Borussia Dortmund

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Borussia Dortmund
Borussia Dortmund logo.svg
Tên đầy đủ Ballspielverein Borussia 09 e.V. Dortmund
Biệt danh Die Borussen (Những người Phổ)
Die Schwarzgelben (Vàng-Đen)
Der BVB (Những BVB)
Tên ngắn gọn BVB
Thành lập 19 tháng 12, 1909; 109 năm trước
Sân vận động Signal Iduna Park
Sức chứa sân 81.365[1]
Chủ sở hữu Reinhard Rauball
Chủ tịch điều hành Hans-Joachim Watzke (CEO)
Huấn luyện viên Lucien Favre
Giải đấu Bundesliga
2017–18 Thứ 4
Trang web Trang web của câu lạc bộ
Sân khách
Khác

BV Borussia Dortmund là một câu lạc bộ thể thao đóng ở Dortmund, phía bắc sông Rhine và được biết đến như một trong những đội bóng nổi tiếng và thành công nhất nước Đức cùng với Bayern Munich, Hamburg SVBorussia Mönchengladbach. Với 8 chiếc cúp vô địch quốc gia Đức và 4 cúp DFB Pokal, Dortmund cũng vô địch UEFA Cup Winners' Cup vào năm 1966 (trở thành đội bóng Đức đầu tiên giành danh hiệu tầm châu lục) và giành chức vô địch UEFA Champions League vào năm 1997.

Biệt danh của câu lạc bộ: Schwarzgelben (Vàng-đen) hay Die Borussen (những người Phổ).

Borussia Dortmund là một trong những câu lạc bộ giàu thành tích và có bề dày truyền thống bậc nhất của nước Đức. Tuy vậy, phải đến thập kỉ 90 đội bóng này mới gây được tiếng vang lớn đối với người hâm mộ trên toàn thế giới dưới cái bóng quá lớn của Hamburg SVBorussia Mönchengladbach, đặc biệt là FC Bayern München.

Đối thủ truyền kiếp của Dortmund là FC Schalke 04, là Revierderby (Derby vùng Ruhr). Ngoài ra còn có Borussia Mönchengladbach được gọi là Borussen derby (Derby nước Phổ).

Dortmund hiện tại là câu lạc bộ lớn thứ 3 tại Đức (sau Bayern München và Schalke 04) với 145.000 thành viên chính thức và thứ 11 thế giới.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập vào năm 1909, Dortmund không đạt được danh hiệu nào đáng kể cho đến những năm 1950, khi họ giành chiến thắng hai lần liên tiếp tại Giải Bundesliga vào năm 1956 và 1957. Từ đó Dortmund đã dần trở thành một đội bóng có tên tuổi trong làng bóng đá Đức, Mùa bóng 1962/63 vô địch Bundesliga sau đó Dortmund đoạt chức Vô địch Cup Winners Cup, danh hiệu Châu Âu đầu tiên của CLB. Tuy nhiên phải sau những năm 1990,Schwarzgelben mới thực sự phát triển và trở thành một trong những CLB hùng mạnh cả trong nền bóng đá Đức và cả của Châu Âu, khi trước đó phải đứng dưới cái bóng quá lớn của Bayern Munich, Hamburg và đặc biệt là Borussia Mönchengladbach[2], đội bóng cùng khu vực Nordrhein-Westfalen.

Sau hai lần liên tiếp đoạt chức vô địch giải quốc gia Đức vào năm 1995 và 1996, Bằng chiến thắng trước Juventus 3-1 tại Olympic Stadium, Borussia Dortmund đã đoạt được vương miện cao quý nhất của bóng đá châu Âu với danh hiệu UEFA Champions League mùa bóng 96/97. Sau đó để bổ sung thêm vào bảng vàng thành tích của mình, BVB còn tiếp tục đoạt nốt danh hiệu Vô địch Cup Liên Lục địa tổ chức tại Tokyo. Người kiến tạo nên những thành công đó cho BVB trong thập niên 90 là huấn luyện viên huyền thoại của CLB Ottmar Hitzfeld.

Trong tất cả các quá trình phát triển của mình Dortmund được biết đến như là một câu lạc bộ có lối chơi mang đậm phong cách Đức, phần lớn các cầu thủ của Dortmund thường là những người thợ đá bóng hơn là những cầu thủ mang đậm tính chất kỹ thuật, tất nhiên cũng có một số ngoại lệ, Andreas Möller, một trong những kỹ thuật gia của Dortmund và cả đội tuyển Đức trong những năm 90, và libero Matthias Sammer có lẽ là cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của câu lạc bộ. Vào đùng thời kỳ đỉnh cao của mình, BVB cũng có những đóng góp to lớn cho chiến thắng của đội tuyển quốc gia tại Euro 1996 với sự góp mặt của những ngôi sao Andy Möller, Matthias Sammer,Stefan Reuter,...

Mùa bóng 1998-99, Dortmund có những kết quả tồi tệ dưới thời của huấn luyện viên Michael Skibbe, họ đã không lọt vào vòng đấu bảng UEFA Champions League, một số hợp đồng mới không đạt kết quả như ý. Chính vì vậy mà Skibbe bị sa thải, qua một vài sự thử nghiệm ngắn ngủi một số huấn luyện viên không đạt yêu cầu, và chỉ đến khi huyền thoại câu lạc bộ Matthias Sammer đứng lên nhận nhiệm vụ lãnh đạo câu lạc bộ trong thời điểm khó khăn. Và như có một phép mầu của chàng trai tóc hung này, người mà huấn luyện viên đội bóng có nhiều cầu thủ già hơn chính mình, đã đưa con thuyền "vàng đen" trở về đúng con đường mà các cổ động viên mong đợi, ngay mùa bóng đầu tiên lãnh đạo BVB đoạt chức vô địch Bundesliga vào chung kết UEFA Cup. Matthias Sammer cũng là huấn luyện viên rất thành công trong việc tạo điều kiện cho nhân tài Đức phát triển: Christoph Metzelder, Sebastian Kehl, Torsten Frings, Lars Ricken....

Trang phục[sửa | sửa mã nguồn]

Màu áo đầu tiên của Dortmund là Xanh - Trắng - Đỏ. Sau khi sáp nhập với các CLB láng giềng là Britannia, RhenaniaDeutsche Flagge CLB mới có màu áo truyền thống hiện nay là Vàng - Đen.

Những mùa giải gần đây[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Giải đấu Vị trí
1999-00 Bundesliga 11
2000-01 Bundesliga 3
2001-02 Bundesliga 1
2002-03 Bundesliga 3
2003-04 Bundesliga 6
2004-05 Bundesliga 7
2005-06 Bundesliga 7
2006-07 Bundesliga 9
2007-08 Bundesliga 13
2008-09 Bundesliga 6
2009-10 Bundesliga 5
2010-11 Bundesliga 1
2011-12 Bundesliga 1
2012-13 Bundesliga 2
2013-14 Bundesliga 2
2014-15 Bundesliga 7
2015-16 Bundesliga 2

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Danh hiệu chính thức[sửa | sửa mã nguồn]

Quốc gia
Vô địch (8): 1955-56, 1956-57, 1962-63, 1994–95, 1995–96, 2001–02, 2010–11, 2011–12
Về nhì (6): 1947-49, 1960-61, 1965–66, 1991–92, 2012-13, 2013-14,2015-16
Vô địch (4): 1964-65, 1988-89, 2011–12, 2016–17
Về nhì (5): 1962-63, 2007-08, 2013-14, 2014-15, 2015-16
Vô địch (5): 1989, 1995, 1996, 2013, 2014
Về nhì (4): 2011, 2012, 2016, 2017
Về nhì (1): 2003
Quốc tế
1966
  • Về nhì (1): 1997

Đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Cầu thủ[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến 1 tháng 2 năm 2019[3]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
1 Thụy Sĩ TM Roman Bürki
2 Pháp HV Dan-Axel Zagadou
4 Pháp HV Abodou Diallo
5 Maroc HV Achraf Hakimi
6 Đan Mạch TV Thomas Delaney
7 Anh TV Jadon Sancho
9 Tây Ban Nha Paco Alcácer
10 Đức TV Mario Götze
11 Đức Marco Reus (Đội trưởng)
13 Bồ Đào Nha HV Raphaël Guerreiro
16 Thụy Sĩ HV Manuel Akanji
17 Tây Ban Nha TV Sergio Gomez Martin
Số áo Vị trí Cầu thủ
18 Argentina HV Leonardo Balerdi
19 Đức TV Mahmoud Dahoud
20 Đức Maximilian Philipp
22 Hoa Kỳ TV Christian Pulisic
26 Ba Lan HV Lukasz Piszczek
27 Đức TV Marius Wolf
28 Bỉ TV Axel Witsel
29 Đức HV Marcel Schmelzer
33 Đức TV Julian Weigl
34 Đan Mạch TV Jacob Bruun Larsen
35 Thụy Sĩ TM Marwin Hitz
36 Thổ Nhĩ Kỳ HV Ömer Toprak
40 Đức TM Eric Oelschlagel

Cho mượn[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số áo Vị trí Cầu thủ
Thụy Điển Alexander Isak (cho Williem II mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
Đức Andre Schurrle (cho Fulham mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2020)
Nhật Bản TV Shinji Kagawa (cho Besiktas JK mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
Đức TV Sebastian Rode (cho Eintracht Frankfurt mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
Đức TV Dženis Burnić (cho Dynamo Dresden mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
Đức HV Jeremy Toljan (cho Celtic FC mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)
Đức HV Felix Passlack (cho Norwich City mượn đến hết ngày 30 tháng 6 năm 2019)

Các huấn luyện viên[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Dortmunds Stadionkapazität erhöht sich” (bằng tiếng Đức). Spiegel Online. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2015. 
  2. ^ https://en.wikipedia.org/wiki/Borussia_M%C3%B6nchengladbach_12%E2%80%930_Borussia_Dortmund
  3. ^ “First Team”. bvb.de. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2015. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]