Borussia Dortmund

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Borussia Dortmund
Borussia Dortmund logo.svg
Tên đầy đủBallspielverein Borussia 09 e.V. Dortmund
Biệt danhDie Borussen (Những người Phổ)
Die Schwarzgelben (Vàng-Đen)
Der BVB (Những BVB)
Tên ngắn gọnBVB
Thành lập19 tháng 12 năm 1909; 112 năm trước (1909-12-19)
SânSignal Iduna Park
Sức chứa81.365[1]
Chủ sở hữuReinhard Rauball
Chủ tịch điều hànhHans-Joachim Watzke (CEO)
Huấn luyện viênMarco Rose
Giải đấuBundesliga
2021/22Thứ 2
Trang webTrang web của câu lạc bộ
Mùa giải hiện nay

BV Borussia Dortmund là một câu lạc bộ thể thao đóng ở Dortmund, phía bắc sông Rhine và được biết đến như một trong những đội bóng nổi tiếng và thành công nhất nước Đức cùng với Bayern Munich, Hamburg SVBorussia Mönchengladbach. Với 8 chiếc cúp vô địch quốc gia Đức và 5 cúp DFB Pokal, Dortmund cũng vô địch UEFA Cup Winners' Cup vào năm 1966 (trở thành đội bóng Đức đầu tiên giành danh hiệu tầm châu lục) và giành chức vô địch UEFA Champions League vào năm 1997.

Biệt danh của câu lạc bộ: Schwarzgelben (Vàng-đen) hay Die Borussen (những người Phổ).

Borussia Dortmund là một trong những câu lạc bộ giàu thành tích và có bề dày truyền thống bậc nhất của nước Đức. Tuy vậy, phải đến thập kỉ 90 đội bóng này mới gây được tiếng vang lớn đối với người hâm mộ trên toàn thế giới dưới cái bóng quá lớn của Hamburg SVBorussia Mönchengladbach, đặc biệt là FC Bayern München.

Đối thủ truyền kiếp của Dortmund là FC Schalke 04, là Revierderby (Derby vùng Ruhr). Ngoài ra còn có Borussia Mönchengladbach được gọi là Borussen derby (Derby nước Phổ).

Dortmund hiện tại là câu lạc bộ lớn thứ 3 tại Đức (sau Bayern München và Schalke 04) với 145.000 thành viên chính thức và thứ 11 thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập vào năm 1909, Dortmund không đạt được danh hiệu nào đáng kể cho đến những năm 1950, khi họ giành chiến thắng hai lần liên tiếp tại Giải Bundesliga vào năm 1956 và 1957. Từ đó Dortmund đã dần trở thành một đội bóng có tên tuổi trong làng bóng đá Đức, Mùa bóng 1962/63 vô địch Bundesliga sau đó Dortmund đoạt chức vô địch Winners Cup năm 1966 khi đánh bại Liverpool F.C. trong trận chung kết, đó là danh hiệu Châu Âu đầu tiên của CLB. Tuy nhiên phải sau những năm 1990,Schwarzgelben mới thực sự phát triển và trở thành một trong những CLB hùng mạnh cả trong nền bóng đá Đức và cả của Châu Âu, khi trước đó phải đứng dưới cái bóng quá lớn của Bayern Munich, Hamburg và đặc biệt là Borussia Mönchengladbach[2], đội bóng cùng khu vực Nordrhein-Westfalen.

Sau hai lần liên tiếp đoạt chức vô địch giải quốc gia Đức vào năm 1995 và 1996, Bằng chiến thắng trước Juventus 3-1 tại Olympic Stadium, Borussia Dortmund đã đoạt được vương miện cao quý nhất của bóng đá châu Âu với danh hiệu UEFA Champions League mùa bóng 96/97. Sau đó để bổ sung thêm vào bảng vàng thành tích của mình, BVB còn tiếp tục đoạt nốt danh hiệu Vô địch Cup Liên Lục địa tổ chức tại Tokyo. Người kiến tạo nên những thành công đó cho BVB trong thập niên 90 là huấn luyện viên huyền thoại của CLB Ottmar Hitzfeld.

Trong tất cả các quá trình phát triển của mình Dortmund được biết đến như là một câu lạc bộ có lối chơi mang đậm phong cách Đức, phần lớn các cầu thủ của Dortmund thường là những người thợ đá bóng hơn là những cầu thủ mang đậm tính chất kỹ thuật, tất nhiên cũng có một số ngoại lệ, Andreas Möller, một trong những kỹ thuật gia của Dortmund và cả đội tuyển Đức trong những năm 90, và libero Matthias Sammer có lẽ là cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của câu lạc bộ. Vào đùng thời kỳ đỉnh cao của mình, BVB cũng có những đóng góp to lớn cho chiến thắng của đội tuyển quốc gia tại Euro 1996 với sự góp mặt của những ngôi sao Andy Möller, Matthias Sammer, Stefan Reuter,...

Mùa bóng 1998-99, Dortmund có những kết quả tồi tệ dưới thời của huấn luyện viên Michael Skibbe, họ đã không lọt vào vòng đấu bảng UEFA Champions League, một số hợp đồng mới không đạt kết quả như ý. Chính vì vậy mà Skibbe bị sa thải, qua một vài sự thử nghiệm ngắn ngủi một số huấn luyện viên không đạt yêu cầu, và chỉ đến khi huyền thoại câu lạc bộ Matthias Sammer đứng lên nhận nhiệm vụ lãnh đạo câu lạc bộ trong thời điểm khó khăn. Và như có một phép mầu của chàng trai tóc hung này, người mà huấn luyện viên đội bóng có nhiều cầu thủ già hơn chính mình, đã đưa con thuyền "vàng đen" trở về đúng con đường mà các cổ động viên mong đợi, ngay mùa bóng đầu tiên lãnh đạo BVB đoạt chức vô địch Bundesliga vào chung kết UEFA Cup. Matthias Sammer cũng là huấn luyện viên rất thành công trong việc tạo điều kiện cho nhân tài Đức phát triển: Christoph Metzelder, Sebastian Kehl, Torsten Frings, Lars Ricken....

Huy hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Cơ sở hạ tầng[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Signal Iduna Park là sân vận động lớn nhất ở Đức.

Westfalenstadion là sân nhà của Borussia Dortmund, sân vận động lớn nhất của Đức và lớn thứ bảy ở châu Âu. Sân vận động có tên chính thức là "Signal Iduna Park" sau khi công ty bảo hiểm Signal Iduna mua quyền đặt tên sân vận động cho đến năm 2021. Tuy nhiên, tên này không thể được sử dụng khi tổ chức các sự kiện của FIFA và UEFA, vì các cơ quan quản lý này có chính sách cấm tập đoàn tài trợ cho các công ty không phải là đối tác chính thức của giải đấu. Trong World Cup 2006, sân vận động được gọi là "Sân vận động FIFA World Cup, Dortmund", trong khi trong các trận đấu của các câu lạc bộ UEFA, nó được gọi là "BVB Stadion Dortmund". Sân vận động hiện có sức chứa lên đến 81.359 khán giả (đứng và ngồi) cho các trận đấu giải VĐQG và 65.829 khán giả ngồi cho các trận đấu quốc tế.  Đối với những điều này, khán đài phía nam đặc trưng được trang bị lại ghế để phù hợp với các quy định của FIFA.

Borusseum, bảo tàng về Borussia Dortmund.

Năm 1974, Westfalenstadion thay thế sân Stadion Rote Erde, nằm bên cạnh và bây giờ là sân vận động của Borussia Dortmund II. Sau khi Borussia Dortmund ngày càng nổi tiếng trong những năm 1960, rõ ràng mặt bằng truyền thống là quá nhỏ đối với số lượng cổ động viên ngày càng tăng của Borussia Dortmund. Tuy nhiên, thành phố Dortmund không thể tài trợ cho một sân vận động mới và các tổ chức liên bang không sẵn lòng giúp đỡ. Nhưng vào năm 1971, Dortmund được chọn để thay thế thành phố Cologne , thành phố buộc phải rút lại kế hoạch tổ chức các trận đấu tại World Cup 1974. Các quỹ ban đầu dành cho sân vận động dự kiến ​​ở Cologne do đó đã được phân bổ lại cho Dortmund, và một sân vận động mới đã trở thành hiện thực.

Westfalenstadion đã trải qua nhiều lần cải tạo trong suốt nhiều năm để tăng kích thước của sân vận động, bao gồm cả việc mở rộng sân vận động cho World Cup 2006. Vào năm 2008, Borusseum, một bảo tàng về Borussia Dortmund, được khai trương tại sân vận động. Năm 2011, Borussia Dortmund đồng ý hợp tác với Q-Cells. Công ty đã lắp đặt 8.768 pin mặt trời trên mái nhà của Westfalenstadion để tạo ra 860.000  kWh mỗi năm.

Borussia Dortmund có tỷ lệ dự khán trung bình cao nhất so với bất kỳ câu lạc bộ bóng đá nào trên toàn thế giới. Vào năm 2014, người ta ước tính rằng mỗi trận đấu trên sân nhà của câu lạc bộ có khoảng 1.000 khán giả Anh tham dự, bị thu hút bởi giá vé thấp so với Premier League.

Sân tập[sửa | sửa mã nguồn]

Sân tập của Borussia Dortmund và cơ sở Học viện Hohenbuschei nằm ở Brackel, một quận của Dortmund.  Bên trong khu phức hợp này có các khu tập luyện thể dục thể thao và phục hồi chức năng người máy , các phòng vật lý trị liệu và massage, cùng các bể chữa bệnh và thủy liệu pháp . Ngoài ra còn có phòng xông hơi khô , phòng xông hơi ướt và phòng tập tạ, phòng học, hội trường , phòng làm việc cho văn phòng phía trước BVB , nhà hàng, studio truyền hình phỏng vấn .các cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp và ban huấn luyện của BVB cho tổng số BVB!, kênh thuộc sở hữu của câu lạc bộ. Trong khuôn viên có năm sân cỏ , hai trong số đó có hệ thống sưởi dưới đất, một sân cỏ nhân tạo, ba sân cỏ nhỏ và một nhà thi đấu thể thao đa chức năng. Địa điểm này có tổng diện tích là 18.000 m 2 (190.000 sq ft). Ngoài ra, câu lạc bộ còn sở hữu Footbonaut, một robot huấn luyện có hiệu quả là 14 m² (150 sq ft) lồng huấn luyện.

Khu phức hợp đào tạo và trung tâm biểu diễn trẻ, đặt tại Hohenbuschei, sẽ được mở rộng theo từng giai đoạn cho đến năm 2021. Ngoài ra, Văn phòng Kinh doanh Thể thao sẽ được xây dựng lại hoàn toàn từ đầu. Việc xây dựng theo kế hoạch có chi phí lên tới 20 triệu euro sẽ đưa BVB trở thành câu lạc bộ bóng đá được trang bị tốt nhất cả nước về cơ sở hạ tầng.

Trong Trung tâm Đào tạo Strobelallee, Học viện Bóng đá BVB Evonik có một địa điểm đào tạo nổi bật dành riêng cho học viên. Trong số những người khác, đội Bundesliga từng chuẩn bị cho các trận đấu của họ trên sân tập cũ của câu lạc bộ.

Trang phục và nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Đối tác quảng cáo chính và nhà tài trợ áo đấu hiện tại của Dortmund là Evonik. Công ty bảo hiểm Signal Iduna đã mua quyền đặt tên cho Westfalenstadion Signal Iduna Park cho đến năm 2021. Nhà cung cấp trang phục chính thức là Puma kể từ mùa giải 2012–13. Hợp đồng có thời hạn đến năm 2025. Câu lạc bộ đã thông báo thỏa thuận với Opel để trở thành nhà tài trợ tay áo đầu tiên từ mùa giải 2017–18.

Ngoài ra, có ba cấp độ đối tác khác nhau: BVBChaosystemPartner bao gồm Opel, bwin, Brinkhoff's, Wilo, Hankook và EA Sports; BVBPartner bao gồm MAN, Eurowings, Coca-Cola, Ruhr Nachrichten, REWE và Aral; và BVBProduktPartner bao gồm trong số những người khác củao , Westfalenhallen và TEDi .

Kể từ năm 2012, Brixental ở Kitzbühel Alps ở Áo cũng là nhà tài trợ BVB; hơn nữa, khu vực là nơi tổ chức một trong những trại huấn luyện mùa hè hàng năm.

Nhà tài trợ[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc nội[sửa | sửa mã nguồn]

Châu Âu[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 31 tháng 1 năm 2022[13]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Thụy Sĩ Gregor Kobel
2 HV Tây Ban Nha Mateu Morey
4 HV Pháp Soumaïla Coulibaly
5 HV Pháp Dan-Axel Zagadou
7 TV Hoa Kỳ Giovanni Reyna
8 TV Đức Mahmoud Dahoud
10 TV Bỉ Thorgan Hazard
11 Đức Marco Reus (đội trưởng)
13 HV Bồ Đào Nha Raphaël Guerreiro
14 HV Đức Nico Schulz
15 HV Đức Mats Hummels
16 HV Thụy Sĩ Manuel Akanji
18 Đức Youssoufa Moukoko
19 TV Đức Julian Brandt
20 TV Brasil Reinier (mượn từ Real Madrid)
21 Hà Lan Donyell Malen
Số VT Quốc gia Cầu thủ
22 TV Anh Jude Bellingham
23 TV Đức Emre Can
24 HV Bỉ Thomas Meunier
25 TM Đức Luca Unbehaun
27 Đức Steffen Tigges
28 TV Bỉ Axel Witsel
29 HV Đức Marcel Schmelzer
30 TV Đức Felix Passlack
32 TV Guinée Abdoulaye Kamara
34 HV Croatia Marin Pongračić (mượn từ VfL Wolfsburg)
35 TM Thụy Sĩ Marwin Hitz
38 TM Thụy Sĩ Roman Bürki
39 TV Đức Marius Wolf
40 TM Đức Stefan Drljača
42 TV Đức Göktan Gürpüz
45 HV Hoa Kỳ Lennard Maloney
47 TV Đức Antonios Papadopoulos

Out on loan[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
36 Đức Ansgar Knauff (cho Eintracht Frankfurt mượn)

Đội dự bị và học viện[sửa | sửa mã nguồn]

Đội trưởng câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội trưởng Marco Reus
Giai đoạn[14] Tên Ghi chú
1963–1965 Đức Alfred Schmidt Đội trưởng đầu tiên trong kỷ nguyên Bundesliga
1965–1968 Đức Wolfgang Paul
1968–1971 Đức Sigfried Held
1971–1974 Đức Dieter Kurrat
1974–1977 Đức Klaus Ackermann
1977–1979 Đức Lothar Huber
1979–1983 Đức Manfred Burgsmüller
1983–1985 Đức Rolf Rüssmann
1985–1987 Đức Dirk Hupe
1987–1988 Đức Frank Mill
1988–1998 Đức Michael Zorc Đội trưởng lâu nhất lịch sử Borussia Dortmund
1998–2003 Đức Stefan Reuter
2003–2004 Đức Christoph Metzelder
2004–2008 Đức Christian Wörns
2008–2014 Đức Sebastian Kehl
2014–2016 Đức Mats Hummels
2016–2018 Đức Marcel Schmelzer [15]
2018– Đức Marco Reus [16]

Nhân viên đội bóng[sửa | sửa mã nguồn]

Huấn luyện viên trưởng Marco Rose
Trưởng đoàn bóng đá hạng nhất Sebastian Kehl
Giám đốc kỹ thuật Edin Terzić
Tính đến 1 tháng 7 năm 2021
Tên Vị trí Nguồn
Ban huấn luyện
Đức Marco Rose Head coach [17]
Áo René Marić Assistant coach [17]
Đức Alexander Zickler Assistant coach [17]
Đức Matthias Kleinsteiber Goalkeeping coach [17]
Bộ phận thể thao
Áo Patrick Eibenberger Huấn luyện viên thể thao [17]
Đức Mathias Kolodziej [17]
Đức Florian Wangler [17]
Đức Johannes Wieber [17]
Bộ phận y tế
Đức Dr. Markus Braun Bác sĩ đội một [18]
Đức Thomas Zetzmann Giám đốc y tế vật lý trị liệu [17]
Đức Dennis Morschel Huấn luyện viên phục hồi chức năng [17]
Đức Swantje Thomßen [17]
Đức Thorben Voeste [17]
Đức Olaf Wehmer [17]
Đức Dr. Philipp Laux Nhà tâm lý học thể thao [17]
Hướng đạo & tuyển trạch
Đức Kai-Norman Schulz Điều phối viên công nghệ thể thao [19]
Đức Serdar Ayar Nhà phân tích video [20]
Đức Markus Pilawa Trinh sát trưởng [21]
Đức Benjamin Frank Hướng đạo sinh [22]
Đức Sebastian Frank [22]
Đức Jan Heidermann [22]
Ba Lan Artur Płatek [23]
Đức Waldemar Wrobel [24]
Tổ chức & quản lý
Đức Michael Zorc Giám đốc bóng đá [25]
Đức Sebastian Kehl Trưởng đoàn bóng đá đội một [26]
Đức Edin Terzić Giám đốc kỹ thuật [27]
Đức Ingo Preuß Trưởng đoàn bóng đá dự bị [28]
Đức Wolfgang Springer Trưởng ban thanh niên [29]
Đức Lars Ricken Điều phối viên đội trẻ [30]
Đức Matthias Sammer Cố vấn bên ngoài [31]
Singapore Suresh Letchmanan Giám đốc BVB Asia Pacific Pte. Ltd. [32]
Đức Benjamin Wahl Trưởng BVB Trung Quốc [33]
Đức Patrick Owomoyela Đại sứ quốc tế [34]
Đức Karl-Heinz Riedle [35]
Đức Roman Weidenfeller [36]
Đức Norbert Dickel Phát thanh viên sân vận động [37]
Đức Teddy de Beer Quản lý quan hệ người hâm mộ [38]
Đức Sigfried Held [39]
Đức Frank Gräfen Quản lý bộ dụng cụ [17]

Các huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 7 năm 1935, Fritz Thelen trở thành huấn luyện viên trưởng toàn thời gian đầu tiên của câu lạc bộ, nhưng không có mặt trong những tháng đầu tiên của mùa giải, buộc cầu thủ Dortmund và tuyển thủ Đức Ernst Kuzorra lên thay. Năm 1966, Willi Multhaup dẫn dắt đội bóng của mình đến với Cúp các nhà vô địch Cúp C1 châu Âu, đội tuyển Đức đầu tiên giành được cúp châu Âu. Horst Köppel là huấn luyện viên mang về chiếc cúp bạc lớn cho câu lạc bộ lần đầu tiên sau hơn 20 năm, vô địch DFB-Pokal năm 1989.

Ottmar Hitzfeld, huấn luyện viên thành công nhất của câu lạc bộ, đã hai lần vô địch Bundesliga và Siêu cúp. Năm 1997, Dortmund đã chờ đợi thành công cấp châu lục trong hơn 30 năm; Hitzfeld đăng quang thời kỳ của mình với một chiến thắng bất ngờ và giành chức vô địch Champions League. Dortmund đã giành được Cúp Liên lục địa vào năm 1997 và huấn luyện viên trưởng Nevio Scala trở thành người đầu tiên và cho đến nay là người không phải là người bản xứ duy nhất giành được một danh hiệu lớn. Vào năm 2001–02 , Matthias Sammer, một cựu cầu thủ của BVB, đã mang về chức vô địch giải đấu cho Dortmund. Trong năm 2008–09, câu lạc bộ tiếp cận huấn luyện viên trưởng Mainz 05 Jürgen Klopp. Ông đã giành được danh hiệu vô địch thứ bảy của câu lạc bộ trong năm 2010–11. Trong mùa giải thứ tư của mình, Dortmund đã vô địch Bundesliga và DFB-Pokal để hoàn thành cú đúp danh hiệu và cúp vô địch đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ. Người kế vị Thomas Tuchel đã vô địch DFB-Pokal 2016–17.

Vào ngày 22 tháng 5 năm 2018, Lucien Favre được xác nhận là huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ cho mùa giải 2018–19. Ông giành được DFL-Supercup 2019 vào ngày 3 tháng 8 năm 2019.

Vào ngày 12 tháng 12 năm 2020, Dortmund thất bại 5–1 trước VfB Stuttgart. Favre bị sa thải vào ngày hôm sau.

# Quốc tịch Huấn luyện viên trưởng Từ Đến Ghi chú
1 Đức Ernst Kuzorra* July 1935 Aug 1935 Caretaker
2 Đức Fritz Thelen Sept 1935 June 1936
3 Đức Ferdinand Swatosch July 1936 May 1939
4 Đức Willi Sevcik June 1939 unknown
5 Đức Fritz Thelen 10 January 1946 31 July 1946
6 Đức Ferdinand Fabra 1 August 1946 31 July 1948 1 Oberliga West
7 Áo Eduard Havlicek 1 August 1948 31 July 1950 2 Oberliga West
8 Đức Hans-Josef Kretschmann 1 August 1950 31 July 1951
9 Đức Hans Schmidt 1 August 1951 31 July 1955 1 Oberliga West
10 Đức Helmut Schneider 1 August 1955 31 July 1957 2 Oberliga West, 2 Championships
11 Đức Hans Tauchert 1 August 1957 24 June 1958
12 Áo Max Merkel 14 July 1958 31 July 1961
13 Đức Hermann Eppenhoff 1 August 1961 30 June 1965 1 Championship, 1 Cup
14 Đức Willi Multhaup 1 July 1965 30 June 1966 1 European Cup Winners' Cup
15 Đức Heinz Murach 1 July 1966 10 April 1968
16 Đức Oswald Pfau 18 April 1968 16 December 1968
17 Đức Helmut Schneider 17 December 1968 17 March 1969
18 Đức Hermann Lindemann 21 March 1969 30 June 1970
19 Đức Horst Witzler 1 July 1970 21 December 1971
20 Đức Herbert Burdenski 3 January 1972 30 June 1972
21 Đức Detlev Brüggemann 1 July 1972 31 October 1972
22 Đức Max Michallek 1 November 1972 1 March 1973
23 Đức Dieter Kurrat 1 March 1973 30 June 1973
24 Hungary János Bédl 1 July 1973 14 February 1974
25 Đức Dieter Kurrat 14 February 1974 30 June 1974
26 Đức Otto Knefler 1 July 1974 1 February 1976
27 Đức Horst Buhtz 1 February 1976 30 June 1976
28 Đức Otto Rehhagel 1 July 1976 30 April 1978
29 Đức Carl-Heinz Rühl 1 July 1978 29 April 1979
30 Đức Uli Maslo 30 April 1979 30 June 1979
31 Đức Udo Lattek 1 July 1979 10 May 1981
32 Đức Rolf Bock* 11 May 1981 30 June 1981 Caretaker
33 Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư Branko Zebec 1 July 1981 30 June 1982
34 Đức Karl-Heinz Feldkamp 1 July 1982 5 April 1983
35 Đức Helmut Witte* 6 April 1983 30 June 1983 Caretaker
36 Đức Uli Maslo 1 July 1983 23 October 1983
37 Đức Helmut Witte* 23 October 1983 31 October 1983 Caretaker
38 Đức Heinz-Dieter Tippenhauer 31 October 1983 15 November 1983
39 Đức Horst Franz 16 November 1983 30 June 1984
40 Đức Timo Konietzka 1 July 1984 24 October 1984
41 Đức Reinhard Saftig* 25 October 1984 27 October 1984 Caretaker
42 Đức Erich Ribbeck 28 October 1984 30 June 1985
43 Hungary Pál Csernai 1 July 1985 20 April 1986
44 Đức Reinhard Saftig 21 April 1986 30 June 1988
45 Đức Horst Köppel 1 July 1988 30 June 1991 1 Cup, 1 Supercup
46 Đức Ottmar Hitzfeld 1 July 1991 30 June 1997 2 Championships, 2 Supercups, 1 Champions League
47 Ý Nevio Scala 1 July 1997 30 June 1998 1 Intercontinental Cup
48 Đức Michael Skibbe 1 July 1998 4 February 2000
49 Áo Bernd Krauss 6 February 2000 13 April 2000
50 Đức Udo Lattek* 14 April 2000 30 June 2000 Caretaker
51 Đức Matthias Sammer 1 July 2000 30 June 2004 1 Championship
52 Hà Lan Bert van Marwijk 1 July 2004 18 December 2006
53 Đức Jürgen Röber 19 December 2006 12 March 2007
54 Đức Thomas Doll 13 March 2007 19 May 2008
55 Đức Jürgen Klopp 1 July 2008 30 June 2015 2 Championships, 1 Cup, 2 Supercups
56 Đức Thomas Tuchel 1 July 2015 30 May 2017 1 Cup
57 Hà Lan Peter Bosz 1 July 2017 10 December 2017
58 Áo Peter Stöger 10 December 2017 30 June 2018
59 Thụy Sĩ Lucien Favre 1 July 2018 13 December 2020 1 Supercup
60 Đức Edin Terzić 13 December 2020 30 June 2021 1 Cup
61 Đức Marco Rose 1 July 2021 nay

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Dortmunds Stadionkapazität erhöht sich” (bằng tiếng Đức). Spiegel Online. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015.
  2. ^ https://en.wikipedia.org/wiki/Borussia_M%C3%B6nchengladbach_12%E2%80%930_Borussia_Dortmund
  3. ^ a b “Trikotsammlung” (bằng tiếng Đức). schwatzgelb.de. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  4. ^ Ax, Martin (14 tháng 5 năm 2000). “Borussia Dortmund wird Textilhersteller”. Die Welt (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  5. ^ “Borussia Dortmund schließt Sponsor- und Ausrüstervertrag mit Nike” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2003.
  6. ^ “Neuer Ausrüster: Kappa kleidet BVB ein” (bằng tiếng Đức). Westfälischen Rundschau. 26 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 1 năm 2009.
  7. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Puma
  8. ^ a b c d e f g h “Trikotsponsoren” (bằng tiếng Đức). schwatzgelb.de. Bản gốc lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2018.
  9. ^ “Borussia Dortmund: Die Eisverkäufer”. Süddeutsche Zeitung (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.
  10. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên evonik
  11. ^ Dixon, Ed (20 tháng 2 năm 2020). “Borussia Dortmund bring in 1&1 as Bundesliga shirt sponsor”. sportspromedia.com. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2020.
  12. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên sleeve
  13. ^ “First Team”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2021.
  14. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên captains
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên schmelzer
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên reus
  17. ^ a b c d e f g h i j k l m n o “First Team”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  18. ^ “Abteilung für Sportmedizin” (bằng tiếng Đức). Klinikum Westfalen. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  19. ^ “BVB holt Videoanalyst Kai-Norman Schulz von Austria Wien”. Westdeutsche Allgemeine Zeitung (bằng tiếng Đức). 22 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 22 tháng 12 năm 2017.
  20. ^ “Das ist der BVB-Kader für die Saison 2017/18”. Halterner Zeitung (bằng tiếng Đức). Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2017.
  21. ^ “BVB-Chefscout wechselt zum FC Arsenal”. Der Spiegel (bằng tiếng Đức). 20 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2017.
  22. ^ a b c “BVB holt Klopp-Scout aus Liverpool” (bằng tiếng Đức). Sport1. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2018.
  23. ^ “Artur Płatek, skaut Borussii w długim wywiadzie” (bằng tiếng Ba Lan). Weszło. 21 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2013.
  24. ^ “Ex-RWE-Coach Wrobel geht für den BVB auf Talentsuche” (bằng tiếng Đức). Funke Mediengruppe. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2014.
  25. ^ “Organisation and Management”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  26. ^ “Königstransfer am Start: Kehl fängt beim BVB an” (bằng tiếng Đức). Kicker. Truy cập ngày 1 tháng 6 năm 2018.
  27. ^ “Rolle rückwärts: Edin Terzic wird Technischer Direktor beim BVB” (bằng tiếng Đức). Ruhrnachrichten. 29 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2021.
  28. ^ “Der neue BVB II-Manager Ingo Preuß über seine Arbeit” (bằng tiếng Đức). Ruhr Nachrichten. Bản gốc lưu trữ ngày 1 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2011.
  29. ^ “Organisation” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  30. ^ “Lars Ricken Is Borussia's New Youth Coordinator”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  31. ^ “Externer Berater: Sammer kehrt zum BVB zurück” (bằng tiếng Đức). Kicker. Truy cập ngày 30 tháng 3 năm 2018.
  32. ^ “Suresh Letchmanan to head Singapore office”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2014.
  33. ^ “Chinese office – German soccer side increase their presence in Asia with a second outlet”. 5 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 12 năm 2017.
  34. ^ “Patrick Owomoyela returns to the BVB family”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2018.
  35. ^ “Riedle takes on international ambassador role for BVB”. Borussia Dortmund. Truy cập ngày 22 tháng 11 năm 2014.
  36. ^ “Weidenfellers erste Reise als Markenbotschafter” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2018.
  37. ^ “Norbert Dickel: Der Held am Mikro” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 2 tháng 9 năm 2017.
  38. ^ “Fanbeauftragte – Teddy de Beer” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.
  39. ^ “Fanbeauftragte – Sigfried Held” (bằng tiếng Đức). Borussia Dortmund. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2018.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]