Westfalenstadion

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Signal Iduna Park)
Bước tới: menu, tìm kiếm

Tọa độ: 51°29′33,25″B 7°27′6,63″Đ / 51,48333°B 7,45°Đ / 51.48333; 7.45000

Signal Iduna park
Westfalenstadion
Signal Iduna Park new sign.jpg
Signal Iduna Park
Tên đầy đủ Signal Iduna Park
Tên cũ Westfalenstadion
Sân vận động FIFA World Cup (World Cup 2006)
BVB Stadion Dortmund (UEFA Champions League)
Vị trí Strobelallee 50
44139 Dortmund, Đức
Chủ sở hữu Borussia Dortmund GmbH & Co. KGa[1]
Nhà điều hành Borussia Dortmund GmbH & Co. KGa
Số phòng điều hành 11
Sức chứa 53.872 (1974–1992)[2]
42.800 (1992–1996)
54.000 (1996–1999)
68,600 (1999–2003)
83.000 (2003–2005)
81.264 (2005–2006)
80.708 (2006–2008)
80,552 (2008–2010)
80.720 (2010–2011)
80.645 (2012–2013)
80.667 (2014)

81.360 (2015–) (Trận đấu ở giải vô địch quốc gia),[3]
65,829 (Trận đấu quốc tế)[4]
Kỷ lục khán giả 83.000
(Dortmund-Schalke, 30 tháng 1 năm 2004)
(Dortmund-Stuttgart, 6 tháng 3 năm 2004)
(Dortmund-Bayern, 17 tháng 4 năm 2004)
(Dortmund-Rostock, 1 tháng 5 năm 2004)
(Dortmund-Bayern, 18 tháng 9 năm 2004)
(Dortmund-Schalke, 5 tháng 12 năm 2004)
Kích thước sân 105 m × 68 m
Công trình xây dựng
Được xây dựng 1971–1974
Khánh thành 2 tháng 4 năm 1974
Sửa chữa lại 1992, 1995–99, 2002–03, 2006
Chi phí xây dựng 32,7 triệu Mác Đức năm 1974; ước tính 200 triệu năm 2006
Kiến trúc sư Planungsgruppe Drahtler
Người thuê sân
Borussia Dortmund (1974–nay)

Westfalenstadion (phát âm tiếng Đức: [vɛstˈfaːlnˌʃtaːdi̯ɔn]  (Speaker Icon.svg nghe)) là một sân vận động bóng đá tại Dortmund, Nordrhein-Westfalen, Đức. Đây là sân nhà của câu lạc bộ bóng đá Borussia Dortmund đang chơi tại Bundesliga. Sân vận động hiện có tên chính thức là Signal Iduna Park [zɪɡˌnaːl ʔiˈduːnaː ˌpaʁk]  (Speaker Icon.svg nghe) theo một thỏa thuận tài trợ kéo dài từ tháng 12 năm 2005 đến năm 2021,[5] quyền đặt tên thuộc về một công ty bảo hiểm có tên Signal Iduna Group. Cái tên cũ Westfalenstadion xuất phát từ tỉnh cũ của nước Phổ Westfalen, một phần của tiểu bang Đức Nordrhein-Westfalen.

Đây là một trong những sân vận động bóng đá nổi tiếng nhất tại châu Âu và từng được The Times chọn là sân vận động bóng đá tốt nhất với bầu không khí trứ danh của nó.[6] Sân có sức chứa tại giải vô địch quốc gia là 81.360 chỗ (cả ngồi và đứng), còn sức chứa quốc tế là 65.829 chỗ (theo luật của UEFA chỉ ngồi).[3][4] Đây còn là sân vận động lớn nhất tại Đức[7][8] và sân vận động lớn thứ bảy tại Châu Âu về tổng sức chứa, cũng như là sân nhà lớn thứ ba của một câu lạc bộ hàng đầu Châu Âu tính về tổng sức chứa (chỉ sau Camp NouSantiago Bernabéu. Sân vận động đã thiết lập kỷ lục châu Âu về lượng khán giả đến sân vào mùa 2004-05 với tổng cộng 1.354 triệu người, đồng thời tiếp tục phá vỡ kỷ lục này vào mùa 2011-12 với gần 1.37 khán giả. Doanh số bán vé mỗi mùa hàng năm lên tới 55.000 như trong năm 2015.[9] Südtribüne (South Bank) là sân thượng còn tồn tại lớn nhất dành cho khán giả đứng tại bóng đá châu Âu, nó thường xuyên lấp đầy sức chứa 24,454 chỗ.[10][11] Nổi tiếng với bầu không khí cuồng nhiệt, sân thượng phía nam được đặt mệnh danh là "Bức tường vàng" (Yellow Wall).[11] The Borusseum, bảo tàng của Borussia Dortmund tọa lạc ở phía trong sân vận động. Năm 2015, một quả bom từ Thế chiến thứ hai nặng tới 250 kg của quân đội Anh được phát hiện ở ngay cạnh Signal Induna Park.[12]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Việc xây dựng sân vận động đã được lên kế hoạch vào năm 1961,[13] khi nảy sinh nhu cầu mở rộng và cải tạo sân truyền thống của Borussia Dortmund là Stadion Rote Erde. Sau chiến thắng lịch sử tại Cúp các câu lạc bộ đoạt cúp bóng đá quốc gia châu Âu 1966 (Dortmund là đội bóng Đức đầu tiên đoạt danh hiệu vô địch câu lạc bộ Châu Âu), vấn đề ngày càng trở nên rõ ràng khi sân Stadion Rote Erde quá bé dành cho số lượng người hâm mộ Borussia Dortmund ngày càng tăng.[7][14] Tuy nhiên thành phố Dortmund lại không đủ khả năng để tài trợ xây một sân vận động mới và các tổ chức liên bang cũng không sẵn lòng giúp đỡ,[7] vì vậy dự án chìm dần vào quên lãng trong một thời gian.[13] Bốn năm sau nhiều người cho rằng nên xây dựng một sân vận động mới thay vì mở rộng Stadion Rote Erde. Năm 1966, Đức quyết định chọn sân vận động làm địa điểm thi đấu tại Giải vô địch bóng đá thế giới 1974. Những thành phố khác cũng bắt đầu xây dựng sân vận động phục vụ cho giải đấu, đồng thời tăng cường áp lực đối với người đưa ra quyết định.[15] Những đề xuất đầu tiên về việc xây vận động mới đã được trình lên Hội đồng vào tháng 10 năm 1967.[16]

Giải đấu diễn ra[sửa | sửa mã nguồn]

FIFA World Cup 1974[sửa | sửa mã nguồn]

Tại Giải bóng đá vô địch thế giới 1974, Westfalenstadion tổ chức ba trận ở vòng một và một trận ở vòng hai.[17] Sân vận động có tới hơn 200,000 khán giả theo dõi, trở thành sân vận động có lượng người xem đông nhất trong lịch sử World Cup.[14] Những nhân vật nổi tiếng từng tới xem tại sân là nữ hoàng Hà Lan Beatrix và chồng bà Hoàng thân Claus.[18]

Ngày Đội #1 Tỉ số Đội #2 Vòng Lượng khán giả
14 tháng 6 năm 1974  Scotland 2–0  Zaire Vòng 2 25,000
19 tháng 6 năm 1974  Hà Lan 0–0  Thụy Điển Vòng 3 53,700
23 tháng 6 năm 1974  Hà Lan 1–0  Bulgaria Vòng 3 52,100
3 tháng 7 năm 1974  Hà Lan 2–0  Brasil Bảng A 52,500

FIFA World Cup 2006[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động là một trong những địa điểm đăng cai Giải bóng đá vô địch thế giới 2006.[19] Tuy nhiên do các hợp đồng tài trợ, sân thường được gọi là "Sân vận động FIFA World Cup Dortmund trong những ngày diễn ra World Cup.[20] Sáu trận đấu được chơi trong World Cup 2006, bao gồm thất bại đầu tiên của đội tuyển Đức tại sân vận động, trận thua 1-2 trước tuyển Ý.[20] Đồng thời đội tuyển Trinidad và Tobago cũng chơi những trận đấu đầu tiên của họ tại World Cup khi tiếp đón Thụy Điển trên sân vận động.[20]

Ngày Thời gian (CET) Đội#1 Tỉ số Đội#2 Vòng Khán giả
10 tháng 6 năm 2006 18:00  Trinidad và Tobago 0–0  Thụy Điển Bảng B 62,959
14 tháng 6 năm 2006 21:00  Đức 1–0  Ba Lan Bảng A 65,000
19 tháng 6 năm 2006 15:00  Togo 0–2  Thụy Sĩ Bảng G 65,000
22 tháng 6 năm 2006 21:00  Nhật Bản 1–4  Brasil Bảng F 65,000
27 tháng 6 năm 2006 17:00  Brasil 3–0  Ghana Vòng 16 đội 65,000
4 tháng 7 năm 2006 21:00  Đức 0–2  Ý Bán kết 65,000

Bố trí[sửa | sửa mã nguồn]

Nằm trực tiếp kế bên Stadion Rote Erde, Westfalenstadion gồm bốn khán đài có mái che, mỗi khán đài đối diện với bốn phía bắc, đông, tây, nam của sân. Khán đài đông và tây (Ost- und Westtribüne) chạy theo toàn bộ chiều dài sân vận động, trong khi bề rộng được bao phủ bởi khán đài bắc và nam (Nord- und Südtribüne).

Toàn cảnh sân vận động Westfalenstadion

Tọa lạc trên sân thượng phía nam của sân vận động là "Bức tường vàng" của Dortmund, khán đài đứng miễn phí lớn nhất tại Châu Âu với sức chứa 25,000 chỗ.[21] "Bức tường vàng" khiến Westfalenstadion trở thành một trong sân nhà có bầu không khí đáng sợ nhất trên toàn châu Âu, giúp Borussia Dortmund có được chiến dịch sân nhà bất bại tại UEFA Champions League 2012–13.[22]

Phương tiện di chuyển[sửa | sửa mã nguồn]

Sân vận động có ga xe lửa riêng thường chỉ được cho phép hoạt động vào ngày diễn ra trận đấu. Online Deutsche Bahn U45 và U46 có thể đến ga Westphalia, nơi chỉ mất năm phút đồng hồ đi bộ đến sân vận động. Ngoài ra xe buýt cũng hoạt động ngày trong các vùng lân cận của sân vận động.[23] Sân bay Dortmund cách sân vận động tới 13 km.[20]

Những vai trò khác[sửa | sửa mã nguồn]

Ngoài những trận đấu bóng đá, sân vận động còn tổ chức một loại các sự kiện công cộng, đặc biệt buổi biểu diễn nhạc disco ngoài trời lớn nhất nước Đức.[24] Phía bắc của Signal Iduna Park là phòng họp, nơi diễn ra những triễn lãm thương mại, buổi họp báo hay lễ kỷ niệm.[25] Đây cũng là nơi những nhân Chứng Giê-hô-va tổ chức các buổi gặp gỡ quốc tế hàng năm. Vào mùa hè có khoảng 10 ngàn tín đồ nhân Chứng Giê-hô-va tới đây dự các buổi lễ gặp gỡ này.[26] Sân vận động trong thường được các võ sĩ nghiệp dư địa phương sử dụng.[27]

Lượng khán giả[sửa | sửa mã nguồn]

Lượng khán giả trung bình đến sân Signal Iduna Park trong thập niên 2000 là lớn nhất của Đức cũng như tại Châu Âu. Năm 2009, lượng khán giả trung bình của Signal Iduna Park cũng đứng thứ hai tại Châu Âu, chỉ xếp sau Old Trafford của Manchester United và hơn cao hơn cả sân vận động lớn nhất Châu Âu Nou Camp của Barcelona.[28] Trong mùa 2009-10 Borussia Dortmund đã bán 50 675 vé trọn gói mùa, một kỷ lục mới trong một mùa giải tại Bundesliga. Kỷ lục trước đó cũng thuộc về Borussia Dortmund trong mùa 2007-08.[29]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Borussia Dortmund simplifies group structure”. aktie.bvb.de. 27 tháng 11 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2016. 
  2. ^ 30 Jahre Westfalenstadion
  3. ^ a ă “Dortmunds Stadionkapazität erhöht sich” (bằng tiếng Đức). Kicker. 16 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2015. 
  4. ^ a ă “SIGNAL IDUNA PARK, Bayern Munich” (bằng tiếng Đức). stadionwelt.de. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2015. 
  5. ^ “BVB spielt bis 2021 im "Signal-Iduna-Park"” [BVB to play until 2021 in "Signal Iduna Park"] (bằng tiếng Đức). Ruhr Nachrichten. 9 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 9 tháng 5 năm 2012. 
  6. ^ Evans, Tony (9 tháng 8 năm 2009). “The top ten football stadiums”. The Times (London). 
  7. ^ a ă â “SIGNAL IDUNA PARK”. BVB 09. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  8. ^ Peterjon Cresswell (6 tháng 11 năm 2015). “Stadium Guide: Signal Iduna Park, Borussia Dortmund”. WorldSoccer.com. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  9. ^ “Bundesliga-Vergleich - So viele Dauerkarten verkauften die 18 Klubs!”. Sport Bild (bằng tiếng Đức) (Berlin: BILD GmbH & Co. KG). 28 tháng 7 năm 2015. Truy cập ngày 1 tháng 8 năm 2015. 
  10. ^ Stadt Dortmund sieht Südtribüne als Denkmal (tiếng Đức) DerWesten, 08.12.2009
  11. ^ a ă 'In Germany, every game has the feel of a cup final,' The Independent, 16 September 2010
  12. ^ Bảo Lam (17 tháng 2 năm 2015). “Bom từ Thế chiến thứ hai được phát hiện ở sân của Dortmund”. VnExpress. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  13. ^ a ă “Westfalenstadion Dortmund Geschichte”. westfalenstadion.eu. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  14. ^ a ă “30 Jahre Westfalenstadion” (PDF). Westline.de. 9 tháng 8 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  15. ^ Kolbe & Schulze-Marmeling p.40
  16. ^ Kolbe & Schulze-Marmeling s.38
  17. ^ “World Cup 1974 finals”. rsssf.com. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2016. 
  18. ^ Kolbe & Schulze-Marmeling s.60
  19. ^ “Signal Induna Park 3”. Bvb.com. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  20. ^ a ă â b “Signal Iduna Park 01”. stadiumguide.com. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  21. ^ Gary Calton (2 tháng 12 năm 2012). “Borussia Dortmund's Yellow Wall - in pictures”. The Guardian. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  22. ^ “2012/13 UEFA Champions League technical report” (PDF). UEFA.org. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  23. ^ “Signal Induna Park Transport”. Signal Induna Park.com. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  24. ^ “Dortmund rockt im Stadion”. Bild.com. 30 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  25. ^ “Borussia Park”. stadion-live.de. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  26. ^ “Internationaler Auftakt im Signal-Iduna-Park Anfang Juli”. Fair News.com. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  27. ^ “Nachrichten aus Berlin”. .berlinonline.de. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  28. ^ “Zuschauerzahlen: Dortmund auf Platz zwei in Europa”. t-online.de. 29 tháng 10 năm 2009. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 
  29. ^ “Die offizielle”. BVB.de. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2016. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]