ hai trên cương vị chủ tịch câu lạc bộ.[35][36] Ông tiếp tục với chính sách xây dựng đội hình Galácticos bằng việc đem Kaká về từ A.C. Milan[37] rồi ký hợp đồng mua Cristiano Ronaldo từ Manchester United với giá kỷ lục 80 triệu Bảng. Nhưng trong mùa giải 2009-10, Real Madrid lại thất bại trên mọi mặt trận, tiếp tục đứng sau kình địch Barcelona khi để thua cả hai lượt trận, thua 0-1 ở lượt đi và 0-2 ở lượt về, nhanh chóng bị loại khỏi cúp châu Âu trước câu lạc bộ của Pháp, Olympique Lyon tại vòng 1/16 và trận thua sốc 0-4 trước đội bóng tí hon Alcorcon. Tháng 4 năm 2010, HLV Manuel Pellegrini bị sa thải. Sau mùa giải đó, huyền thoại Raul González từ giã đội bóng.

Tháng 5 năm 2010 José Mourinho trở thành huấn luyện viên trưởng. Real Madrid dưới sự dẫn dắt của Người đặc biệt Mourinho chơi rất tốt tại Giải vô địch quốc gia cũng như giải châu Âu, tuy nhiên đến trận siêu kinh điểm lượt đi diễn ra tại Nou Camp, Real của Mourinho đã phải nhận thất bại muối mặt 0-5 trước Barca, Sergio Ramos lĩnh thẻ đỏ cùng với phong độ nhạt nhòa của Cristiano Ronaldo. Từ đó Real phải xếp sau Barcelona ở La Liga. Tháng 4 năm 2011, một sự kiện hiếm có diễn ra khi lần đầu tiên, 4 trận Siêu kinh điển diễn ra liên tiếp trong vòng 8 ngày. Trận đầu tiên trong khuôn khổ La Liga diễn ra ngày 17 tháng 4 (kết thúc với tỉ số hòa 1-1 từ 2 quả penalty), trận chung kết Cúp nhà Vua (Real thắng 1-0) và hai lượt trận bán kết Champions League đầy tranh cãi vào 27 tháng 4 và 2 tháng 5 (Real thua 1-3 sau cả hai lượt).

Trận Siêu kinh điển đầu tiên chứng kiến bàn thắng đầu tiên của Cristiano Ronaldo vào lưới Barcelona bằng một quả penalty sau pha phạm lỗi với Marcelo trong vòng cấm. Trận chung kết Cup nhà Vua mang lại cho Real Madrid danh hiệu đầu tiên dưới thời Mourinho với một cú đánh đầu của Cristiano Ronaldo trong khoảng thời gian bù giờ. Hai trận bán kết Champions League có lẽ chính là những trận gây tranh cãi nhiều nhất sau khi Pepe bị truất quyền thi đấu trong trận lượt đi trên sân Santiago Bernabéu, sau khi anh được cho là đã thực hiện một pha tranh bóng nguy hiểm đối với hậu vệ Barcelona Dani Alves. Alves đã được đưa lên cáng để đưa ra khỏi sân với lý do anh "không thể tự đi được". Nhưng sau khi Pepe nhận thẻ đỏ một thời gian rất ngắn, Alves đã trở lại sân thi đấu. Sau khi Pepe bị đuổi, huấn luyện viên José Mourinho cũng bị truất quyền thi đấu, bị phạt tiền và cầm chỉ đạo 5 trận. Trận đấu này cũng gây tranh cãi khi tiền vệ của Barcelona Sergio Busquets bị ghi hình trong một đoạn video cho thấy anh đang văng một từ ngữ mang tính phân biệt chủng tộc với hậu vệ trái của Madrid Marcelo. Trận lượt về không nhiều tranh cãi như trận trước, ngoại trừ bàn thắng bị trọng tài từ chối của Gonzalo Higuaín vì Cristiano Ronaldo đã "phạm lỗi" với Javier Mascherano do bị phạm lỗi trước đó bởi Gerard Piqué.

Huấn luyện viên Mourinho

Real Madrid khởi đầu mùa bóng năm 2011-2012 bằng thất bại chung cuộc trước Barcelona ở Siêu cúp Tây Ban Nha. Tuy nhiên, Real Madrid đã thi đấu thành công trong giải quốc nội, thắng Barcelona trong trận Siêu kinh điển lượt về và giành chức vô địch La Liga với số điểm 100 và số bàn thắng kỉ lục 120 bất chấp Ronaldo phải xếp sau Messi trong cuộc đua Pichichi.

Mặc dù vô địch La Liga mùa giải 2011-2012, Real lại không thi đấu thành công ở các đấu trường khác, họ chỉ lọt vào tứ kết Copa del Rey trước khi bị Barca loại. Còn ở Champions League, họ lọt vào bán kết và bị Bayern Munich loại sau loạt sút luân lưu.

Sang mùa giải 2012-13, Real Madrid đã chiêu mộ thành công tiền vệ Luka Modric với giá 40 triệu euro từ Tottenham Hotspur. Real khởi đầu mùa giải khá suôn sẻ khi đánh bại Barca để dành siêu cúp Tây Ban Nha. Tuy nhiên, đội bóng lại khởi đầu tệ hại ở La Liga và bị Barca bỏ xa, cuối cùng phải nhìn đại kình địch đăng quang giải quốc nội ở cuối mùa. Ở Champions League, sau khi vượt qua Manchester UnitedGalatasaray, Real Madrid một lần nữa lọt vào bán kết nhưng lại thua Borussia Dortmund với tỉ số 3-4 sau 2 lượt trận. Và cay đắng nhất là trận thua Atletico Madrid 1-2 tại chung kết Copa del Rey tháng 5 năm 2013, khiến Real Madrid trắng tay cả mùa giải. Cũng chính thất bại trước Atletico khiến HLV Mourinho phải từ chức ngay sau đó.

Triều đại của Ancelotti (2013-2015) và Decima - Chức vô địch lần thứ 10[sửa | sửa mã nguồn]

Mùa hè 2013 được mở đầu là những cải cách mới của Real Madrid. Sau khi HLV Jose Mourinho từ chức, Real Madrid đã bổ nhiệm HLV Carlo Ancelotti lên làm HLV trưởng. Đội bóng quyết định bán đi những cầu thủ đã đánh mất phong độ nhiều năm qua là KakáGonzalo Higuain. Sau đó là 1 loạt bom tấn diễn ra, đáng chú ý nhất là bản hợp đồng đắt giá nhất thế giới Gareth Bale gia nhập đội chủ nhân Bernabeu với giá chuyển nhượng lên đến 100 triệu euro từ Tottenham. Real khởi đầu mùa giải khá chật vật khi chỉ xếp thứ 3 sau 10 vòng đấu đầu tiên. Nguyên nhân là do đội bóng thi đấu quá kém cỏi trong những trận cầu lớn. Đầu tiên là trận thua hàng xóm Atletico 0-1 ngay trên sân nhà và sau đó là thất bại trước Barca với tỉ số 1-2 trên sân Nou Camp trong trận El Clasico vào tháng 10 năm 2013. Bản hợp đồng kỉ lục thế giới Gareth Bale nhanh chóng bị đặt dấu hỏi về khả năng, thậm chí cầu thủ này còn bị xem như Kaka 2.0.

Tuy nhiên, Real đã nhanh chóng lấy lại phong độ hủy diệt sau một thời gian dài ì ạch. HLV Ancelotti đã giúp Gareth Bale lấy lại phong độ và xếp anh vào bộ ba tấn công B-B-C cùng Karim BenzemaCristiano Ronaldo. Real liên tục thắng ở La Liga và lên ngôi đầu bảng sau 28 vòng đấu. Tuy nhiên về cuối mùa, Ancelotti lại quyết định buông giải quốc nội để tập trung vào Champions League, tạo cơ hội cho Atletico đòi lại ngôi đầu. Sau trận thua 0-2 trước Celta Vigo ở vòng 36, Real chính thức chia tay ngôi vương La Liga và đành nhìn Atletico đăng quang vào cuối mùa giải. Ở mặt trận Copa del Rey, Real đã phục hận thành công Atletico khi đánh bại đối thủ này với tổng tỉ số là 5-0 ở bán kết. Sau đó đội bóng xuất sắc giành được Copa del Rey khi đánh bại đại kình địch CLB Barcelona tại trận chung kết với tỷ số 2-1 trên sân Mestalla. Ở Champions League, sau khi vượt qua vòng bảng, Real liên tục đánh bại những đội bóng Đức như Schalke 04, Borussia DortmundBayern Munich trên đường đến chung kết gặp Atletico. Tuy nhiên, đáng nói nhất là cái cách mà Real giành chiếc cup C1 lần thứ 10 sau hơn 12 năm chờ đợi. Mặc dù bị Atletico dẫn trước ở phút 35 nhưng nhờ bàn thắng gỡ hòa 1 - 1 của Sergio Ramos ở phút 90+3 đã đưa Real và Atletico vào 2 hiệp phụ, lần lượt Gareth Bale, MarceloCristiano Ronaldo ghi bàn ấn định chiến thắng 4-1 cho Real Madrid, qua đó hoàn thành giấc mơ Decima sau 12 năm.

Chức vô địch 2014.

Mùa giải 2014-15, CLB Hoàng gia đã có được chữ ký của tân binh sáng giá, đồng thời cũng là vua phá lưới ở World Cup 2014, James Rodríguez với giá 80 triệu euro. Ngoài ra Real còn có chữ ký của nhà vô địch World Cup 2014 là Toni Kroos.

Real Madrid khởi đầu với trận thua Atletico trong trận tranh Siêu cúp Tây Ban Nha, nhưng sau đó với phong độ ấn tượng của mình, Real Madrid của Ancelotti giành tiếp 2 danh hiệu cuối năm 2014 bao gồm Siêu cúp châu Âu khi đánh bại SevillaFIFA Club World Cup khi thắng San Lorenzo với cùng tỷ số 2-0, qua đó giúp siêu sao chói sáng nhất đội bóng - Cristiano Ronaldo, giành giải thưởng Quả bóng vàng FIFA 2014. Đặc biệt hơn nữa là có rất nhiều cầu thủ Real Madrid được chọn vào đội hình tiêu biểu của năm. Ngoài ra Real còn xuất sắc thiết lập nên chuỗi 22 trận toàn thắng liên tiếp (trong đó có những chiến thắng trước những đối thủ sừng sỏ như Barca hay Liverpool), và chỉ chấm dứt bởi trận thua 1-2 trên sân của Valencia cuối năm 2014.

Sau trận thua đó, Real Madrid vẫn duy trì mạch thắng dù không còn ấn tượng như trước. Cho đến khi Real thảm bại 0-4 trên sân của Atletico và bữa tiệc sinh nhật tai tiếng của Ronaldo ít giờ sau đó bị phanh phui đã khiến nội bộ Real lục đục, dẫn đến việc đội bóng sa sút phong độ trầm trọng vào tháng 3. Đầu tiên Kền kền trắng bị câu lạc bộ Atletico Madrid loại ở Cup nhà Vua với tổng tỷ số 2-4 sau 2 lượt trận đi và về (0-2 ở lượt đi, 2-2 ở lượt về), sau đó là trận đấu chết hụt trước Schalke 04 ở lượt về vòng 16 đội Cup C1 khi Real thua 3-4 và suýt bị loại (lượt đi Real thắng 2-0). Những thất bại liên tiếp ở các đấu trường cup đã khiến Real Madrid sa sút rồi đánh mất luôn lợi thế đang nắm ở đấu trường quốc nội khi bị kình địch Barca vượt mặt. Ngay cả khi có cơ hội đoạt lại ngôi đầu khi được gặp Barca ngày 22/3/2015 ở Camp Nou, Real vẫn không tận dụng được cơ hội khi thua Barca 1-2 và bị kình địch bỏ xa 4 điểm trên bảng xếp hạng. Nhiều cầu thủ bị chỉ trích dữ dội vì phong độ yếu kém, đặc biệt là Gareth Bale.

Sau trận thua El Clásico cuối tháng 3, Real bắt đầu lấy lại phong độ. Họ mở đầu quá trình hồi sinh bằng chiến thắng hủy diệt 9 - 1 trước Granada ở La Liga, trận đấu mà Ronaldo ghi được 5 bàn. Sau đó Real thắng liên tiếp 4 trận ở La Liga để áp sát Barca. Ở Cup C1, Real đã loại được Atletico ở tứ kết lượt về với tỉ số 1-0 nhờ bàn thắng duy nhất của Javier Hernández, qua đó chấm dứt chuỗi 7 trận không thắng Atletico. Tuy vậy Real vẫn phải ngậm ngùi trở thành cựu vương ở Cup C1 châu Âu khi bị Juventus cầm hòa 1-1 trên sân Bernabeu tại trận bán kết lượt về (do đã thua 1-2 ở lượt đi). Vào tháng 5 năm 2015, Barcelona đã chính thức giành được chức vô địch La Liga sau khi đánh bại Atletico 1-0, qua đó khiến Real Madrid khép lại mùa giải 2014-15 với thành tích trắng tay trên tất cả giải. Với việc để đội bóng trắng tay và kình địch Barca đoạt cú ăn ba (La Liga, Cup Nhà vua, Cup C1), HLV Carlo Ancelotti đã bị sa thải chỉ sau 1 năm giúp Kền Kền Trắng hoàn thành giấc mơ Decima. Nhiều cầu thủ Real kêu gọi Perez giữ Ancelotti lại, nhưng bất thành. Sau khi Ancelotti ra đi, các cầu thủ Real tỏ ra bất bình trước quyết định của chủ tịch Perez bởi Ancelotti không đáng bị sa thải nhưng ông lại đứng ra chịu mọi trách nhiệm cho thất bại của Real Madrid.

Mặc dù không có danh hiệu tập thể cùng Real, siêu sao của Real Cristiano Ronaldo đã dành cú đúp danh hiệu cá nhân Pichichi và chiếc giày vàng châu Âu nhờ thành tích ghi bàn ấn tượng (61 bàn trên mọi mặt trận).

Thời Rafael Benitez (2015-2016) và Zinédine Zidane (2016-nay)[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 6 năm 2015, Real Madrid chính thức bổ nhiệm Rafael Benitez làm huấn luyện viên trưởng, thay thể Carlo Ancelotti vừa mới bị sa thải. Ngay sau đó, thủ môn huyền thoại Iker Casillas chia tay Real Madrid sau 25 năm gắn bó vì không được ban lãnh đạo đội bóng gia hạn hợp đồng. Đội bóng trải qua kì chuyển nhượng mùa hè khá im ắng khi không có một tân binh đáng chú ý nào do Perez muốn tìm mọi cách để làm ổn định lực lượng hiện tại. Real tỏ ra thiếu quyết tâm trong việc mua sắm cầu thủ, đặc biệt là thương vụ mua hụt thủ môn David de Gea từ Manchester United, khiến cho các cổ động viên tỏ ra vô cùng bất mãn.

Mặc dù đội hình không bị xáo trộn nhưng phòng thay đồ của Real vẫn luôn trong trạng thái bất ổn. Benitez không được lòng các cầu thủ do họ quá nhớ Ancelotti và không thích phong cách huấn luyện quá bảo thủ của Benitez. Ronaldo thậm chí còn chửi thề Benitez trong buổi tập đầu tiên của đội chuẩn bị cho mùa giải mới do không hài lòng với phương pháp huấn luyện của HLV này.

Real khởi đầu mùa giải khá tốt khi bất bại trong 10 vòng đấu đầu tiên ở La Liga và dẫn đầu bảng xếp hạng. Tuy nhiên Benitez vẫn bị các cầu thủ cũng như các cổ động viên phản đối do áp dụng triết lý bóng đá phòng ngự khô khan, đi ngược với truyền thống của CLB. Đặc biệt trong trận derby Madrid với Atletico trên sân khách vào tháng 9 năm 2015, Real chơi áp đảo trong hiệp 1 và có bàn mở tỷ số của Karim Benzema nhưng sang hiệp 2 thì Benitez lại có quyết định khó hiểu khi rút Benzema ra khỏi sân với lý do là để tăng cường hàng phòng ngự, điều này làm cho tiền đạo người Pháp vô cùng giận dữ vì bị thay ra giữa chừng mặc dù đang chơi hay, cuối cùng Real dính bàn thua muộn phút cuối và phải chia điểm đầy cay đắng. Sau trận đấu, Benitez không những không chịu nhận trách nhiệm mà còn đổ lỗi cho đội trưởng Sergio Ramos và cho rằng cầu thủ này mắc lỗi trong bàn gỡ hòa của Atletico. Hành động thiếu suy xét này của Benitez khiến phòng thay đồ của Real ngày càng trở nên hỗn loạn khi phe chống đối Benitez ngày càng nhiều. Trong thời gian ở Real, Benitez đã mâu thuẫn với không ít cầu thủ trụ cột như Ronaldo, Ramos, Benzema, Isco, Jesé và cả James Rodríguez.

Tháng 11 năm 2015, Real thua trận đầu tiên của mùa bóng khi thất bại 2-3 trước Sevilla trên sân khách, mở đầu chu kì đen tối của đội bóng vào cuối năm. Rồi ngay sau đó Real bị đại kình địch Barca đè bẹp với tỉ số 4-0 ngay trên sân nhà, khi ấy Benitez gần như là tâm điểm của mọi sự công kích, chửi rủa đến từ cầu thủ lẫn dư luận. Ronaldo còn khảng khái tuyên bố rằng anh sẽ dứt áo ra đi nếu còn Benitez ở Real. Từ sau thảm bại trong trận siêu kinh điển, thành tích trên sân cỏ của Real đi xuống nhanh chóng. Đội bóng tụt xuống vị trí thứ 3 ở La Liga, bị nhận án loại sớm ở Copa del Rey chỉ vì tung cầu chủ bị treo giò vào sân và tham vọng gần như mơ hồ ở Champions League. Real bị các cổ động viên quay lưng mỗi trận đấu cho dù đội bóng thắng hay thua. Sân Bernabeu càng trở nên lạnh lẽo do các cổ động viên tẩy chay đội bóng. Và trận hòa thất vọng 2-2 trước Valencia cứ như giọt nước tràn ly, đánh dấu chấm hết cho triều đại của Benitez tại sân Bernabeu.

Sergio Ramos cùng chức vô địch châu Âu lần thứ 11

Chiều 4/1/2016 theo giờ địa phương, Chủ tịch câu lạc bộ Real Madrid, ông Florentino Perez triệu tập các thành viên lãnh đạo dự cuộc họp khẩn, chính thức thông qua ý kiến sa thải ông Benitez, đồng thời đưa huấn luyện viên đội trẻ Real Castilla - Zinédine Zidane lên thay dưới vai trò tạm quyền. Sự xuất hiện của Zinedine Zidane đã giúp phòng thay đồ của Real Madrid lắng dịu hơn rất nhiều sau khoảng thời gian sóng gió dưới thời Benitez. Bầu không khí trong đội trở nên đoàn kết trở lại.

Ngay trong 2 trận đầu tiên trên chiếc ghế nóng gặp Deportivo la CorunaSporting Gijon ở La Liga, Zidane giúp Real đại thắng và ghi tới 10 bàn thắng trong cả hai trận đó. Tuy nhiên Zidane vẫn bị đặt dấu hỏi về khả năng cầm quân do Real chỉ giỏi bắt nạt kẻ yếu và khi gặp những đối thủ cứng cựa thì họ lại mất điểm. Bằng chứng là sau khoảng thời gian thăng hoa ngắn ngủi, Real gặp liên tiếp hai đối thủ mạnh là Malaga và Atletico và đều không giành được chiến thắng. Đặc biệt sau thất bại 0-1 trước hàng xóm Atletico ở vòng 26 và bị đội đầu bảng Barca bỏ xa tới 12 điểm trên bảng xếp hạng, Zidane đã úp mở chuyện từ chức sớm.

Nhưng kể từ sau thất bại trước Atletico, Real vùng lên mạnh mẽ khi thắng liền mạch các trận còn lại ở La Liga, trong đó có chiến thắng 2-1 trước Barca trên sân Nou Camp. Thua trận siêu kinh điển khiến Barca sa sút và bị Real bám rất sát ở La Liga. Đáng tiếc là gã khổng lồ xứ Catalan đã kịp hãm lại đà lao dốc đúng thời điểm Real thăng hoa và đăng quang La Liga vào cuối mùa với 1 điểm nhiều hơn Real. Còn ở Champions League, sau khi loại được AS Roma ở vòng 16 đội, Real gặp khó khi thua Wolfsburg 0-2 trong trận tứ kết lượt đi. May mắn là trong trận lượt về, Ronaldo đã tỏa sáng xuất thần với cú hat-trick để giúp Real thắng ngược với tổng tỉ số 3-2 và lọt vào bán kết. Real tiếp tục loại Manchester City ở bán kết để vào chung kết và tái ngộ hàng xóm Atlético, đối thủ mà Real đã thắng trong trận chung kết C1 cách đây 2 năm. Hai đội hòa nhau 1-1 sau 120 phút và trên chấm luân lưu Real đã giành chiến thắng với tỉ số 5-3 nhờ cú đá quyết định của Ronaldo và qua đó giành danh hiệu UEFA Champions League thứ 11, hoàn tất chiến dịch La Undécima (chức vô địch châu Âu lần thứ 11).

Năm 2017, Real Madrid đã giành chiến thắng trước Juventus với tỉ số 4-1 để trở thành đội bóng đầu tiên bảo vệ thành công chức vô địch UEFA Champions League.

Biểu tượng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng[sửa | sửa mã nguồn]

Biểu trưng của Real Madrid qua những năm tháng.

Phiên bản biểu trưng đầu tiên là một thiết kế đơn giản với 3 ký tự "MCF" viết tắt của Madrid Club de Fútbol màu trắng được xếp đè lên nhau trên nền xanh thẫm. Lần thay đổi đầu tiên vào năm 1908 mang lại những ký tự có dáng vẻ thuôn gọn hơn và được đặt trong một đường tròn.[38] Biểu trưng của câu lạc bộ vẫn giữ nguyên cho đến thời chủ tịch Pedro Parages năm 1920. Khi đó, Vua Alfonso XIII chính thức ban cho đội bóng tước vị hoàng gia và đứng ra bảo trợ cho họ.[39] Câu lạc bộ đổi tên thành "Real Madrid" và vương miện của Alfonso được vẽ thêm vào biểu trưng để thể hiện cho từ "Real".[38]

Do sự sụp đổ của chế độ quân chủ năm 1931, mọi dấu hiệu của hoàng gia (hình ảnh vương miện và danh xưng "Real") được gỡ bỏ. Vương miện được thay thế bằng dải băng màu tím của chính quyền Castile.[13] Năm 1941, hai năm sau Cuộc nội chiến, biểu tượng "Real Corona", hay "Vương miện Hoàng gia", được khôi phục khi dải băng của Castile vẫn được duy trì.[18] Ngoài ra, vương miện được tô thêm màu vàng RIA RIA HUNGÁRIA nổi bật, và câu lạc bộ lại một lần nữa mang tên Câu lạc bộ Bóng đá Hoàng gia Madrid.[38] Lần chỉnh sửa gần đây nhất là vào năm 2001 khi đội bóng muốn tiêu chuẩn hóa biểu trưng và khẳng định vị trí của chính mình cho thế kỷ 21. Từ đó, dải băng màu tím đã được đổi thành màu xanh thẫm.[38]

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Logo Real Madrid.svg
Nhà tài trợ

Nhà tài trợ trang phục

  • 1980-1985: Adidas
  • 1985-1994: Hummel
  • 1994-1998: Kelme
  • 1998-2020: Adidas

Nhà tài trợ chính thức

  • 1982-1985: Zanussi
  • 1985-1989: Parmalat
  • 1989-1991: Reny Picot
  • 1991-1992: Otaysa
  • 1992-2001: Teka
  • 2001-2002: Realmadrid.com
  • 2002-2007: Siemens
  • 2007-2013: bwin
  • 2013-2018: Fly Emirates

Màu áo nhà truyền thống của câu lạc bộ Real Madrid là màu trắng, mặc dù lúc trước khi mới thành lập, trong trận đấu đầu tiên của câu lạc bộ, họ đã mặc một trang phục với một dải xiên màu xanh dương và một màu đỏ trên áo để phân biệt hai đội (thiết kế sau này của câu lạc bộ với chi tiết một dải màu tím klông liên quan đến điều này, nó đã được kết hợp năm họ bị mất vương miện hoàng gia, vì nó là màu sắc truyền thống của khu vực Castile).

Ngày nay, tất đen đã không còn được sử dụng, thay vào đó là tất trắng. Real Madrid đã duy trì màu áo trắng trong các trận đấu trên sân nhà của mình suốt lịch sử của câu lạc bộ. Tuy nhiên, có một mùa giải mà áo và quần không phải là màu trắng. Đó là một sáng kiến được thực hiện bởi Escobal và Quesada vào năm 1925; Cả hai đã đi du lịch qua nước Anh khi họ nhận ra chiếc mũ của đội Corinthian FC, một trong những đội nổi tiếng nhất tại thời điểm đó được biết đến với sự sang trọng và tinh thần thể tha. Điều đó dẫn đến quyết định rằng Real Madrid sẽ mặc quần màu đen trong, nhưng sáng kiến này chỉ kéo dài một năm. Sau khi bị đánh bại bởi Barcelona với thất bại 1-5 tại Madrid và thất bại 0-2 tại Catalonia, chủ tịch Parages quyết định trở lại một bộ đồ toàn trắng, cho rằng bộ trang phục này sẽ mang lại may mắn. Vào đầu những năm 1940, người quản lý đã thay đổi bộ trang phục một lần nữa bằng cách thêm các nút vào áo sơ mi Ngày 23 tháng 11 năm 1947, trong một trận đấu với Atlético Madrid tại sân vận động Metropolitano, Real Madrid trở thành đội bóng Tây Ban Nha đầu tiên mặc áo số. Câu lạc bộ bóng đá Anh Leeds United đã chuyển chiếc áo xanh của họ sang màu trắng vào những năm 1960, để cạnh tranh cùng Real Madrid thống trị bóng đá trong thời đại này.

Mẫu áo mùa 2015-16 của Real do Adidas tài trợ.

Màu sắc phụ của Real là màu xanh hoặc tím. Kể từ khi ra mắt thị trường, câu lạc bộ cũng đã cho ra đời nhiều mẫu thiết kế màu khác nhau, bao gồm đỏ, xanh, cam và đen. Nhà tài trợ áo áo đấu của Real Madrid, Zanussi đã đồng ý ký hợp đồng cho mùa giải 1982-83, 1983-84 và 1984-85. Sau đó, câu lạc bộ được Parmalat và Otaysa tài trợ trước khi một hợp đồng dài hạn với Teka được ký kết vào năm 1992. Năm 2001, Real Madrid chấm dứt hợp đồng với Teka và trong một mùa giải sử dụng dòng chữ Realmadrid.com in trên áo đấu để quảng cáo, biểu trưng trang web của câu lạc bộ. Sau đó, năm 2002, một hợp đồng đã được ký với Siemens Mobile và năm 2006, biểu tượng BenQ Siemens đã xuất hiện trên áo của CLB. Hãng tài trợ BenQ Siemens này đã mang lại khoảng 10 triệu euro mỗi năm cho câu lạc bộ Hoàng gia. Tuy nhiên số tiền ấy không đủ thỏa mãn tham vọng chinh phục đỉnh cao của đội bóng thành Madrid nên vào tháng 6 năm 2007, Real Madrid quyết định ký hợp đồng với nhà tài trợ Bwin cùng với số tiền 21 triệu euro mỗi năm trong một bản hợp đồng có thời hạn 3 năm, kèm theo một điều khoản gia hạn tự động thêm 4 năm nữa. Đó là khoản tiền Real Madrid nhận được từ Bwin Interactive Entertainment AG đổi lại hãng kinh doanh cá cược trên mạng Internet BetAndWin ngày càng mở rộng ảnh hưởng tại bóng đá châu Âu bằng việc in dòng chữ BWin hiện diện trên ngực áo đấu của đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha thay thế cho BenQ Mobie, tập đoàn sản xuất điện thoại di động vừa mới phá sản của Đài Loan.

Mùa giải 2012-13 là một mùa giải thất bại toàn diện của câu lạc bộ Real Madrid khi họ trắng tay không giành được một danh hiệu này. Để có khoản tiền lớn đầu tư nâng cấp đội hình để chinh phục các giải đấu lớn, Real Madrid đã quyết định chia tay nhà tài trợ BWin nhằm tìm kiếm đối tác mới. Sau đó tờ Marca đã đăng tải thông tin cho rằng Real Madrid sẽ kí hợp đồng tài trợ áo đấu có thời hạn 4 năm với hãng hàng không Fly Emirates. Với bản hợp đồng này, dòng chữ Fly Emirates sẽ xuất hiện trên áo đấu của Los Blancos cũng như trên bảng quảng cáo tại sân Bernabeu. Đổi lại, Real Madrid bỏ túi từ 24 triệu euro đến 26 triệu euro mổi năm.. Hợp đồng này sẽ bắt đầu có hiệu lực kể từ mùa giải 2013-2014. Hợp đồng của Real với Fly Emirates được xem là bản hợp đồng đắt giá nhất trong lịch sử đội bóng. Nó giúp Real mở cánh cửa tới thị trường hoàn toàn mới là các quốc gia ở Trung Đông, bao gồm UAE (Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất) và Qatar.

Từ khi thành lập cho đến năm 1980, câu lạc bộ luôn sử dụng loại áo đấu do chính mình sản xuất, từ năm 1985, hãng thể theo Adidas đã ký hợp đồng tài trợ cho đội bóng hoàng gia. Bản hợp đồng này kéo dài trong 5 năm. Sau đó, câu lạc bộ đã có 2 nhà tài trợ áo đấu khác. Họ được hãng Hummel tài trợ trong vòng 9 năm, sau đó là Kelme trong 4 năm trước khi Adidas nối lại đàm phán và hợp tác tài trợ cho đội bóng thủ đô Madrid từ năm 1998. Với vị thế hoàng gia cộng thêm việc luôn sở hữu một đội hình toàn những ngôi sao đắt giá nhất trên thế giới, với một bản hợp đồng tài trợ áo đấu sẽ đem lại lợi nhuận rất cao trong việc quảng bá thương hiệu cho bất kỳ nhà tài trợ nào bắt tay với câu lạc bộ. Nhận thấy điều đó, Real Madrid cứ sau một mùa giải thăng hoa luôn muốn đàm phán với các nhà tài trợ nhằm tăng giá trị hợp đồng. Kết quả, hãng Adidas mỗi năm phải tốn 46 triệu euro để tài trợ cho đội bóng hoàng gia. Nhưng khi nhìn sang Barcelona, Manchester United của Anh hay Bayern Munich của Đức, những đội bóng được các nhà tài trợ hợp tác với những bản hợp đồng lên đến 100 triệu euro, thì con số 46 triệu mỗi năm với Real Madrid là một sự thiệt thòi, do đó đã có thông tin cho rằng suốt mấy tháng trở lại đây, giữa Real Madrid và Adidas đã tiến hành nhiều cuộc thương thảo nhằm gia hạn hợp đồng, thay cho thỏa thuận cũ sẽ đáo hạn vào hè 2017. Tuy nhiên, các cuộc đàm phán liên tục lâm vào bế tắc. Real Madrid không thể tìm thấy tiếng nói chung với Adidas trong quá trình thương thảo hợp đồng tài trợ mới và đội bóng hoàng gia đã chuyển sang đàm phán với Nike.

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn cảnh ngoài sân vận động.

Từ sau khi thành lập vào tháng 3 năm 1902, Real đã phải lưu lạc khắp cho đến khi có được 1 sân vận động vào 10 năm sau đó vì trước đó CLB phải trả 1000 pesetas mỗi tháng khi thuê sân nhà. Ngày 17/5/1924, Real Madrid có 1 sân vận động riêng tên là Chamartin nhưng sân này chỉ tồn tại được khoảng 10 năm rồi bị san phẳng trong cuộc nội chiến. Năm 1943, Santiago Bernabeu trở thành chủ tịch Real và ông đã phát động 1 cuộc quyên góp nhằm xây SVĐ mới. Kết quả là CLB thu được 41 triệu pesetas. Ngày 22/6/1944, Real có trong tay 5 ha đất và 1 tháng sau SVĐ được xây dựng. Trong suốt mùa bóng 1946-1947 Real đã phải đấu nhờ trên sân Metropolitano của kình địch Atletico Madrid với điều kiện là các thành viên của đội này vào xem Real thi đấu miễn phí.

Ban đầu sân được thiết kế bởi kiến trúc sư José María Castell, công việc xây dựng bắt đầu vào năm 1944 với tổng chi phí xây dựng là 288 triệu euro(41 triệu pesetas). Sân lúc đầu được gọi gọi là "Stadium Chamartin", khánh thành vào ngày 14 tháng 12 năm 1947 và sau này được đổi tên thành Santiago Bernabeu như hiện tại vào năm 1955 nhằm vinh danh người chủ tịch vĩ đại Santiago Bernabeu. Bên trong sân vận động là một bảo tàng các danh hiệu mà Real Madrid giành được trong lịch sử, bên trong cũng có nhà hàng hay phòng phát kênh Real TV. Sân nhà hiện nay của câu lạc bộ Real Madrid là sân vận động Santiago Bernabéu, sân vận động này có thế chứa đến 85.454 khán giả (đứng thứ 16 trên thế giới về sức chứa) và mặt sân rộng 106x72 mét, đạt tiêu chuẩn 5 sao của UEFA.

Bên trong sân vận động.

Mãi cho đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ trước, Bernabéu mới được sửa chữa lần đầu tiên - khi Tây Ban Nha là quốc gia đứng ra đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 1982. Việc sửa chữa kéo dài tận 16 tháng và tiêu tốn tới 704 triệu peseta. Từ đó, sức chứa của sân giảm từ 120.000 xuống còn 90.800 khán giả, 24.550 trong số đó là được che phủ bởi hệ thống mái che. SVĐ cũng được tu sửa phía cổng, cài đặt các hệ thống thông báo điện tử ở cổng phía bắc và phía nam, cũng như cải tạo khu vực tác nghiệp báo chí, tủ để đồ, nơi cổng vào và các khu vực hỗ trợ khác.

Khi Florentino Pérez trở thành chủ tịch Real Madrid, ông đã đưa ra một kế hoạch với mục tiêu cải thiện sự thoải mái cho mỗi chỗ ngồi tại sân Bernabéu, nâng cao chất lượng các trang thiết bị và tạo nên doanh thu tối đa cho các sân vận động. Pérez đã đầu tư 127 triệu Euro trong vòng 5 năm từ 2001 đến 2006 để mở rộng thêm phần phía đông của sân vận động, cùng với việc mở thêm một cổng vào nữa ở phố Father Damien, thiết kế đồng phục mới, tân trang các khu vực VIP, xây dựng thêm một khu vực báo chí mới, hệ thống âm thanh mới, những quán bar mới, hệ thống sưởi ấm trên sân, thang máy, những nhà hàng sang trọng. Đây là một trong những địa điểm nổi tiếng và uy tín của bóng đá Tây Ban Nha nói riêng và thế giới nói chung. Sân Santiago Bernabeu đã từng đăng cai tổ chức 3 trận chung kết Cup châu Âu đó là các năm 1957, 1969, 1980, và 1 trận Chung kết UEFA Champions League 2010 đã diễn ra tại thành phố Madrid. Ngoài ra, trận chung kết Giải vô địch bóng đá châu Âu 1964Giải bóng đá vô địch thế giới 1982 cũng được diễn ra tại Bernabéu.

Thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Poster quảng bá Real.

Florentino Pérez trở lại Real có thể chưa mang tới thành công về mặt thể thao khi đội bóng thành Madrid vẫn kém kình địch Barca về mặt danh hiệu. Tuy nhiên ít nhất Perez đã thành công về mặt kinh tế, thậm chí là thành công rực rỡ. Real Madrid chính là đội bóng có thương hiệu bóng đá đắt giá nhất hành tinh theo công bố mới đây của tạp chí Forbes công bố vào năm 2013, tổng giá trị của Real là 3,3 tỷ USD, tức tăng gấp 1,76 lần so với mức 1,88 tỷ USD vào năm ngoái. Sự tăng trưởng về giá trị thương mại của “kền kền trắng” diễn ra liên tục và đạt mức 62% trong 3 năm qua, đó cũng là thời gian Perez làm chủ tịch đội bóng. Kết quả của Forbes cũng chỉ ra rằng doanh thu của Real Madrid trong mùa giải 2011-12 là 650 triệu USD và họ trở thành CLB thể thao đầu tiên vượt qua cột mốc doanh thu 500 triệu euro/năm. Trong năm 2013, Real đã ký những bản hợp đồng thương mại khổng lồ. Họ gia hạn hợp đồng trang phục thi đấu với Adidas với giá trị lên đến 42 triệu USD/năm. Chủ tịch Flo Perez cũng thành công với bản hợp đồng in tên trên áo đấu với hãng hàng không Emirates, giúp họ kiếm thêm 39 triệu USD/năm trong vòng 5 năm tới.

Theo tạp chí Forbes của Mỹ đã công bố danh sách 10 CLB thể thao có thương hiệu đắt giá nhất hành tinh. Real Madrid trở thành CLB bóng đá số 1 thế giới với giá trị thương hiệu lên đến 464 triệu USD. Real Madrid chỉ nhỉnh hơn không nhiều so với đội bóng xếp ngay sau là Man United. CLB lừng danh của bóng đá xứ sở sương mù có giá trị thương hiệu là 446 triệu USD.

Việc Real Madrid dẫn đầu trong danh sách các CLB bóng đá có thương hiệu đắt giá nhất hành tinh cũng không có gì quá lạ. Bởi trong đội hình hiện tại của đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha đang sở hữu những cầu thủ đắt giá nhất hành tinh như James Rodríguez, Cristiano Ronaldo hay Gareth Bale, do CLB kiên trì theo đuổi chính sách Galacticos trong nhiều năm qua. Rõ ràng chính sách “galacticos” của chủ tịch Flo Perez đã thành công lớn về mặt kinh tế. Kể từ khi bảng xếp hạng của Forbes ra đời, M.U luôn là thương hiệu số 1 trong số các CLB bóng đá và đây mới là lần đầu tiên Real vượt lên. Thành công này là nguyên nhân khiến Perez giành chiến thắng tuyệt đối trong cuộc bầu cử chủ tịch. Real là tài sản của 93.000 hội viên (socio), những người đóng góp 195 USD mỗi năm cho ngân sách CLB (số tiền này được khấu trừ vào tiền vé và tiền mua đồ lưu niệm). Các “socio” chính là những cử tri bỏ phiếu chủ tịch và sự lớn mạnh về kinh tế dưới sự điều hành của Perez là lý do khiến ông trùm xây dựng chiếm lợi thế.

Ủng hộ[sửa | sửa mã nguồn]

Fan club[sửa | sửa mã nguồn]

Rafael Nadal trên sân Bernabeu.

Real Madrid là một trong số ít các câu lạc bộ ở các câu lạc bộ bóng đá châu Âu, được tổ chức không phải dưới hình thức một công ty đại chúng, cũng không phải thuộc sở hữu của một cá nhân. Real Madrid hiện sở hữu 91.671 thành viên ("Socios"). Chủ tịch câu lạc bộ được xác định bởi cuộc bầu cử của các thành viên câu lạc bộ mỗi bốn năm.

Không giống như phần lớn các câu lạc bộ châu Âu, thành viên bị hạn chế bởi các điều khoản của Hiệp hội, điều này được tiếp diễn trong những năm qua. Với hơn 200.000 người hâm mộ trên toàn thế giới trong năm đã được đăng ký chính thức bởi Hiệp hội các câu lạc bộ ghi danh (Penas), trong đó 165 trong tổng số 75 quốc gia khác nhau bên ngoài Tây Ban Nha (68 Châu Âu, 39 ở Mỹ, 34 ở châu Á, 22 ở châu Phi và hai ở Úc và châu Đại Dương). Vào năm 2002 được gọi là "Carnet Madridista" (Real Madrid Fankarte), và bây giờ người hâm mộ từ khắp nơi trên thế giới có cơ hội để đăng ký là người ủng hộ Real Madrid chính thức. Đối với các mùa giải 2015/16, câu lạc bộ đã có hơn 660.000 thành viên Carnet Madridista đã được đăng ký trên toàn thế giới.

Real Madrid theo hãng nghiên cứu thị trường Sport + Markt khoảng 41 triệu người hâm mộ ở châu Âu và do đó hiện đang có số lượng cao nhất thứ hai trên bảng xếp hạng, xếp sau kình địch Barcelona. Theo nghiên cứu này, có khoảng 8 triệu người hâm mộ nó cũng là câu lạc bộ châu Âu phổ biến nhất trong các thị trường Mỹ Latin của Mexico, Brazil và Argentina vào tháng 2 năm 2009. Một trong số những thành viên danh dự của Real Madrid là cựu tay vợt số 1 thế giới Rafael Nadal. Ngoài ra Real còn là câu lạc bộ yêu thích của tay vợt người Serbia, Novak Djokovic, ca sĩ Jennifer Lopez, diễn viên Penélope Cruz, VĐV đua xe Alberto Contador hay kiện tướng cờ vua Magnus Carlsen.

Ca khúc truyền thống[sửa | sửa mã nguồn]

Bài hát chính thức của câu lạc bộ là "¡Hala Madrid!". Bản nhạc đã được sáng tác bởi các nhạc sĩ Tây Ban Nha gồm Marino García, José de Aguilar, Antonio Villena Sánchez và Indalecio Cisneros. Ca khúc được ra mắt vào năm 1952 trong lễ kỷ niệm sinh nhật lần thứ 50 của câu lạc bộ đã được ghi lại và trình bày.

Trong lễ kỷ niệm 100 năm thành lập của câu lạc bộ vào năm 2002, các thành viên cũ của ban nhạc Madrid Pop nổi tiếng là Mecano, José María Cano và Placido Domingo biểu diễn ca khúc "Himno del Centenario" (tiếng Tây Ban Nha là Bài ca của một trăm năm tuổi), nguyên chỉ dành cho lễ kỷ niệm, tuy nhiên, ca khúc đã được giữ nguyên bản và vẫn còn được bật trước mỗi trận đấu của Real Madrid tại sân Santiago Bernabéu, trong khi ca khúc chính thức "¡Hala Madrid!" thường được bật sau khi kết thúc trận đấu.

Là một phần trong lễ kỷ niệm sau khi giành cú "Decima", danh hiệu Champions League lần thứ mười trong lịch sử câu lạc bộ, nhà sản xuất âm nhạc RedOne đã trình bày một sáng tác của ông có tựa đề "Hala Madrid y Nada Más" (tiếng Tây Ban Nha là Madrid và không có gì khác).

Real Madrid TV[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid TV là kênh truyền hình kỹ thuật miễn phí, điều hành bởi Real Madrid và các chuyên gia truyền thông câu lạc bộ Tây Ban Nha. Kênh có sẵn tiếng Tây Ban Nha và tiếng Anh.

Real Madrid từ năm 1999 đã tự phát hành một kênh truyền hình dưới dạng tư nhân, chương trình phát sóng 24 giờ mỗi ngày bao gồm tin tức hàng ngày từ câu lạc bộ và bóng đá thế giới, hình ảnh sống động trong việc việc đào tạo đội ngũ, phát thanh truyền hình của bóng đá năm qua, các báo cáo và những bức chân dung, cũng như truyền hình trực tiếp các trận đấu của đội trẻ Real Madrid Castilla (trước đây là Real Madrid B), hoặc nhóm trẻ khác của Real, mà hiện đang chơi ở giải vô địch Tây Ban Nha thứ ba.

Real Madrid TV cũng là một phần của các nhà cung cấp truyền hình kỹ thuật số Canal + (trên Astra 1KR và Hispasat 1E) và ZAP (Eutelsat 36B có sẵn). Một tiếng Anh phiên bản không được mã hóa trên Euro Bird 9A. Kể từ Tháng 12 năm 2014, kênh này cũng có sẵn thông qua chính thức ứng dụng thu phí của các câu lạc bộ.

Kình địch[sửa | sửa mã nguồn]

El Clásico[sửa | sửa mã nguồn]

1 trận El Clásico năm 2009.

Từ đầu những năm 1900 cho đến trước năm 1916, mối quan hệ giữa Real MadridBarca luôn tốt đẹp, các trận đấu giữa họ luôn đầy tình hữu hảo. Khi đó, đại kình địch của Real Madrid là Athletic Club (nay là Atletico Madrid), còn kẻ thù của Barca là đối thủ cùng thành phố Espanyol. Vậy tại sao Real MadridBarca lại trở thành kẻ thù không đội trời chung?

Ở trận bán kết Cúp Nhà Vua 1916, khi đó chưa có luật bàn thắng sân khách. Vì vậy, sau 2 trận lượt đi và về, nếu mỗi đội thắng một lần, họ sẽ phải dẫn nhau đến một trận tie-breaker. Hồi đó cũng chưa xuất hiện loạt đá luân lưu. Thế nên, khi 2 đội hòa nhau ở trận tie-breaker, họ phải tiếp tục thi đấu một trận khác (gọi là play-off).

Năm đó, Barca và Real Madrid đụng nhau ở bán kết. Trong trận đấu đầu tiên, đội bóng xứ Catalan thắng 2-1. Đến trận lượt về, họ để thua Real Madrid 1-4. Trận tie-breaker đã được chọn diễn ra trên sân của Real Madrid. Thật không may, hôm đó 2 đội lại hòa nhau 4-4 trong thời gian thi đấu chính thức.

Đến khi đá play-off, Barca lúc đó dẫn 6-5. Nhưng ở những phút cuối, Real Madrid bất ngờ được trọng tài cho hưởng một quả penalty gây tranh cãi. Đó là quả phạt đền thứ 3 dành cho Real Madrid chỉ trong trận này (1 quả bị sút hỏng). Quyết định của ông Berraondo đã khiến cầu thủ, BHL và cả CĐV của Barca vô cùng bất bình. Họ phản đối và gọi trọng tài Berraondo là quân kẻ cướp. Họ bày tỏ sự phẫn nộ bằng màn phá phách.

Thù hận giữa Real Madrid và Barca được manh mún từ đó, với trọng tài Berraondo (người từng thi đấu cho cả hai đội khi còn là cầu thủ) được xem là kẻ châm ngòi. Hai ngày sau đó, một trận tie-breaker tiếp theo lại diễn ra giữa Real Madrid và Barca. Lần này, bầu không khí thân thiện của những trận đấu trước không còn nữa.

Bầu không khí trên khán đài trước khi diễn ra El Clásico năm 2009.

Trong trận chiến thứ 4 và là cuối cùng tại Cúp Nhà Vua giữa hai đội năm 1916, Barca nhanh chóng dẫn 2 bàn. Nhưng sau đó, họ bị đối phương gỡ hòa 2-2 trong 90 phút thi đấu chính thức, với 1 bàn gỡ được thực hiện từ chấm phạt đền. Khi hai đội tiếp tục phải đá play-off, Real Madrid có liền 2 bàn thắng. Nhưng các cầu thủ Barca đều cho rằng, đó là những bàn thắng không hợp lệ, đặc biệt là pha ghi bàn ở thế việt vị trong tình huống thứ 2. Vì thế, họ bỏ trận khi thời gian thi đấu vẫn còn 7 phút. Real Madrid nghiễm nhiên thắng 4-2 và giành quyền vào chung kết gặp Athletic Bilbao.

Điều trùng hợp định mệnh là trận chung kết năm đó lại được tổ chức ở chính Barcelona. Vì thế, sau khi Real Madrid thất thủ 0-4 ra về, dù được lực lượng an ninh bảo vệ, đội bóng thủ đô Madrid vẫn bị các CĐV của Barca tấn công. Họ hùa nhau ném đá vào xe bus chở Real Madrid. Họ nguyền rủa đội bóng Hoàng gia là kẻ bẩn thỉu và đáng phải chịu thất bại nhục nhã trước Bilbao. Kể từ hôm đó, mối hận giữa Real Madrid và Barca càng được khơi sâu.

Mối hận thù giữa 2 đội càng lúc càng nghiêm trọng và nó đã trở thành chồng chất khi cảnh sát của chế độ độc tài Francisco Franco bắt tống giam chủ tịch Josep Sunyol của Barca năm 1936 do những nhạy cảm trong vấn đề chính trị. Kể từ đó, Barca luôn bị xem là cái gai trong mắt của chế độ Franco và thường xuyên bị xử ép. Đặc biệt, sau khi Real Madrid cướp tay trên của đội bóng xứ Catalan tiền đạo lừng danh Alfredo Di Stefano, 2 đội chính thức tuyên bố mối quan hệ thù địch, với Barca là phe của người Catalan, còn Real Madrid thuộc về phe của Franco. Khái niệm El Clásico cũng bắt đầu xuất hiện ở thời kỳ này.

Năm 2000, mối quan hệ của Real MadridBarcelona ngày một căng thẳng khi Florentino Pérez đã cài điều khoản mua Luis Figo, cầu thủ xuất sắc nhất bên phía Barca thời bấy giờ do khi ấy tại Tây Ban Nha, mỗi cầu thủ đề có một điều khoản giải phóng hợp đồng, buộc câu lạc bộ chủ quản phải đồng ý phá vỡ. Khi Figo về với Real, các CĐV Barca liền đốt áo đấu và nguyền rủa anh tại Nou Camp, đỉnh điểm là 1 trận El Clasico vào ngày 23/11/2002 diễn ra trên sân của Barca, một chiếc đầu lợn đã ném xuống sân mỗi lúc Figo chuẩn bị thực hiện quả phạt góc.

Derby Madrileño[sửa | sửa mã nguồn]

Derby Madrileño năm 2013

Đối thủ cùng thành phố của câu lạc bộ là Atlético Madrid. Atlético ban đầu được thành lập bởi ba sinh viên vào năm 1903, nó đã được sát nhập vào năm 1904 bởi các thành viên bất đồng chính kiến của Madrid FC. Căng thẳng leo thang hơn nữa sau khi Atlético đã được sáp nhập với đội bóng đá của lực lượng không quân Tây Ban Nha (và do đó đổi tên thành Atlético Aviación), và trong năm 1940, Atlético được coi là đội bóng ưa thích của chế độ Franco trước khi Real thành công ở châu Âu trong thập niên 1950. Hơn nữa, những người ủng hộ Real Madrid đến từ tầng lớp trung lưu và thượng lưu trong khi những người ủng hộ Atlético đến từ các tầng lớp lao động. Lần đầu hai đội gặp nhau lần đầu tiên vào ngày 21 tháng 2 năm 1929, đó là trận derby chính thức đầu tiên của giải vô địch quốc gia, và Real thắng 2-1.

Hai đội gặp nhau lần đầu tại cup châu Âu là vào năm 1959, khi ấy tại vòng bán kết, Real thắng trận lượt đi 2-1 tại Bernabeu trong khi Atletico thắng 1-0 tại Metropolitano. Và trong trận đá lại Real dành chiến thắng thắng 2-1 trước Atlético.

Từ năm 1961 đến năm 1989, Real thống trị La Liga. Năm 1965, Atletico đã trở thành đội đầu tiên đánh bại Real tại Bernabeu trong 8 năm dù trước đó thành tích đối đầu của Real Madrid trước Atletico là rất thuận lợi. Mùa giải 2002-03, Real đã giành danh hiệu La Liga sau chiến thắng 4-0 trước Atlético tại sân vận động Vicente Calderón. Chiến thắng đầu tiên đầu tiên của Atlético trước đối thủ cùng thành phố kể từ năm 1999 là chiến thắng tại chung kết Copa del Rey năm 2013. Trong mùa giải 2013-14, cả Real và Atletico đều vào đến trận chung kết UEFA Champions League, trận chung kết đầu tiên có sự góp mặt của hai câu lạc bộ đến từ cùng một thành phố và Real Madrid thắng với 4-1 trong hiệp phụ. Vào ngày 7 tháng 2 năm 2015, Real phải chịu thất bại đầu tiên của họ sau 14 năm tại Vicente Calderon với tỷ số 0-4. Ngày 28 Tháng 5 năm 2016, Real và Atletico lại đối đầu nhau một lần nữa ở chung kết UEFA Champions League, 2 đội hòa 1-1 sau 120' và Real đã thắng 5-3 sau loạt sút luân lưu.

Kình địch ở châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Bayern Munich[sửa | sửa mã nguồn]

Real đối đầu Bayern năm 2007.

Real MadridBayern Munich là hai trong số những câu lạc bộ thành công nhất tại đấu trường UEFA Champions League, hay các Cup châu Âu khác, Real vô địch mười hai lần và Bayern là năm lần. Real Madrid và Bayern Munich là cặp đấu đầy duyên nợ nhất lịch sử Champions League với 22 lần đối đầu.

Trận thua đậm nhất nhất của Real trên sân nhà là tại vòng bảng thứ 2 Champions League, khi ấy Real tiếp Bayern vào ngày 29 tháng 2 năm 2000 và kết quả là Real thua 2-4. Sau đó hai đội lại gặp nhau ở bán kết năm đó, dù thua 1-2 ở lượt về nhưng với trận thắng 2-0 ở lượt đi, Real Madrid đã giành quyền vào chơi trận chung kết và giành chức vô địch. Một năm sau, Real và Bayern gặp nhau 1 lần nữa ở bán kết Champions League năm 2001, và Bayern đã phục thù thành công khi thắng Real cả hai lượt với tổng tỷ số 3-1. Các cổ động viên Real Madrid thường gọi Bayern là "Bestia negra"("Black Beast").

Năm 2007, hai đội cũng gặp nhau ở vòng 1/16 cúp châu Âu, sau hai lượt đi và về, cả hai đội hòa nhau với tổng tỉ số 4-4, nhưng Bayern đi tiếp nhờ luật bàn thắng trên sân khách. Ngoài ra hai đội cũng đã gặp nhau tại bán kết Champions League 2011-12, kết quả là hòa 3-3 sau 2 lượt, trải qua 2 hiệp phụ và loạt sút luân lưu, Bayern đã giành chiến thắng 3-1 để vào trận chung kết. Sau đó, họ lại gặp nhau tại bán kết Champions League 2013-14, ở lượt đi, Real đã giành được thắng lợi bằng pha lập công duy nhất của tiền đạo Karim Benzema, và trận lượt về với 2 cú đúp của Sergio RamosCristiano Ronaldo, Real đã đánh bại Bayern với tỷ số 4-0 ngay tại Munich, đó cũng là trận thắng đậm nhất của Real trước Bayern trên sân Allianz Arena.

Năm 2017, Real Madrid và Bayern Munich đã gặp nhau tại vòng tứ kết UEFA Champions League. Tại trận lượt đi trên sân Allianz Arena, mặc dù đã có bàn thắng vượt lên dẫn trước, nhưng Bayern Munich đã để Real lội ngược dòng và có được chiến thắng 2-1. Sau đó ở trận lượt về trên đất Tây Ban Nha, Bayern Munich đã xuất sắc đánh bại Real Madrid với tỉ số 2-1 trong 90 phút thi đấu chính thức, và kéo trận đấu đến hiệp phụ. Nhưng do có quá nhiều trụ cột chấn thương, kèm theo thể lực không đảm bảo của các cầu thủ ra sân, nên Bayern đã để Real Madrid ghi liên tiếp 3 bàn và đành chấp nhận thất bại 2-4. Chung cuộc Real Madrid giành chiến thắng 6-3 để tiến vào vòng bán kết.

Juventus[sửa | sửa mã nguồn]

Trận chung kết Cúp châu Âu năm 2017.

Tại Cúp châu Âu, một đối thủ truyền thống khác của Real Madrid là câu lạc bộ đến từ Italia, Juventus. Đây được xem là một trong những trận đấu đáng xem nhất ở châu Âu giữa một đội bóng giàu truyền thống nhất Tây Ban Nha và một đội giàu truyền thống của Italia. Hai đội đã gặp nhau tổng cộng 20 lần và thành tích cân bằng cho cả hai với 9 chiến thắng cho mỗi đội và 2 trận hòa. Lần đầu tiên hai đội gặp nhau là tại vòng tứ kết Champions League mùa giải 1961-1962. Khi ấy tại trận lượt đi, Real Madrid đã đánh bại Juventus với tỉ số 1-0, còn trận lượt về kết quả ngược lại, 1-0 cho Juventus. Lúc ấy chưa có khái niệm hiệp phụ, hai đội buộc phải đá lại 1 trận để phân định thắng thua, kết quả đội bóng đến từ thủ đô Madrid giành chiến thắng với tỉ số 3-1 để vào vòng bán kết.

Cả hai đội còn gặp nhau nhiều lần sau đó. Tại mùa giải 2013-14, Real Madrid và Juventus nằm chung vòng bảng tại UEFA Champions League, tại trận lượt đi các cầu thủ Real Madrid đã đánh bại Juventus với tỉ số 2-1 trên sân Bernabeu, và lượt về sau đó hai đội hòa 2-2 tại Turin. Chính thành tích đối đầu không tốt trước Real Madrid khiến Juventus mùa giải năm ấy bị loại khỏi Cúp châu Âu ngay từ vòng bảng. Một năm sau đó, hai đội cũng chạm trán nhau tại bán kết UEFA Champions League mùa giải 2014-15. Ở trận lượt đi, cựu cầu thủ của Real đang thi đấu cho Juventus là tiền đạo Álvaro Morata ghi bàn mở tỉ số, Real có 1 bàn gỡ hòa nhờ công của Cristiano Ronaldo trước khi Carlos Tévez ấn định chiến thắng 2-1 cho Juve, tạo ra lợi thế nhỏ trước trận lượt về. Trận lượt về trên Sân vận động Santiago Bernabéu ở hiệp 1, Real Madrid đã có bàn thằng nhờ pha đá phạt đền của Ronaldo, tuy nhiên hiệp 2 Juventus có bàn thắng cân bằng tỉ số 1-1 của Morata, đó là pha làm bàn cuối cùng của trận đấu. Kết quả hòa 1-1 và thua chung cuộc 2-3 sau hai lượt trận, Real Madrid bị loại khỏi Champions League năm ấy sau khi đã đăng quang cách đó 1 năm.

Mùa giải 2016-17, Real Madrid và Juventus đã đi đến trận đấu cuối cùng tại Champions League để tranh chức vô địch. Mùa giải ấy Real Madrid đang là đương kim vô địch châu Âu sau khi đã đánh bại Atletico Madrid tại trận chung kết mùa giải trước. Do vậy, cả thế giới đều dự đoán Juventus sẽ là nhà vô địch bởi chưa có đội bóng nào bảo vệ thành công chức vô địch châu Âu. Tuy nhiên trái với dự đoán, Real Madrid đã dễ dàng hạ đội đương kim vô địch đến từ Italia với tỉ số đậm 4-1 nhờ phong độ đang lên của Cristiano Ronaldo và trở thành đội bóng đầu tiên bảo vệ được chức vô địch Champions League.

Mặc dù là kình địch tại các giải Cúp châu Âu, tuy nhiên giữa Juventus và Real Madrid luôn có mối quan hệ tốt trong các vụ chuyển nhượng mà điển hình là trường hợp của tiền đạo Álvaro Morata, tiền vệ Zinédine Zidane hay trung vệ Fabio Cannavaro.

Chuyển nhượng và những vụ mua bán kỳ lạ[sửa | sửa mã nguồn]

Chính sách Galacticos[sửa | sửa mã nguồn]

Kể từ khi Florentino Pérez lên nắm quyền, nhờ tài thương thuyết, ông đã biến Real Madrid thực sự trở thành ông hoàng trong những kỳ chuyển nhượng khi đổ tiền mua những cầu thủ xuất sắc với chính sách “Mỗi năm Bernabeu lại đón thêm một ngôi sao.” Khái niệm Galacticos, có nghĩa là "Dải ngân hà" bắt đầu từ thời đó, ám chỉ một đội hình toàn ngôi sao. Real Madrid khi đó là một đội bóng chuyên mua về những ngôi sao có thành tích xuất sắc trên toàn thế giới về đội hình đắt giá của mình.

Thương vụ đầu tiên khi Perez lên nắm quyền chính là tiền vệ Luís Figo của đại kình địch Barca. Tiền vệ có lối chơi tấn công Figo lúc ấy đang là linh hồn của đội bóng xứ Catalan, đã giúp Barcelona có 2 chức vô địch La Liga liên tiếp vào 1998 và 1999, đáng nói nhất là chức vô địch UEFA Cup năm 1997. Với phong độ xuất sắc ấy, Luis Figo nghiễm nhiên trở thành con bài khi Peréz đứng ra tranh cử chức chủ tịch Real Madrid. Nhìn thấy lỗ hỏng trong bản hợp động của Figo bên phía Barca, ông đã cài điều khoản đặc biệt khiến Figo phải cập bến Bernabeu bất chấp sự phản đối từ phía CĐV đội bóng xứ Catalan, Figo gia nhập đội bóng hoàng gia với mức phí kỷ lục thời đấy là 60 triệu euro.

Còn Zinédine Zidane của Juventus F.C. tại Ý cũng đã giúp câu lạc bộ chủ quản của mình vào đến trận Chung kết UEFA Champions League 1998 trước khi để thua chính Real Madrid. Ngoài ra Zizou cũng cùng Juve vô địch Serie A năm 1997 và 1998. Zidane khi đó đã lọt vào mắt xanh của chủ tịch Florentino Pérez. Vào năm 2001 Perez dò la được Zidane thích đến một nhà hàng tại Pháp, ông liền có mặt như chuyện tình cờ và trong cuộc gặp ở nhà vệ sinh nam ông đã thuyết phục được Zidane gia nhập Real Madrid từ Juventus với giá 72 triệu euro, phá kỷ lục cũ của Figo. Và chính Zidane sau đó là người ghi bàn thắng quyết định trong trận Chung kết UEFA Champions League 2002 trước Bayer Leverkusen giúp Real Madrid lần thứ 9 lên ngôi vô địch.

Beckham và Zidane.

Năm 2002, sau khi vô địch Giải bóng đá vô địch thế giới 2002 cùng Đội tuyển bóng đá quốc gia Brasil, Ronaldo trở lại Ý với CLB chủ quản của mình, Inter Milan. Khi đó người đại diện bên phía Barca đã gặp Peréz, yêu cầu mua tiền đạo Morientes bên phía Real, đồng thời cũng liên hệ Inter để mua Ronaldo. Khi ấy Peréz yêu cầu bên phía Barca nhượng Ronaldo lại thì mới bán Morientes, và Barca đã gật đầu. Khi ấy Inter đã mua sẵn Hernán Crespo và để Ronaldo gia nhập Real Madrid nhưng rồi bất ngờ đã xảy ra, Barca thông báo không mua Morientes nữa, nhận ra đã bị Barca "chơi khăm" bởi nếu không bán được Morientes, Real sẽ không có tiền trả lương cho Ronaldo lẫn Morientes và đội bóng hoàng gia đành ngậm ngùi chấp nhận lỗ trong thương vụ này. Khi ấy Ronaldo đã gia nhập Real Madrid với mức phí chuyển nhượng 45 triệu euro.

Không chỉ ở Tây Ban Nha, Ý, mà nước Anh cũng là nơi mà Florentino Pérez đi tìm những bản hợp đồng chất lượng cho đội bóng của mình. Vào năm 2003, mục tiêu của ông chính là tiền vệ David Beckham của Manchester United. Tiền về hào hoa này đang là một trong những thần tượng số 1 tại sân Old Trafford dưới thời huấn luyện viên Sir Alex Ferguson. Đóng góp lối chơi trong 6 chức vô địch Giải Ngoại Hạng Anh và cú ăn ba của Manchester United vào năm 1999, Beckham bất ngờ gia nhập đội chủ sân Bernabeu với giá 35 triệu euro. Đã có tin đồn rằng Beckham và Sir Alex đã có những xích mích trong phòng thay đồ và Real Madrid đã nhanh tay giành lấy chữ ký của tiền vệ người Anh dù trước đó Peréz đã tuyên bố sẽ không mua Beckham và Barca khi đó đã trả giá cao hơn trong cuộc đua để sở hữu tiền vệ này.

Và bản hợp đồng lớn cuối cùng trong nhiệm kỳ đầu tiên của Pérez chính là hậu vệ trẻ đang chơi cho Sevilla, Sergio Ramos. Nhiều người đã cho rằng Pérez điên khi trả giá đến 27 triệu euro để lấy đi một hậu vệ chưa khẳng định được mình trên đấu trước quốc tế, mà còn là một cầu thủ chỉ mới 19 tuổi, đó là một mức giá kỷ lục cho độ tuổi này. Nhưng Pérez đã không lầm, Ramos sau đó đã trở thành trung vệ trụ cột của Đội tuyển bóng đá quốc gia Tây Ban Nha và trở thành đội trưởng của Real Madrid sau này.

Trong nhiệm kỳ thứ 2 khi Florentino Pérez lên nắm quyền, ông đã xây dựng chính sách Galacticos 2.0 của mình. Mục tiêu đầu tiên chính là một số 7 khác của Manchester United, tiền đạo Cristiano Ronaldo. Ronaldo dưới bàn tay dẫn dắt của ngài Sir Alex đã vươn lên trở thành một trong những cầu thủ xuất sắc nhất thế giới khi giúp M.U vô địch Giải ngoại hạng trong 3 năm liên tiếp từ 2007 đến 2009, ghi bàn thắng trong trận Chung kết UEFA Champions League 2008 vào lưới Chelsea và đỉnh cao là đoạt Quả Bóng Vàng châu Âu năm 2008. Với thành tích ấn tượng trên, Ronaldo đã trở thành cầu thủ mà Pérez quyết mua bằng được. Với tài thương thuyết, Pérez đã thuyết phục được tiền đạo người Bồ Đào Nha về với sân Bernabeu với mức giá 94 triệu euro, trở thành cầu thủ đắt giá nhất lúc bấy giờ.

Một cầu thủ khác cũng có thành tích như Cristiano Ronaldo nằm trong danh sách ưa thích của Florentino Pérez là tiền vệ người Brazil, Kaká. Được Milan mua về từ năm 2003, cùng với danh hiệu vô địch World Cup 2002, Kaká trở thành một trong những tiền vệ công xuất sắc nhất thế giới. Việc giúp Milan giành chức vô địch UEFA Champions League 2006-07 và sau đó giành luôn danh hiệu Quả bóng vàng châu Âu năm 2007, Kaká đã được chèo kéo về Real Madrid. Năm 2009, Kaká chính thức đầu quân cho đội bóng áo trắng với mức phí chuyển nhượng 65 triệu euro. Có nhiều thông tin cho rằng, Kaká về Real là thỏa thuận ngầm của Florentino Pérez khi ông chưa đắc cử và chủ tịch của Milan, Silvio Berlusconi nhằm đẩy đương kim chủ tịch Real Madrid khi ấy là Ramón Calderón ra khỏi sân Bernabeu.

Tuy nhiên trong mùa giải đầu tiên của nhiệm kỳ thứ 2, Real Madrid của “bố già” Pérez lại tiếp tục trắng tay, nên ông luôn yêu cầu về chiều sâu đội hình. Sau đó chứng kiến phong độ cực kì xuất sắc của Luka ModrićGareth Bale trong màu áo Tottenham Hotspur giúp câu lạc bộ này thi đấu thăng hoa ở Giải ngoại hạng Anh, Real Madrid đã lên kế hoạch thâu tóm bộ đôi cầu thủ của CLB thành London. Đầu tiên, Pérez đã thuyết phục được Modric gia nhập Real với mức giá 30 triệu euro vào năm 2013, nhưng trong mùa giải đó, Real lại trắng tay, một điều khó chấp nhận, và hệ quả năm 2014, Real Madrid bỏ ra gần 100 triệu euro để đón Gareth Bale về Madrid, và trở thành bản hợp đồng đắt giá nhất khi ấy. Trong mùa giải đó, Bale đã giúp Real vô địch UEFA Champions League 2013-14.

Sau khi giành chiến thắng tại trận Chung kết UEFA Champions League 2014 và giành chức vô địch, Real Madrid đã trở thành điểm đến thu hút của nhiều ngôi sao trên thế giới. Đầu tiên, khi nhìn thấy hợp đồng giữa Toni KroosBayern Munich đang bị trì trệ bởi những mâu thuẫn về mức lương trong khi hợp đồng giữa đôi bên chỉ còn đúng 1 năm, đồng thời tiền vệ Xabi Alonso cũng đã ra đi, Pérez biết Real Madrid cần 1 người để thay thế. Thế là ông đã nhanh tay đề ra bản hợp đồng hấp dẫn hơn, và kết quả Kroos đã về với đội bóng áo trắng với mức phí chỉ 25 triệu euro, thấp hơn nhiều so với giá trị của cầu thủ đã giúp Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức giành chiến thắng tại Giải bóng đá vô địch thế giới 2014. Tuy không giúp Đội tuyển bóng đá quốc gia Colombia tiến sâu tại World Cup 2014, nhưng với phong độ xuất sắc và danh hiệu Vua phá lưới với 6 bàn thắng, James Rodríguez cũng đã được mời chào đến Madrid để chơi bóng. Mọi thỏa thuận đều diễn ra nhanh chóng và Real đã có chữ ký của tiền vệ công người Colombia này từ AS Monaco với giá 80 triệu euro, cao thứ 3 thế giới lúc đó.

Với việc sở hữu dàn cầu thủ giỏi như Cristiano Ronaldo, Gareth Bale, James Rodríguez, Toni Kroos hay Luka Modrić, Real Madrid hiện tại đang sở hữu một dàn Galacticos mạnh không kém gì những Zinédine Zidane, Luís Figo, David Beckham hay Ronaldo trong nhiệm kỳ đầu của Pérez.

Chính sách Galacticos trẻ hóa[sửa | sửa mã nguồn]

Sau nhiều năm luôn săn đón để đem về những bản hợp đồng lớn với những ngôi sao đang ở tuổi chín của sự nghiệp, thì trong 2 mùa giải gần đây, Real Madrid đã thêm chính sách mua sắm khác nhằm trẻ hóa lực lượng đồng thời tạo điều kiện cho kế hoạch sử dụng lâu dài trong tương lai. Việc chủ tịch Peréz của Real Madrid luôn áp dụng chính sách mua sắm cũ đã khiến Real Madrid không sở hữu nhiều cầu thủ nội địa. Vì vậy trong những năm gần đây, Real đã vung tiền để bổ sung thêm những cầu thủ mang quốc tịch Tây Ban Nha với tuổi đời trẻ, có tiềm năng triển vọng hoặc những cầu thủ nước ngoài nhưng ở độ tuổi trẻ trung, đã khẳng định được đẳng cấp lứa trẻ về sân Bernabeu nhằm thay thế các trụ cột đã luống tuổi trong tương lai. Vào mùa hè 2015, Real Madrid đã thi hành chiến lược mua sắm này. Bản hợp đồng đầu tiên cho việc trẻ hóa nội địa là Marco Asensio. Đã có thông tin cho rằng, Rafael Nadal, một cổ động viên lớn của Real Madrid đã thuyết phục thành công đội bóng yêu thích của mình đem về tiền vệ 19 tuổi này bởi câu lạc bộ Real Mallorca, đội bóng chủ quản của Asensio khi ấy đồng thời cũng là nơi Nadal là một cổ đông. Sau đó, Florentino Peréz đã đem về một bản hợp đồng chất lượng khác ở vị trí hàng thủ, là hậu vệ 18 tuổi, Jesús Vallejo đến từ Real Zaragoza. Như vậy trong một mùa hè, chỉ với 8,5 triệu euro bỏ ra, Real Madrid đã sở hữu hai ngôi sao sáng giá của đội tuyển U21 Tây Ban Nha để phục vụ cho kế hoạch trong tương lai của mình.

Bước sang mùa hè 2017, sau khi đã dành chức vô địch Champions League trong 2 năm liên tiếp, với khoản tiền thưởng có được trong tay, Real đã mang về thêm một loạt cầu thủ trẻ khác. Đầu tiên họ đã gây sốc khi vung đến 45 triệu euro để mang về một cầu thủ chỉ mới 16 tuổi của Brazil, Vinícius Júnior đồng thời biến anh trở thành cầu thủ tuổi teen đắt giá nhất thế giới. Anh sẽ gia nhập sân Bernabeu vào năm 2019 sau khi được cho mượn tại câu lạc bộ Flamengo trong 2 năm. Tiếp theo đó, đội bóng hoàng gia lại chi tiếp số tiền 26 triệu euro để mang về hậu vệ cánh trái Theo Hernandez của kình địch cùng thành phố Atlético Madrid và đánh bại luôn đại kình địch lớn nhất của mình là Barcelona để giành được chữ ký của một sao trẻ người Tây Ban Nha khác đã chơi rất hay tại giải U21 Tây Ban Nha là Dani Ceballos. Ngoài ra Real còn đôn thêm Marcos Llorente từ đội trẻ Real Madrid Castilla lên đội một. Với việc cầu thủ Theo Hernanez đang mang quốc tịch Pháp và chuẩn bị nhập quốc tịch Tây Ban Nha, cùng với việc sở hữu Jesús Vallejo, Dani Ceballos, Marcos Llorente, lần đầu tiên trong hơn 3 thập kỷ, Real Madrid mới sở hữu hơn 3 tuyển thủ U21 Tây Ban Nha trong đội hình.

Mối quan hệ với Jorge Mendés[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid giống như những câu lạc bộ nằm trên bán đảo Iberia khác, luôn tạo ra những mối quan hệ tốt với người đại diện của cầu thủ để nhờ đó có thể mang về những bom tấn với giá cả hợp lý. Các cầu thủ thuộc Mỹ Latin thường hay chọn người đại diện là Jorge Mendes, và hiển nhiên với một câu lạc bộ sở hữu nhiều cầu thủ Mỹ Latin như Real Madrid thì việc họ có một mối quan hệ tích cực với người đại diện được xem là "tay cò" hay nhất thế giới này cũng không phải là điều xa lạ. Sở dĩ câu lạc bộ có quan hệ tốt với Mendes bởi trong khoảng nửa đầu năm 2013, có tới 8 khách hàng của Mendes đang đầu quân cho Real Madrid.

Vào năm 2007, Real bắt đầu công cuộc tái thiết lại đội hình trước sự thống trị của Barcelona trong những năm gần đây, đội bóng áo trắng cần cải thiện lại hàng phòng ngự khi những công thần tại hậu tuyến này đã quá già nua và Mendes đã thuyết phục được trung vệ Pepe gia nhập đội chủ sân Bernábeu với giá 30 triệu euro. Trong quá khứ, Mendes từng giúp Real Madrid đạt được thỏa thuận có chữ kí của vị huấn luyện viên đồng hương José Mourinho khi ông này vừa đoạt cú ăn ba cùng Inter Milan trong năm 2010. Trong năm 2010, ngoài Mourinho, Mendés cũng giúp Real có được tiền vệ chạy cánh Ángel Di María từ Benfica. Một năm trước đó, ông cũng giúp Real Madrid có được chữ kí của một trong những ngôi sao sáng giá nhất thế giới thời điểm ấy, tiền đạo của Manchester United, Cristiano Ronaldo đồng thời cũng là người có mối quan hệ rất thân mật với ông. Trong giai đoạn Real Madrid dưới sự chỉ đạo của José Mourinho, danh sách cầu thủ của đội bóng áo trắng ngoài ra còn sở hữu rất nhiều cầu thủ mang quốc tịch Bồ Đào Nha khác, trong số đó có Fábio Coentrão, Ricardo Carvalho, tất cả đều là khách hàng của Mendes.

Trong năm 2014, Real cũng từng nhờ cậy đến Mendes để có được chữ ký của tiền vệ James Rodríguez sau khi anh này tỏa sáng rực rỡ trong màu áo đội tuyển Colombia tại World Cup ở Brazil. Mặc dù liên tục bị Monaco hét giá nhưng với tài thuyết phục của Mendes đã giúp Real có được sự phục vụ của "số 10" hào hoa này. Một năm sau, trong khi Real Madrid đang tìm một hậu vệ cánh để thay thế cho Álvaro Arbeloa đã ngoài 30 không còn đảm bảo yếu tố thể lực, và Mendes dẵ giúp đội bóng thủ đô Madrid qua mặt MU để sở hữu thêm một khách hàng của mình, là hậu vệ cánh Danilo của Porto nhờ mối quan hệ tốt với đội bóng Bồ Đào Nha này. Tuy nhiên không phải lúc nào Real Madrid cũng có thể chuyển nhượng thành công nhờ tài của Mendes. Cũng trong mùa hè 2015, sau khi giúp Real có Danilo, Mendes từng cố gắng “cài cắm” một khách hàng nữa của mình vào đội hình của Real Madrid, đó là thủ thành David de Gea. Khi đó De Gea chỉ còn một năm hợp đồng với MU, Mendes đã có thể giúp Real ép giá đội bóng nước Anh để có thể sở hữu thủ môn xuất sắc của đội tuyển Tây Ban Nha để thay thế cho tượng đài Iker Casillas đã ra đi. Tuy nhiên mọi nỗ lực đưa thủ thành De Gea của Manchester United về sân Bernabeu đã thất bại đúng vào phút chót của kỳ chuyển nhượng mặc dù cả hai bên đều đồng ý với mức phí chuyển nhượng.

Những kỉ lục chuyển nhượng[sửa | sửa mã nguồn]

Real Madrid nổi tiếng với những bản hợp đồng chuyển nhượng bom tấn, đáng nói nhất là Cristiano RonaldoGareth Bale.

# Cầu thủ Từ CLB Mức phí
[40][41]
Thời gian Nguồn
1 Wales Gareth Bale Tottenham €100,000,000 9/2013 [42]
2 Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo Manchester United €94,000,000 6/2009 [43]
3 Colombia James Rodríguez Monaco €80,000,000 7/2014 [44]
4 Pháp Zinedine Zidane Juventus €75,000,000 7/2001 [45]
5 Brasil Kaká Milan €68,500,000 6/2009 [46]
6 Bồ Đào Nha Luís Figo Barcelona €54,800,000 7/2000 [47]
7 Brasil Ronaldo Inter €45,000,000 2/2002 [48]
8 Croatia Luka Modrić Tottenham €42,350,000 9/2012 [49]
8 Tây Ban Nha Xabi Alonso Liverpool €42,350,000 8/2009 [50]
10 Pháp Karim Benzema Lyon €41,000,000 8/2009 [51]

Kỉ lục giá bán:

# Cầu thủ Đến CLB Mức phí
[40][41]
Thời gian Nguồn
1 Tây Ban Nha Álvaro Morata Chelsea €80,000,000 7/2017 [52]
2 Argentina Ángel Di María Manchester United €75,000,000 8/2014 [53]
3 Đức Mesut Özil Arsenal €50,000,000 9/2013 [54]
4 Brasil Robinho Manchester City €42,500,000 9/2008 [55]
5 Argentina Gonzalo Higuaín Napoli €39,000,000 7/2013 [56]
6 Pháp Nicolas Anelka Paris Saint-Germain €35,600,000 7/2000 [57]
7 Brasil Danilo Manchester City €30,000,000 7/2017 [58]
8 Anh Michael Owen Newcastle United €25,000,000 9/2005 [59]
9 Tây Ban Nha Jesé Rodríguez Paris SG €25,000,000 8/2016 [60]
10 Hà Lan Arjen Robben Bayern Munich €24,000,000 8/2009 [61]

Ban lãnh đạo[sửa | sửa mã nguồn]

Ban huấn luyện[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí Tên
HLV trưởng Zinédine Zidane
Trợ lý HLV David Bettoni
Trợ lý HLV Hamidou Msaidie
HLV thủ môn Luis Llopis
HLV thể lực Bernardo Requena
Ủy nhiệm trận đấu Chendo
  • Cập nhật lần cuối: 31 tháng 5 năm 2016
  • Nguồn: Real Madrid

Hội đồng quản trị[sửa | sửa mã nguồn]

Chủ tịch Florentino Pérez.
Vị trí Tên
Chủ tịch Florentino Pérez
Phó chủ tịch Fernando Fernández Tapias
Phó chủ tịch Eduardo Fernández de Blas
Thư ký Enrique Sánchez González
Tổng giám đốc José Ángel Sánchez
Giám đốc văn phòng chủ tịch Manuel Redondo
Giám đốc xã hội José Luis Sánchez

Thống kê[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 23 tháng 5 năm 2015, danh sách cầu thủ khoác áo nhiều nhất là:

# Tên Giai đoạn Số trận Bàn thắng
1 Tây Ban Nha Raúl 1994 - 2010 741 323
2 Tây Ban Nha Iker Casillas 1999 - 2015 725 0
3 Tây Ban Nha Manuel Sanchís 1983 - 2001 710 40
4 Tây Ban Nha Carlos Santillana 1971 - 1988 645 289
5 Tây Ban Nha Fernando Hierro 1989 - 2003 601 128
6 Tây Ban Nha Francisco Gento 1953 - 1971 599 179
7 Tây Ban Nha José Antonio Camacho 1973 - 1989 577 11
8 Tây Ban Nha Pirri 1964 - 1979 561 171
9 Tây Ban Nha Míchel 1981 - 1996 559 130
10 Tây Ban Nha Guti 1995 - 2010 542 76

Tính đến ngày 31 tháng 10 năm 2015, danh sách cầu thủ ghi bàn nhiều nhất là:

# Tên Giai đoạn Bàn thắng Số trận Hiệu suất
1 Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo 2009 - nay 527 384 1.05
2 Tây Ban Nha Raúl 1994 - 2010 323 741 0.44
3 Argentina Alfredo Di Stéfano 1953 - 1964 307 396 0.78
4 Tây Ban Nha Carlos Santillana 1971 - 1988 289 645 0.45
5 Hungary Ferenc Puskás 1958 - 1966 242 262 0.92
6 México Hugo Sànchez 1985 - 1992 208 282 0.74
7 Tây Ban Nha Francisco Gento 1952 - 1970 179 599 0.3
8 Pháp Karim Benzema 2009 - nay 176 319 0.5
9 Tây Ban Nha Pirri 1964 - 1979 172 561 0.3
10 Tây Ban Nha Emilio Butragueño 1983 - 1995 171 463 0.37

Tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Căn cứ theo website chính thức của câu lạc bộ

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới 8 tháng 9 năm 2017

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Costa Rica TM Keylor Navas
2 Tây Ban Nha HV Daniel Carvajal
3 Tây Ban Nha HV Jesús Vallejo
4 Tây Ban Nha HV Sergio Ramos (đội trưởng)
5 Pháp HV Raphaël Varane
6 Tây Ban Nha HV Nacho Fernández
7 Bồ Đào Nha Cristiano Ronaldo (đội phó 2)
8 Đức TV Toni Kroos
9 Pháp Karim Benzema (đội phó 3)
10 Croatia TV Luka Modrić
11 Wales Gareth Bale
12 Brasil HV Marcelo (đội phó 1)
Số áo Vị trí Cầu thủ
13 Tây Ban Nha TM Kiko Casilla
14 Brasil TV Casemiro
15 Pháp HV Theo Hernández
17 Tây Ban Nha Lucas Vázquez
18 Việt Nam Bùi Quang Minh
19 Maroc HV Achraf Hakimi
20 Tây Ban Nha TV Marco Asensio
21 Tây Ban Nha Borja Mayoral
22 Tây Ban Nha TV Isco
23 Croatia TV Mateo Kovačić
24 Tây Ban Nha TV Dani Ceballos
30 Pháp TM Luca Zidane

Đội trẻ Castilla[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 28 tháng 7 năm 2016

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Tây Ban Nha TM Carlos Abad
32 Bỉ TM Alex Craninx
30 Pháp TM Luca Fernández
34 Áo HV Philipp Lienhart
Tây Ban Nha HV Jaime Sánchez
Tây Ban Nha HV José León
Tây Ban Nha HV Dani Fernández
Brasil HV Abner
33 Maroc HV Achraf Hakimi
Tây Ban Nha HV Mario Hermoso
Tây Ban Nha HV Héctor Martínez
35 Tây Ban Nha HV Álvaro Tejero
Tây Ban Nha HV Sergio Reguilón
Cộng hòa Dominica HV Luismi Quezada
36 Tây Ban Nha TV Aleix Febas
Số áo Vị trí Cầu thủ
Tây Ban Nha TV José Lazo
Tây Ban Nha TV Francisco Tena
Tây Ban Nha TV Javier Muñoz
27 Tây Ban Nha TV Marcos Llorente
29 Pháp TV Enzo
Tây Ban Nha TV Cristian Cedrés
Tây Ban Nha TV Álvaro Jiménez
Tây Ban Nha TV Fran Pérez
Na Uy TV Rafik Zekhnini
Tây Ban Nha TV Borja Sánchez
Tây Ban Nha Raúl de Tomás
Ecuador Jordán Gaspar
38 Paraguay Sergio Díaz
Tây Ban Nha Víctor Campuzano
Trung Quốc Lin Liangming

Danh sách cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Cập nhật: 19 tháng 8 năm 2016

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Bồ Đào Nha HV Fábio Coentrão (tới Sporting CP đến hết 30/6/2018)
Áo HV Philipp Lienhart (tới Freiburg đến hết 30/6/2018)
Na Uy TV Martin Ødegaard (tới Heerenveen đến hết 30/6/2018)
Colombia TV James Rodríguez (tới Bayern Munich đến hết 30/6/2019)
Brasil TV Lucas Silva (tới Cruzeiro đến hết 30/6/2018)
Số áo Vị trí Cầu thủ
Uruguay TV Federico Valverde (tới Deportivo La Coruña đến hết 30/6/2018)
Tây Ban Nha TV Aleix Febas (tới Zaragoza đến hết 30/6/2018)
Tây Ban Nha TV Javi Muñoz (tới Lorca đến hết 30/6/2018)
Paraguay Sergio Díaz (tới Lugo đến hết 30/6/2018)

Thành tích[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng trường Cibeles, nơi CLB thường xuyên diễu hành chức vô địch.

Real Madrid trong hơn 115 năm lịch sử tồn tại đã giành được nhiều danh hiệu quốc gia và quốc tế. Trong số đó nổi bật nhất là 12 danh hiệu vô địch châu Âu, 2 UEFA Cup, 4 siêu cúp châu Âu, 3 Cúp liên lục địa và 2 FIFA Club World Cup, còn về danh hiệu quốc nội, đội bóng hoàng gia đã vô địch La Liga tổng cộng 33 lần, nhiều nhất tại Tây Ban Nha cùng 19 Cup Nhà Vua Tây Ban Nha, 10 Siêu cúp Tây Ban Nha, 1 League Cup.

Được công nhận là câu lạc bộ tốt nhất của thế kỷ XX bởi FIFA, Real Madrid cũng là câu lạc bộ duy nhất sở hữu chiếc cúp phiên bản gốc, được UEFA trao cho nhờ sự thành công tại đấu trường này, cho phép đội bóng được quyền in trên tay áo bên trái của bộ đồng phục danh hiệu vô địch nhiều nhất của giải đấu.

Đối với chuỗi thành tích bất bại, câu lạc bộ tự hào có giai đoạn bất bại dài nhất của bóng đá Tây Ban Nha. Giữa năm 2016 và 2017 câu lạc bộ duy trì một chuỗi bốn mươi trận liên tiếp bất bại trên mọi đấu trường, có nghĩa là thành tích tốt nhất trong nước của họ qua hơn 115 năm lịch sử, tốt nhất thứ tư ở châu Âu, và thứ năm trong thế giới

Danh hiệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế
Chức vô địch châu Âu năm 2017.
Quốc gia
Chức vô địch La Liga 2017.
  • Liga trophy (adjusted).png La Liga: 33 lần (kỉ lục)
    • 1931/32; 1932/33; 1953/54; 1954/55; 1956/57; 1957/58; 1960/61; 1961/62; 1962/63; 1963/64 Ngôi sao scudetto (vô địch lần thứ 10)
    • 1964/65; 1966/67; 1967/68; 1968/69; 1971/72; 1974/75; 1975/76; 1977/78; 1978/79; 1979/80 Ngôi sao scudetto (vô địch lần thứ 20)
    • 1985/86; 1986/87; 1987/88; 1988/89; 1989/90; 1994/95; 1996/97; 2000/01; 2002/03; 2006/07 Ngôi sao scudetto (vô địch lần thứ 30)
    • 2007/08; 2011/12; 2016/17
  • RFEF - Copa del Rey.svg Copa del Rey: 19 lần
    • 1904/05; 1905/06; 1906/07; 1907/08; 1916/17; 1933/34; 1935/36; 1945/46; 1946/47; 1961/62 Ngôi sao scudetto (vô địch lần thứ 10)
    • 1969/70; 1973/74; 1974/75; 1979/80; 1981/82; 1988/89; 1992/93; 2010/11; 2013/14.
  • RFEF - Supercopa de España.svg Siêu Cúp Tây Ban Nha (Supercopa de España): 10 lần.
    • 1988; 1989; 1990; 1993; 1997; 2001; 2003; 2008; 2012; 2017.
  • Copa de Liga de España2.svg Cúp Liên đoàn bóng đá Tây Ban Nha (Copa de la Liga): 1 lần.
    • 1984/85.

Các giải thưởng khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cúp Santiago Bernabéu (26):
    • 1981; 1983; 1984; 1985; 1987; 1989; 1991; 1994; 1995; 1996;
    • 1997; 1998; 1999; 2000; 2003; 2005; 2006; 2007; 2008; 2009;
    • 2010; 2011; 2012; 2013; 2015; 2016
  • Cúp Latin (2): 1955; 1957.
  • Cúp Bách niên AC Milan (1): 2000.
  • Cúp Thế giới Nhỏ (2): 1952; 1956.
  • Cúp Teresa Herrera (9): 1949; 1953; 1966; 1976; 1978;1979; 1980; 1994; 2013.
  • Cúp Thành phố Barcelona (3): 1983; 1985; 1988.
  • Cúp Ramón de Carranza (6): 1958; 1959; 1960; 1966; 1970; 1982.
  • Cúp Benito Villamarín (1): 1960.
  • Cúp Thành phố La Línea (5): 1978; 1981; 1982; 1986; 2000.
  • Cúp Ciutat de Palma (4): 1975; 1980; 1983; 1990.
  • Cúp Euskadi Asegarce (3): 1994; 1995; 1996.
  • Cúp Colombino (3): 1970; 1984; 1989.
  • Cúp Thành phố Vigo (2): 1951; 1982.
  • Cúp Cam (Orange Cup) (2): 1990; 2003.
  • Cúp Mohamed V (1): 1966.
  • Cúp Thành phố Caracas (1): 1980.
  • Cúp Iberia (1): 1994.
  • Cúp Mancomunado (5): 1931/32; 1932/33; 1933/34; 1934/35; 1935/36.
  • Cúp Año Santo Compostelano (1): 1970.
  • Guinness International Champions Cup (3): 2013; 2015 (2 lần - ICC Australia, ICC China).

Chủ tịch câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Logo Real Madrid.svg
Các đời chủ tịch

Từ ngày thành lập đến nay, các chủ tịch câu lạc bộ Real Madrid đều là người Tây Ban Nha.

Huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Danh sách này chỉ liệt kê những huấn luyện viên đã từng giành được một chức vô địch nào đó với đội bóng[63][64]
.
Tên Giai đoạn Vô địch Tổng cộng
Quốc nội Quốc tế
LL SC SS LC C1 C3 USC IC
Anh Arthur Johnson 1910–20
5
5
Hungary Lippo Hertzka 1930–32
1
1
Anh Robert Firth 1932–34
1
1
Tây Ban Nha Francisco Bru 1934–36, 1939–41
1
1
Tây Ban Nha Jacinto Quincoces 1945–46, 1947–48
1
1
Tây Ban Nha Baltasar Albéniz 1946–47, 1950–51
1
1
Uruguay Enrique Fernández 1953–54
1
1
Tây Ban Nha José Villalonga 1954–57
2
2
4
Argentina Luis Carniglia 1957–59, 1959
1
2
3
Tây Ban Nha Miguel Muñoz 1959, 1960–74
9
2
2
1
14
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Miljan Miljanić 1974–77
2
1
3
Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Vujadin Boškov 1979–82
1
1
2
Tây Ban Nha Luis Molowny 1974, 1977–79, 1982, 1985–86
3
3
1
2
9
Hà Lan Leo Beenhakker 1986–89, 1992
3
1
1
5
Wales John Toshack 1989–90, 1999
1
1
2
Tây Ban Nha Alfredo di Stéfano 1990–91
1
1
Tây Ban Nha Benito Floro Sanz 1992–94
1
1
2
Argentina Jorge Valdano 1994–96
1
1
Đức Jupp Heynckes 1997–98
1
1
2
Hà Lan Guus Hiddink 1998–99
1
1
Tây Ban Nha Del Bosque 1999-2003
2
1
2
1
1
7
Bồ Đào Nha Carlos Queiroz 2003–04
1
1
Ý Fabio Capello 1996-97, 2006–07
2
2
Đức Bernd Schuster 2007–08
1
1
2
Bồ Đào Nha José Mourinho 2010–2013
1
1
1
3
Ý Carlo Ancelotti 2013–2015
1
1
1
1
4
Pháp Zinédine Zidane 2016–nay
1
1
2
2
1
7
Tổng thành tích 1910–nay 33 19 10 1 12 2 4 5 86

Các đối thủ cùng thành Madrid[sửa | sửa mã nguồn]

Ba câu lạc bộ khác cùng thành phố là Atlético Madrid đang thi đấu ở La Liga còn hai câu lạc bộ còn lại là GetafeRayo Vallencano đang thi đấu ở Giải Hạng nhì Tây Ban Nha.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Los vikingos arrasan Europa”. Ligadecampeones.com. 23 tháng 11 năm 1960. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2013. 
  2. ^ a ă Luís Miguel González. “Pre-history and first official title (1900–1910)”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  3. ^ “Santiago Bernabéu Stadium | Real Madrid CF”. Real Madrid C.F. - Web Oficial (bằng tiếng Anh). Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017. 
  4. ^ “Deloitte Football Money League 2015” (PDF). Deloitte UK. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2015. 
  5. ^ “The World's Most Valuable Soccer Teams”. Forbes. 
  6. ^ Badenhausen, Kurt (15 tháng 7 năm 2013). “Real Madrid Tops The World's Most Valuable Sports Teams”. Forbes. Truy cập ngày 13 tháng 12 năm 2013. 
  7. ^ Dongfeng Liu, Girish Ramchandani (2012). "The Global Economics of Sport". p. 65. Routledge,
  8. ^ “World Football: The 11 Most Successful European Clubs in History”. Truy cập ngày 22 tháng 1 năm 2012. 
  9. ^ Ball, Phil p. 117.
  10. ^ “History — Chapter 1 – From the Estrada Lot to the nice, little O’Donnel pitch”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008. 
  11. ^ Luís Miguel González. “Bernabéu's debut to the title of Real (1911–1920)”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  12. ^ Luís Miguel González (ngày 28 tháng 2 năm 2007). “A spectacular leap towards the future (1921–1930)”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  13. ^ a ă Luís Miguel González. “The first two-time champion of the League (1931–1940)”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2008. 
  14. ^ “Real Madrid v Barcelona: six of the best 'El Clásicos'. London: The Telegraph. Ngày 9 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  15. ^ Aguilar, Paco (ngày 10 tháng 12 năm 1998). “Barca - Much more than just a Club”. FIFA. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  16. ^ Ball, Phil (ngày 12 tháng 12 năm 2003). Morbo: the Story of Spanish Football. WSC Books Ltd. ISBN 978-0-9540134-6-2. 
  17. ^ Spaaij, Ramn (2006). Understanding football hooliganism: a comparison of six Western European football clubs. Amsterdam: Amsterdam University Press. ISBN 978-90-5629-445-8. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2011. 
  18. ^ a ă Luís Miguel González. “Bernabéu begins his office as President building the new Chamartín Stadium (1941–1950)”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  19. ^ a ă Luís Miguel González. “An exceptional decade (1951–1960)”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  20. ^ Matthew Spiro (ngày 12 tháng 5 năm 2006). “Hats off to Hanot”. uefa.com. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008. 
  21. ^ “Regulations of the UEFA Champions League” (PDF). UEFA. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. ; Page 4, §2.01 "Cup" & Page 26, §16.10 "Title-holder logo"
  22. ^ a ă Luís Miguel González. “The generational reshuffle was successful (1961–1970)”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  23. ^ “Trophy Room”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  24. ^ “European Competitions 1971”. RSSS. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2008. 
  25. ^ “Santiago Bernabéu”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2008. 
  26. ^ “The "Quinta del Buitre" era begins”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008. 
  27. ^ a ă Luís Miguel González (ngày 5 tháng 3 năm 2008). “1981–1990 – Five straight League titles and a new record”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  28. ^ “1991–2000 – From Raúl González to the turn of the new millennium”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  29. ^ “Florentino Pérez era” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  30. ^ “Figo's the Real deal”. BBC Sport. Ngày 24 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  31. ^ “2001 – nay — Real Madrid surpasses the century mark”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  32. ^ “BBC Sport | Football | Europe | Perez resigns as Madrid president”. BBC News. Ngày 27 tháng 2 năm 2006. Truy cập ngày 7 tháng 1 năm 2012. 
  33. ^ Cristina Monge (ngày 18 tháng 6 năm 2007). “Real Madrid 3–1 Mallorca”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  34. ^ Ghi chú tại đây
  35. ^ “First measures adopted by the Real Madrid Board of Directors”. Realmadrid.com. Ngày 1 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2011. 
  36. ^ “Perez to return as Real president”. BBC Sport. Ngày 1 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 3 tháng 6 năm 2009. 
  37. ^ The Times Madrid Signs Kaká timesonline.co.uk
  38. ^ a ă â b “Escudo Real Madrid” (bằng tiếng Tây Ban Nha). santiagobernabeu.com. Truy cập ngày 29 tháng 11 năm 2008. 
  39. ^ “Presidents — Pedro Parages”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 18 tháng 7 năm 2008. 
  40. ^ a ă “History of the world transfer record”. BBC Sport. Ngày 11 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  41. ^ a ă “World's Highest Transfer Fees”. Web.archive.org. Ngày 25 tháng 8 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 8 năm 2007. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2013. 
  42. ^ “Bale's transfer fee revealed”. FIFA.com. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015. 
  43. ^ “BBC SPORT”. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015. 
  44. ^ “Real Madrid seal £71m Rodriguez deal”. BBC Sport. Truy cập 30 tháng 9 năm 2015. 
  45. ^ “Zidane makes record Real switch”. BBC Sport. Ngày 9 tháng 7 năm 2001. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2008. 
  46. ^ “Kaka completes Real Madrid switch”. BBC Sport. Ngày 9 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  47. ^ “Figo's the Real deal”. BBC Sport. Ngày 24 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  48. ^ “Ronaldo al Real, ora è vero (Ronaldo to Real, now it is true)” (bằng tiếng Ý). La Gazzetta dello Sport. 31 tháng 8 năm 2002. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2014. 
  49. ^ “Luka Modric: Real Madrid sign midfielder from Tottenham”. BBC Sport. Ngày 27 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 16 tháng 9 năm 2012. 
  50. ^ “Alonso completes £30m Real move”. BBC Sport. Ngày 5 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  51. ^ “Real Madrid agree on Benzema deal”. BBC Sport. Ngày 2 tháng 7 năm 2009. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  52. ^ “Chelsea agree €80m Morata's deal”. Eurosport. Ngày 20 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2017. 
  53. ^ “Angel Di Maria: Man Utd pay British record £59.7m for winger”. BBC Sport. 
  54. ^ “Mesut Ozil: Arsenal sign Real Madrid midfielder for £42.4m”. BBC Sport. Ngày 2 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 9 năm 2013. 
  55. ^ “Man City beat Chelsea to Robinho”. BBC Sport. Ngày 1 tháng 9 năm 2008. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  56. ^ “Gonzalo Higuaín: Real Madrid striker completes move to Napoli”. BBC Sport. Ngày 27 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  57. ^ “Anelka to complete £22m Paris move”. BBC Sport. Ngày 22 tháng 7 năm 2000. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2013. 
  58. ^ “Man City sign Danilo”. BBC Sport. Ngày 23 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2017. 
  59. ^ “Owen completes move to Newcastle”. BBC Sport. Ngày 31 tháng 8 năm 2005. Truy cập ngày 6 tháng 8 năm 2009. 
  60. ^ “Huntelaar completes Milan switch”. BBC Sport. Ngày 7 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2009. 
  61. ^ “Bayern Munich seal Robben signing”. BBC Sport. Ngày 28 tháng 8 năm 2000. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2009. 
  62. ^ “FIFA recognises all winners of Intercontinental Cup as club world champions”. 
  63. ^ “Coaches”. Realmadrid.com. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2008. 
  64. ^ “Aquí están todos los entrenadores del Real Madrid.” (bằng tiếng Tây Ban Nha). Historialago.com. Truy cập ngày 11 tháng 7 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Real Madrid C.F.