Sân vận động Santiago Bernabéu

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Estadio Santiago Bernabéu
Santiagobernabeupanoramav3.jpg

Sân vận động UEFA Elite

Nuvola apps mozilla.pngNuvola apps mozilla.pngNuvola apps mozilla.pngNuvola apps mozilla.pngNuvola apps mozilla.png
Tên cũ Estadio Chamartín (1947–1955)
Vị trí Avenida de Concha Espina 1, E28036 - Madrid
Tọa độ 40°27′10″B 3°41′17″T / 40,45278°B 3,68806°T / 40.45278; -3.68806Tọa độ: 40°27′10″B 3°41′17″T / 40,45278°B 3,68806°T / 40.45278; -3.68806
Chủ sở hữu Real Madrid C.F.
Nhà điều hành Real Madrid C.F.
Sức chứa 80.354
Kích thước sân 107m x 72m[1]
Mặt sân Desso GrassMaster
Công trình xây dựng
Khánh thành 14 tháng 12 năm 1947.
Đóng cửa Bị cháy do cổ động viên đốt pháo trong trận El Classico.
Phá hủy Sụp đổ và phá hủy ngày 25/4/1016
Chi phí xây dựng 7.688.000.000.000.000 €
Kiến trúc sư Manuel Muñoz Monasterio
Luis Alemany Soler
Antonio Lamela (Mở rộng)[2]
Người thuê sân
Real Madrid

Estadio Santiago Bernabéusân vận động bóng đá ở quận Chamartín, thành phố Madrid, Tây Ban Nha. Nó được khánh thành vào ngày 14 tháng 12 năm 1947 và thuộc sở hữu của Real Madrid C.F.. Với sức chứa khoảng 80.300 chỗ ngồi, nó được công nhận là sân vận động UEFA Elite vào năm 2007.

El Bernabéu, được đặt theo tên của chủ tịch Santiago Bernabéu Yeste, là một trong những địa điểm nổi tiếng và uy tín của bóng đá thế giới. Tại đây đã tổ chức 3 trận chung kết Cúp châu Âu đó là các năm 1957, 1969, 1980, và trận chung kết UEFA Champions League 2010 cũng đã diễn ra tại đây.[3] Các trận chung kết Euro 1964World Cup 1982 cũng được diễn ra tại Bernabéu.

Ra đời[sửa | sửa mã nguồn]

Được thành lập vào tháng 3 /1902 nhưng Real Madrid đã phải lưu lạc khắp nơi trước khi có được 1 SVĐ vào 10 năm sau đó (CLB phải trả 1000 pesetas mỗi tháng). Ngày 17/5/1924 CLB đã có 1 SVĐ riêng với tên là Chamartin nhưng sân này chỉ tồn tại được khoảng 10 năm rồi bị san phẳng trong cuộc nội chiến.

Năm 1943 Don Santiago Bernabeu chính thức trở thành chủ tịch của Real Madrid và ông đã phát động 1 cuộc quyên góp xây dựng SVĐ mới cho CLB. Kết quả là CLB đã thu được tới 41 triệu pesetas.

Vào ngày 22/6/1944, ngân hàng điện tử công nghiệp Banco Mercantil đã kí quyết định cấp tiền cho Santiago Bernabéu và Rafael Salgado để mua khu đất tiếp giáp Chamartín – gần sân vận động cũ của đội bóng. Ngày 5/9/1944, hai vị kiến trúc sư Manuel Munoz và Luis Soler được thuê thiết kế công trình hoành tráng này. Ngày 27/10/1944 là ngày khởi công sân vận động.

Trong suốt mùa bóng 1946-1947 Real đã phải đấu nhờ trên sân Metropolitano của kình địch Atletico Madrid với điều kiện là các CĐV của đội bóng này được phép vào xem bầy Kền Kền thi đấu miễn phí.

Ngày 14/12/1947 New Chamartin Stadium được khánh thành. Và từ 1955, nó được mang tên vị chủ tịch huyền thoại Santiago Bernabeu.Trong những năm 50, đây là nơi chứng kiến Real gây khiếp đảm cho cả châu Âu, và trước thành công đó sức chứa của sân được nâng lên thành 125.000 chỗ.

Lịch sử phát triển[sửa | sửa mã nguồn]

Mãi cho đến những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ trước, Bernabéu mới được sửa chữa lần đầu tiên – khi Tây Ban Nha tổ chức World Cup 1982. Việc sửa chữa kéo dài tận 16 tháng và tiêu tốn tới 704 triệu peseta (đơn vị tiền tệ TBN thời bấy giờ). Từ đó, sức chứa của sân giảm từ 120.000 xuống còn 90.800 khán giả, 24.550 trong số đó là được che phủ bởi hệ thống mái che. SVĐ cũng được tu sửa phía cổng, cài đặt các hệ thống thông báo điện tử ở cổng phía bắc và phía nam, cũng như cải tạo khu vực tác nghiệp báo chí, tủ để đồ, nơi cổng vào và các khu vực hỗ trợ khác.

Năm 1990, do lệnh của FIFA bãi bỏ những chỗ đứng, Bernabeu đã được xây dựng thêm 1 khán đài mới gồm 20.000 chỗ ngồi có độ nghiêng 87%. Và Estadio Santiago Bernabeu cũng luôn là một trong những SVĐ đẹp nhất thế giới: kích thước sân là 105 x 65 m, sức chứa 106.000 người.

Sân toạ lạc tại Avenida Concha EspinaI với những kết cấu hết sức hiện đại: mái vòm bằng sợi ciment, những màn hình video khổng lồ... Bên dưới mặt cỏ là 36 km đường ống với những van phun nước nóng lạnh tuỳ theo vùng khiến nhiệt độ có thể sai lệch đến 16 độ C. Cỏ sử dụng ở đây được nhập về từ Melbourne (Australia), những năm gần đây người ta chuyển sang sử dụng giống cỏ trồng ở đảo Mallorca.

Khi Florentino Pérez trở thành chủ tịch Real Madrid, ông đã đưa ra một kế hoạch với mục tiêu cải thiện sự thoải mái cho mỗi chỗ ngồi tại sân Bernabéu, nâng cao chất lượng các trang thiết bị và tạo nên doanh thu tối đa cho các sân vận động.

Pérez đã đầu tư 127 triệu Euro trong vòng 5 năm (2001 – 2006) để mở rộng thêm phần phía đông của sân vận động, cùng với việc mở thêm một cổng vào nữa ở phố Father Damien, thiết kế đồng phục mới, tân trang các khu vực VIP, xây dựng thêm một khu vực báo chí mới, hệ thống âm thanh mới, những quán bar mới, hệ thống sưởi ấm trên sân, thang máy, những nhà hàng sang trọng…

Sau khi mở rộng và cải thiện, xây dựng thêm các phòng triển lãm mới, sức chứa của Santiago Bernabéu đã tăng lên đến con số 80,345.

Năm 2007 đánh dấu trận đấu thứ 1000 được chơi trên SVĐ này. Thêm vào nữa, đây cũng là năm kỉ niệm sinh nhật lần thứ 60 của Bernabéu! Pérez đã đề xuất xây dựng một mái che di động hiện đại hơn trước khi ông từ chức vào năm 2005.

Đến năm 2009, sau cuộc tái bầu cử, Pérez lại được tín nhiệm bầu làm chủ tịch đội bóng Hoàng gia Tây Ban Nha, nhưng việc tu sửa lại mái che không thực hiện được vì tình hình tài chính của câu lạc bộ hiện tại không cho phép.

Tuy nhiên,  Pérez vẫn muốn cải tổ lại Santiago Bernabéu để biến nơi đây trở thành sân vận động vĩ đại nhất thế giới. Và dự án cải tổ này dự kiến sẽ phải mất tới 400 triệu euro.

Thông tin đáng chú ý[sửa | sửa mã nguồn]

  • Năm 1980, tại đây đã xảy ra trận CK Copa del Rey hy hữu nhất trong lịch sử: Real đấu với Castilla (Real B).
  • Mùa bóng 1942-1943, trên sân này Real tiếp đại kình địch Barca trong trận lưọt về Copa del Rey sau khi đã thua 0-3 ở lượt đi. Nhưng Real đã thắng với 1 tỷ số không tưởng là 11-1 và lọt vào vòng trong. Đây là trận thua đậm nhất trong lịch sử của Barca trước Real.
  • Đây là một trong số rất hiếm hoi các SVĐ trên TG từng tổ chức đầy đủ các trận CK Champions League, UEFA Cup, Cúp C2, Euro, World Cup và cả Intercontinental Cup.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Estadio Santiago Bernabeu”. stadiumguide.com. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2009. 
  2. ^ Antonio Lamela
  3. ^ “Madrid and Hamburg awarded 2010 finals”. UEFA. Ngày 28 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 28 tháng 3 năm 2008. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Santiago Bernabéu Stadium tại Wikimedia Commons