Giải bóng đá vô địch thế giới 2018

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Giải bóng đá vô địch thế giới 2018
Чемпионат мира по футболу 2018 (Chempionat mira po futbolu 2018)[1]
FIFA World Cup 2018 Logo.png
Biểu trưng giải vô địch bóng đá thế giới 2018
Thông tin chung
Nước chủ nhà Cờ Nga Nga
Thời gian 14 tháng 6 – 15 tháng 7, 2018 (32 ngày)
Số đội 32 (từ 5 hoặc 6 liên đoàn)
Địa điểm thi đấu 12 (tại 11 thành phố)
2014
2022

Giải bóng đá vô địch thế giới 2018giải bóng đá vô địch thế giới lần thứ 21 được tổ chức tại Nga. Đây là lần đầu tiên giải được tổ chức tại một quốc gia thuộc Đông Âu và cũng là lần đầu tiên được tổ chức tại một quốc gia thuộc Liên Xô cũ. Giải đấu được tổ chức tại Nga từ 14 tháng 6 đến 15 tháng 7 năm 2018.[2]

Giải đấu sẽ bao gồm 32 đội tuyển quốc gia, trong đó có nước chủ nhà Nga. Trận chung kết sẽ diễn ra ở Moskva tại sân vận động Luzhniki hiện đang được nâng cấp lên công suất hơn 80.000 khán giả để đáp ứng tiêu chuẩn yêu cầu của FIFA.[3][4][5]

Đội vô địch của giải đấu này sẽ tham dự Cúp liên đoàn các châu lục 2021.

Chọn nước chủ nhà[sửa | sửa mã nguồn]

Cựu cầu thủ Nga Andrei Arshavin giơ cao tên nước chủ nhà đăng cai giải vô địch bóng đá thế giới 2018

Cuộc đua giành quyền đăng cai của World Cup 2018 và 2022 diễn ra vào tháng 1 năm 2009, và hiệp hội quốc gia đã có cho đến ngày 02 tháng 2 năm 2009 để đăng ký quan tâm của họ.[6] Ban đầu, chín quốc gia đăng kí đăng cai cho World Cup 2018, nhưng Mexico sau đó đã rút khỏi thủ tục đăng cai.[7]

Nga giành quyền đăng cai sau khi vượt qua liên minh Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha, liên minh Bỉ/Hà LanAnh. Ở vòng thứ 2, Nga thắng 2 liên minh Tây Ban Nha/Bồ Đào Nha và Bỉ/Hà Lan với số phiếu 13 /7 / 2.

Kết quả được định rõ dưới đây:[8]

2018 đầu thầu FIFA (đa số 12 phiếu bầu)
Các nhà thầu Bỏ phiếu
Vòng 1 Vòng 2
 Nga 9 13
 Bồ Đào Nha /  Tây Ban Nha 7 7
 Bỉ /  Hà Lan 4 2
 Anh 2 Loại

Xây dựng thương hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Kiểu chữ được sử dụng cho xây dựng thương hiệu

Biểu tượng của giải đấu đã được công bố vào ngày 28 tháng 10 năm 2014 bởi phi hành gia tại Trạm vũ trụ quốc tế và sau đó chiếu lên Moskva của Nhà hát Bolshoi trong một chương trình truyền hình buổi tối. Bộ trưởng Thể thao Nga Vitali Mutko nói rằng logo được lấy cảm hứng từ "Truyền thống nghệ thuật giàu có của Nga và lịch sử của nó thành tích đậm và đổi mới" và Chủ tịch FIFA Sepp Blatter tuyên bố rằng nó phản ánh "Trái tim và linh hồn" của đất nước.[9]

Vòng loại[sửa | sửa mã nguồn]

Lễ bốc thăm vòng loại sẽ được tổ chức tại Cung điện Konstantinovsky

Tất cả các đội tuyển quốc gia thành viên của FIFA phải tham dự vòng loại, trừ chủ nhà Nga.

Myanmar được phép thi đấu vòng loại sau khi FIFA quyết định chấp nhận đơn kháng án do cổ động viên Myanmar đã ném đá và chai lọ vào sân sau khi Oman vươn lên dẫn trước 2–0 ở vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2014.[10] Theo đó, Myanmar vẫn phải nộp phạt, và những trận sân nhà của họ ở Vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 phải được tổ chức trên sân trung lập.[11] Chủ nhà Nga được đặc cách vào thẳng vòng chung kết mà không cần tham dự vòng loại.[12] Vào ngày 30 tháng 5 năm 2015, FIFA đã chính thức cấm Hiệp hội bóng đá Indonesia (PSSI) tham gia vào các hoạt động bóng đá do để chính phủ can thiệp quá sâu vào nội bộ bóng đá nước này.[13]

Lễ bốc thăm vòng loại diễn ra tại Konstantinovsky Palace, thành phố Sankt-Peterburg vào ngày 25 tháng 7 năm 2015.[14][15][16]

Các đội giành quyền vào vòng chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển Tư cách qua vòng loại Ngày vượt qua vòng loại Số lần tham dự vòng chung kết1 Thành tích tốt nhất
 Nga2 Chủ nhà 2 tháng 12, 2010 11 Hạng tư (1966)[17]

Đề xuất mở rộng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tháng 10 năm 2013, chủ tịch UEFA Michel Platini đã đề xuất rằng vòng chung kết World Cup nên được mở rộng 32-40 đội tuyển bắt đầu từ năm 2018. Số đội của các bảng đấu sẽ là 5 thay vì 4.[18] Tuyên bố trên được đưa ra sau khi chủ tịch FIFA Sepp Blatter nói rằng ông muốn thấy nhiều hơn những đội tuyển ngoài châu Âu tranh tài ở các vòng chung kết World Cup.[19] Tuy nhiên, tổng thư ký FIFA, Jerome Valcke cho biết rằng việc mở rộng vào năm 2018 là "không", trong khi Bộ trưởng Thể thao Nga, Vitali Mutko nói rằng nước này đang "chuẩn bị trên cơ sở 32 đội tuyển sẽ tham gia."[20][21]

Sân vận động[sửa | sửa mã nguồn]

Ban đầu, Nga đã đề xuất các thành phố chủ nhà sau: Kaliningrad, Kazan, Krasnodar, Moskva, Nizhny Novgorod, Rostov trên sông Đông, Sankt-Peterburg, Samara, Saransk, Sochi, Volgograd, YaroslavlYekaterinburg.[22] Nga để giảm bớt thời gian đi lại cho các đội bóng trong tất cả các thành phố nằm trong hoặc ngoài châu Âu rất lớn. Báo cáo đánh giá thầu cho biết: "Hồ sơ dự thầu của Nga đề xuất 13 thành phố chủ nhà và 16 sân vận động, vượt quá mức yêu cầu tối thiểu của FIFA Ba trong số 16 sân vận động sẽ được cải tạo, và 13 sẽ được xây dựng mới.."[23]

Trong tháng 10 năm 2011, Nga giảm số lượng các sân vận động từ 16 xuống 14. Việc xây dựng sân vận động Podolsk được đề xuất ở Moskva đã bị hủy bỏ, và sân vận động Spartak cùng với sân vận động Dynamo sẽ được xây mới.[24]

Sự lựa chọn cuối cùng của các địa điểm tổ chức đã được công bố ngày 29 tháng 9 năm 2012. Số lượng các thành phố được tiếp tục giảm xuống thành 11 vì KrasnodarYaroslavl bị loại khỏi danh sách cuối cùng vì không đáp ứng được các tiêu chuẩn đặt ra.[25]

Sepp Blatter tuyên bố trong tháng 7 năm 2014 rằng do những lo ngại về việc hoàn thành các địa điểm ở Nga, số lượng địa điểm cho giải đấu có thể giảm từ 12 đến 10. Tuy nhiên, ông cũng nói rằng "Chúng ta sẽ không phải rơi vào tính huống, như trường hợp của một, hai hoặc thậm chí ba sân vận động ở Nam Phi, khi mà chúng ta gặp vấn đề với việc phải làm gì với các sân vận động này [sau khi giải kết thúc]".[26]

Trong tháng 10 năm 2014, trong chuyến thăm sân vận động Krestovsky ở thành phố Sankt Petersburg nước Nga nhằm thị sát công tác chuẩn bị của nước chủ nhà cho World Cup 2018, ông Christian Unger, một thành viên FIFA cho biết: Theo ý kiến cá nhân tôi, đây là một sân vận động tiện nghi. Với việc lắp đặt khán đài rất gần sân sẽ tạo nên bầu không khí rất cuồng nhiệt. Đây là nơi tuyệt vời để tổ chức một trận bóng đá.[27]

Moskva Moskva Sankt-Peterburg Kaliningrad
Sân vận động Luzhniki Otkrytie Arena Sân vận động Krestovsky Sân vận động Kaliningrad
Sức chứa: 81.000
(Nâng cấp)
Sức chứa: 44.929 Sức chứa: 66.881
(Sân vận động mới)
Sức chứa: 35.000[28]
(Sân vận động mới)
Moscow — Luzhniki Stadium.jpg Spartak stadium (Otkrytiye Arena), 23 August 2014.JPG Krestovsky Stadium2.jpg
Kazan Nizhny Novgorod
Kazan Arena Sân vận động Nizhny Novgorod
Sức chứa: 45.105[29] Sức chứa: 44.899
(Sân vận động mới)
RubinKazanNewStadium.png NN Strelka Stadium construction 08-2016.jpg
Samara Volgograd
Cosmos Arena
(Sân vận động mới)
Volgograd Arena
(Xây dựng lại hoặc thay thế)
Sức chứa: 44.918 Sức chứa: 45.015
Saransk Rostov trên sông Đông Sochi Yekaterinburg
Mordovia Arena
(Sân vận động mới)
Rostov Arena
(Sân vận động mới)
Sân vận động Olympic Fisht Sân vận động Trung tâm
(Nâng cấp)
Sức chứa: 45.015 Sức chứa: 43.702 Sức chứa: 47.659 Sức chứa: 35.000[28]
Sochi Olympic Park Fisht Olympic Stadium P5020324 2200.jpg Центральный вход после реконструкции.jpg

Phương tiện liên quan tới Các sân vận động tại Giải bóng đá vô địch thế giới 2018 tại Wikimedia Commons

Lịch thi đấu[sửa | sửa mã nguồn]

Toàn bộ lịch thi đấu được FIFA công bố vào ngày 24 tháng 7 năm 2015 (chưa có giờ thi đấu chính thức mà sẽ được thông báo sau).[30][31] Nga sẽ được đặt ở vị trí A1 ở vòng bảng và chơi trong trận đấu mở màn tại sân vận động LuzhnikiMoskva vào ngày 14 tháng 6, mà cũng sẽ tổ chức trận đấu bán kết 2 vào ngày 11 tháng 7 và trận chung kết vào ngày 15 tháng 7. Zenit ArenaSankt-Peterburg sẽ tổ chức trận đấu bán kết 1 vào ngày 10 tháng 7 và trận đấu tranh hạng ba diễn ra vào ngày 14 tháng 7.[32]

Lưu ý[sửa | sửa mã nguồn]

Mỗi đội đầu tiên phải đặt tên cho một đội hình sơ bộ 30 cầu thủ. Từ danh sách sơ bộ, nhóm nghiên cứu phải đặt tên cho một đội hình chính thức 23 cầu thủ (ba trong số đó phải là thủ môn) theo thời hạn chót FIFA. Các cầu thủ của đội hình cuối cùng có thể được thay thế do chấn thương nghiêm trọng lên đến 24 giờ trước khi kickoff trận đấu đầu tiên của đội, nơi các cầu thủ thay thế không cần phải có trong đội hình sơ bộ.[33]

Vòng bảng[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng A[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1  Nga (H) 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 A2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 A3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 A4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 14 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
(H) Chủ nhà.
14 tháng 6, 2018 (2018-06-14)
18:00 (UTC+3)
Nga  Trận 1 A2
15 tháng 6, 2018 (2018-06-15)
17:00 (UTC+5)
A3 Trận 2 A4

19 tháng 6, 2018 (2018-06-19)
21:00 (UTC+3)
Nga  Trận 17 A3
20 tháng 6, 2018 (2018-06-20)
18:00 (UTC+3)
A4 Trận 18 A2

25 tháng 6, 2018 (2018-06-25)
18:00 (UTC+4)
A4 Trận 33  Nga
25 tháng 6, 2018 (2018-06-25)
17:00 (UTC+3)
A2 Trận 34 A3

Bảng B[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1 B1 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 B2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 B3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 B4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 15 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
15 tháng 6, 2018 (2018-06-15)
18:00 (UTC+3)
B3 Trận 4 B4
15 tháng 6, 2018 (2018-06-15)
21:00 (UTC+3)
B1 Trận 3 B2

20 tháng 6, 2018 (2018-06-20)
15:00 (UTC+3)
B1 Trận 19 B3
20 tháng 6, 2018 (2018-06-20)
21:00 (UTC+3)
B4 Trận 20 B2

25 tháng 6, 2018 (2018-06-25)
21:00 (UTC+3)
B4 Trận 35 B1
25 tháng 6, 2018 (2018-06-25)
20:00 (UTC+2)
B2 Trận 36 B3

Bảng C[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1 C1 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 C2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 C3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 C4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 16 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
13:00 (UTC+3)
C1 Trận 5 C2
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
19:00 (UTC+3)
C3 Trận 6 C4

21 tháng 6, 2018 (2018-06-21)
17:00 (UTC+5)
C1 Trận 21 C3
21 tháng 6, 2018 (2018-06-21)
19:00 (UTC+4)
C4 Trận 22 C2

26 tháng 6, 2018 (2018-06-26)
17:00 (UTC+3)
C4 Trận 37 C1
26 tháng 6, 2018 (2018-06-26)
17:00 (UTC+3)
C2 Trận 38 C3

Bảng D[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1 D1 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 D2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 D3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 D4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 16 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
16:00 (UTC+3)
D1 Trận 7 D2
16 tháng 6, 2018 (2018-06-16)
21:00 (UTC+2)
D3 Trận 8 D4

21 tháng 6, 2018 (2018-06-21)
21:00 (UTC+3)
D1 Trận 23 D3
22 tháng 6, 2018 (2018-06-22)
18:00 (UTC+3)
D4 Trận 24 D2

26 tháng 6, 2018 (2018-06-26)
21:00 (UTC+3)
D4 Trận 39 D1
26 tháng 6, 2018 (2018-06-26)
21:00 (UTC+3)
D2 Trận 40 D3

Bảng E[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1 E1 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 E2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 E3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 E4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 17 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
17 tháng 6, 2018 (2018-06-17)
16:00 (UTC+4)
E3 Trận 10 E4
17 tháng 6, 2018 (2018-06-17)
21:00 (UTC+3)
E1 Trận 9 E2

22 tháng 6, 2018 (2018-06-22)
15:00 (UTC+3)
E1 Trận 25 E3
22 tháng 6, 2018 (2018-06-22)
20:00 (UTC+2)
E4 Trận 26 E2

27 tháng 6, 2018 (2018-06-27)
21:00 (UTC+3)
E4 Trận 41 E1
27 tháng 6, 2018 (2018-06-27)
21:00 (UTC+3)
E2 Trận 42 E3

Bảng F[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1 F1 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 F2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 F3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 F4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 17 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
17 tháng 6, 2018 (2018-06-17)
18:00 (UTC+3)
F1 Trận 11 F2
18 tháng 6, 2018 (2018-06-18)
15:00 (UTC+3)
F3 Trận 12 F4

23 tháng 6, 2018 (2018-06-23)
18:00 (UTC+3)
F1 Trận 27 F3
23 tháng 6, 2018 (2018-06-23)
21:00 (UTC+3)
F4 Trận 28 F2

27 tháng 6, 2018 (2018-06-27)
17:00 (UTC+3)
F4 Trận 43 F1
27 tháng 6, 2018 (2018-06-27)
19:00 (UTC+5)
F2 Trận 44 F3

Bảng G[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1 G1 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 G2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 G3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 G4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 18 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
18 tháng 6, 2018 (2018-06-18)
18:00 (UTC+3)
G1 Trận 13 G2
18 tháng 6, 2018 (2018-06-18)
21:00 (UTC+3)
G3 Trận 14 G4

23 tháng 6, 2018 (2018-06-23)
15:00 (UTC+3)
G1 Trận 29 G3
24 tháng 6, 2018 (2018-06-24)
15:00 (UTC+3)
G4 Trận 30 G2

28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
20:00 (UTC+2)
G4 Trận 45 G1
28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
21:00 (UTC+3)
G2 Trận 46 G3

Bảng H[sửa | sửa mã nguồn]

XH Đội St T H B BT BB HS Đ Vượt qua vòng loại
1 H1 0 0 0 0 0 0 0 0 Vòng đấu loại trực tiếp
2 H2 0 0 0 0 0 0 0 0
3 H3 0 0 0 0 0 0 0 0
4 H4 0 0 0 0 0 0 0 0
Trận đấu đầu tiên sẽ thi đấu vào ngày 19 tháng 6 năm 2018. Nguồn: FIFA
19 tháng 6, 2018 (2018-06-19)
15:00 (UTC+3)
H1 Trận 15 H2
19 tháng 6, 2018 (2018-06-19)
18:00 (UTC+3)
H3 Trận 16 H4

24 tháng 6, 2018 (2018-06-24)
20:00 (UTC+5)
H4 Trận 32 H2
24 tháng 6, 2018 (2018-06-24)
21:00 (UTC+3)
H1 Trận 31 H3

28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
17:00 (UTC+3)
H4 Trận 47 H1
28 tháng 6, 2018 (2018-06-28)
18:00 (UTC+4)
H2 Trận 48 H3

Vòng đấu loại trực tiếp[sửa | sửa mã nguồn]

 
Vòng 16 đội Tứ kết Bán kết Chung kết
 
                           
 
30 tháng 6 – Sochi
 
 
Nhất bảng A
 
6 tháng 7 – Nizhny Novgorod
 
Nhì bảng B
 
Thắng trận 49
 
30 tháng 6 – Kazan
 
Thắng trận 50
 
Nhất bảng C
 
10 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
Nhì bảng D
 
Thắng trận 57
 
2 tháng 7 – Samara
 
Thắng trận 58
 
Nhất bảng E
 
6 tháng 7 – Kazan
 
Nhì bảng F
 
Thắng trận 53
 
2 tháng 7 – Rostov trên sông Đông
 
Thắng trận 54
 
Nhất bảng G
 
15 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
Nhì bảng H
 
Thắng trận 61
 
1 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
Thắng trận 62
 
Nhất bảng B
 
7 tháng 7 – Sochi
 
Nhì bảng A
 
Thắng trận 51
 
1 tháng 7 – Nizhny Novgorod
 
Thắng trận 52
 
Nhất bảng D
 
11 tháng 7 – Moskva (Luzhniki)
 
Nhì bảng C
 
Thắng trận 59
 
3 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
Thắng trận 60 Tranh hạng ba
 
Nhất bảng F
 
7 tháng 7 – Samara 14 tháng 7 – Sankt-Peterburg
 
Nhì bảng E
 
Thắng trận 55 Thua trận 61
 
3 tháng 7 – Moskva (Spartak)
 
Thắng trận 56 Thua trận 62
 
Nhất bảng H
 
 
Nhì bảng G
 

Vòng 16 đội[sửa | sửa mã nguồn]

30 tháng 6, 2018 (2018-06-30)
17:00 (UTC+3)
Thắng bảng C Trận 50 Nhì bảng D

30 tháng 6, 2018 (2018-06-30)
21:00 (UTC+3)
Thắng bảng A Trận 49 Nhì bảng B

1 tháng 7, 2018 (2018-07-01)
17:00 (UTC+3)
Thắng bảng B Trận 51 Nhì bảng A

1 tháng 7, 2018 (2018-07-01)
21:00 (UTC+3)
Thắng bảng D Trận 52 Nhì bảng C

2 tháng 7, 2018 (2018-07-02)
18:00 (UTC+4)
Thắng bảng E Trận 53 Nhì bảng F

2 tháng 7, 2018 (2018-07-02)
21:00 (UTC+3)
Thắng bảng G Trận 54 Nhì bảng H

3 tháng 7, 2018 (2018-07-03)
17:00 (UTC+3)
Thắng bảng F Trận 55 Nhì bảng E

3 tháng 7, 2018 (2018-07-03)
21:00 (UTC+3)
Thắng bảng H Trận 56 Nhì bảng G

Tứ kết[sửa | sửa mã nguồn]

6 tháng 7, 2018 (2018-07-06)
17:00 (UTC+3)
Thắng trận 49 Trận 57 Thắng trận 50

6 tháng 7, 2018 (2018-07-06)
21:00 (UTC+3)
Thắng trận 53 Trận 58 Thắng trận 54

7 tháng 7, 2018 (2018-07-07)
18:00 (UTC+4)
Thắng trận 55 Trận 60 Thắng trận 56

7 tháng 7, 2018 (2018-07-07)
21:00 (UTC+3)
Thắng trận 51 Trận 59 Thắng trận 52

Bán kết[sửa | sửa mã nguồn]

10 tháng 7, 2018 (2018-07-10)
21:00 (UTC+3)
Thắng trận 57 Trận 61 Thắng trận 58

11 tháng 7, 2018 (2018-07-11)
21:00 (UTC+3)
Thắng trận 59 Trận 62 Thắng trận 60

Tranh hạng ba[sửa | sửa mã nguồn]

14 tháng 7, 2018 (2018-07-14)
17:00 (UTC+3)
Thua trận 61 Trận 63 Thua trận 62

Chung kết[sửa | sửa mã nguồn]

15 tháng 7, 2018 (2018-07-15)
18:00 (UTC+3)
Thắng trận 61 Trận 64 Thắng trận 62

Tranh cãi về nơi tổ chức[sửa | sửa mã nguồn]

Cũng như Thế vận hội Mùa đông 2014, việc Nga tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới 2018 đưa tới nhiều đề tài tranh cãi. Một trong những đề tài bàn luận là mức độ kỳ thị chủng tộc trong nền bóng đá Nga,[34][35] và việc kỳ thị những người đồng tính trong xã hội Nga.[36][37][38] Việc Nga dính líu tới xung đột ở Ukraina, cũng đưa tới những kêu gọi dời nơi tổ chức giải này, nhất là sau khi Nga sáp nhập Krym vào nước mình[39][40] và việc nghi ngờ vai trò của Nga trong việc chuyến bay 17 của Malaysia Airlines bị bắn rơi.[41]

Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

Các nguồn tham khảo:

  1. ^ Hợp đồng truyền hình FIFA/SportsMax bao gồm bản quyền cho 22 nước:
    • Antigua & Barbuda,
    • Anguilla,
    • Aruba,
    • Bahamas,
    • Barbados,
    • Belize,
    • Quần đảo Virgin thuộc Anh,
    • đảo Cayman,
    • Curaçao,
    • Dominica,
    • Cộng hòa Dominica,
    • Grenada,
    • Guyana,
    • Haiti,
    • Jamaica,
    • Montserrat,
    • St. Lucia,
    • St. Kitts & Nevis,
    • St. Vincent & the Grenadines,
    • Suriname,
    • Trinidad và Tobago
    • QĐ Turks và Caicos
  2. ^ Hợp đồng truyền hình FIFA/EBU bao gồm bản quyền cho 37 nước Liên minh châu Âu: Albania, Armenia, Áo, Azerbaijan, Belarus, Bỉ, Bosna và Hercegovina, Bulgaria, Croatia, Síp, Cộng hòa Séc, Estonia, Gruzia, Hungary, Iceland, Ireland, Israel, Kazakhstan, Kosovo, Latvia, Liechtenstein, Litva, Luxembourg, Macedonia, Malta, Moldova, Montenegro, Hà Lan, Ba Lan, Bồ Đào Nha, România, Serbia, Slovakia, Slovenia, Thụy Sĩ, Thổ Nhĩ Kỳ, và Ukraina
  3. ^ Hợp đồng truyền hình FIFA/beIN Sports Arabia bao gồm bản quyền cho 21 nước: Algérie (ENTV), Bahrain, Comoros, Djibouti, Ai Cập, Iran (IRIB), Iraq, Jordan, Kuwait, Liban, Libya, Mauritanie, Maroc, Oman, Palestine, Qatar, Ả Rập Saui, Somalia, Sudan, Syria và Tunisia

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Phát âm tiếng Nga chuẩn là [tɕɪmʲpʲɪɐˈnat ˈmʲirə pə fʊdˈbolʊ dʲvʲɪ ˈtɨsʲɪtɕɪ vəsʲɪmˈnatsətʲ]
  2. ^ “Ethics: Executive Committee unanimously supports recommendation to publish report on 2018/2022 FIFA World Cup™ bidding process” (Thông cáo báo chí). FIFA.com. 19 tháng 12 năm 2014. 
  3. ^ “Russia united for 2018 FIFA World Cup Host Cities announcement”. FIFA.com. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  4. ^ “FIFA Picks Cities for World Cup 2018”. En.rsport.ru. Ngày 29 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  5. ^ “Russia budget for 2018 Fifa World Cup nearly doubles”. BBC News. Ngày 30 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2013. 
  6. ^ Goff, Steve (16 tháng 1 năm 2009). “Future World Cups”. The Washington Post. Truy cập ngày 16 tháng 1 năm 2009. 
  7. ^ “Mexico withdraws FIFA World Cup bid”. FIFA. 29 tháng 9 năm 2009. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2011. 
  8. ^ Doyle, Paul; Busfield, Steve (2 tháng 12 năm 2010). “World Cup 2018 and 2022 decision day – live!”. The Guardian (Luân Đôn). 
  9. ^ 'Russia’s heart & soul': World Cup 2018 logo unveiled in Moscow (PHOTOS, VIDEO)”. RT. Ngày 28 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  10. ^ “Myanmar appeal partially upheld”. FIFA. 7 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  11. ^ “Myanmar appeal partially upheld”. FIFA. Ngày 7 tháng 11 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2011. 
  12. ^ Trong bóng đá, chủ nhà được tiến thẳng vào vòng chung kết mà không thi đấu vòng loại.
  13. ^ “IMPACT OF FOOTBALL ASSOCIATION OF INDONESIA SUSPENSION”. AFC. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  14. ^ “Organising Committee for the FIFA World Cup extends its responsibilities to cover 2018 and 2022”. fifa.com. Ngày 19 tháng 3 năm 2013. 
  15. ^ “Calendar”. FIFA.com. 
  16. ^ “Konstantinovsky Palace to stage Preliminary Draw of the 2018 FIFA World Cup”. FIFA.com. 10 tháng 10 năm 2014. 
  17. ^ Nga đã 3 lần tham dự World Cup vào các năm 1994, 20022014. Tuy nhiên, FIFA vần tính thành tích của Nga khi còn là một phần của Liên Xô.
  18. ^ “UEFA chief Platini calls for 40 team World Cup”. Reuters. Ngày 28 tháng 10 năm 2013. 
  19. ^ “Blatter wants more Africa slots for World Cup”. Confederation of African Football. Ngày 26 tháng 10 năm 2013. 
  20. ^ “Michel Platini's World Cup expansion plan unlikely – Fifa”. BBC Sport. Ngày 29 tháng 10 năm 2013. 
  21. ^ “2018 World Cup expansion 'unlikely', says Valcke”. Soccerway. Ngày 29 tháng 10 năm 2013. 
  22. ^ “2018 FIFA World Cup Bid Evaluation Report: Russia” (PDF). FIFA. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2002. 
  23. ^ Marikar, Hafiz. “Russia to host next FIFA World Cup”. Dailynews.lk. The Associated Newspapers of Ceylon Ltd. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  24. ^ “Почему у России осталось только 14 стадионов к ЧМ-2018 - Известия (Why are there only 14 stadiums for the Russia 2018 World Cup)” (bằng tiếng Nga). Izvestia.ru. Ngày 7 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 8 tháng 10 năm 2011. 
  25. ^ “2018 FIFA World Cup™ to be played in 11 Host Cities”. fifa.com. Ngày 29 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2012. 
  26. ^ Saakov, Rafael (ngày 22 tháng 7 năm 2014). “Russia 2018: Major challenges for next World Cup hosts”. BBC News. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2014. 
  27. ^ Rogovitskiy, Dmitriy (ngày 21 tháng 10 năm 2014). “Russia on track for World Cup 2018, say FIFA inspectors”. Reuters. Truy cập ngày 29 tháng 10 năm 2014. 
  28. ^ a ă “Capacity at 2 of Russia's stadiums to be reduced”. The Oklahoman (via Associated Press). 26 tháng 9 năm 2014. Truy cập 28 tháng 9 năm 2014. 
  29. ^ “Вместимость футбольного стадиона Казани к ЧМ могут увеличить до 60 тыс. мест” (bằng tiếng Nga). Tatar-inform.ru. 27 tháng 12 năm 2010. Truy cập 8 tháng 10 năm 2011. 
  30. ^ “Match schedules for FIFA Confederations Cup 2017 and 2018 FIFA World Cup™ unveiled”. FIFA.com. 24 tháng 7 năm 2015. 
  31. ^ “FIFA World Cup Russia 2018 - Match Schedule” (PDF). FIFA.com. 
  32. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên fifa20150320
  33. ^ “Regulations – 2018 FIFA World Cup Russia” (PDF). FIFA.com. 
  34. ^ Syal, Rajeev (ngày 3 tháng 12 năm 2010). “World Cup 2018 win raises Russian racism fears”. The Guardian. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2011. 
  35. ^ “Yaya Toure: Black players may boycott 2018 Russia World Cup”. BBC Sport. Ngày 25 tháng 10 năm 2013. 
  36. ^ change.org. “Dismiss Russia As Host Of The 2018 World Cup”. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2014. 
  37. ^ J.P. McCormick (ngày 25 tháng 3 năm 2014). “Campaigns demand FIFA bans Russia from hosting 2018 World Cup due to anti-gay law”. Pink News. 
  38. ^ J. Lavin (ngày 28 tháng 2 năm 2014). “Why FIFA Needs to Move the World Cup”. advocate.com. 
  39. ^ "Fifa urged to rethink staging 2018 World Cup in Russia". Bbc.com, 2014-03-21. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014.
  40. ^ Winter, Stuart (2014-03-23): "US calls for Fifa to drop Russia from hosting World Cup in 2018". Express.co.uk. Truy cập ngày 17 tháng 4 năm 2014.
  41. ^ “German politicians question Russia’s suitability to host 2018 World Cup”. The Guardian. Reuters. Ngày 23 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2014. 
  42. ^ a ă “Al Jazeera Sport buys broadcast rights to 2018 and 2022 FIFA World Cups™”. FIFA. 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  43. ^ Hassett, Sebastian (ngày 28 tháng 10 năm 2011). “SBS locks in two more World Cups”. Brisbane Times. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  44. ^ a ă â “FIFA awards further TV rights for 2015–2022”. FIFA. Ngày 27 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  45. ^ “Globo buys broadcast rights to 2018 and 2022 FIFA World Cups™”. FIFA. Ngày 28 tháng 2 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  46. ^ “Bell Media lands deal for FIFA soccer from 2015 through 2022”. The Sports Network. Ngày 27 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  47. ^  Hans-Peter Siebenhaar: In: Handelsblatt. Nr. 18, 25./26./27. Januar 2013, ISSN 0017-7296, S. 59.
  48. ^ BBC, ITV, ARD and ZDF sign World Cup TV deals “sportspromedia”. Ngày 8 tháng 6 năm 2014. 
  49. ^ a ă â “FIFA Executive Committee agrees major governance reforms & Ethics structure”. FIFA. Ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  50. ^ a ă Cushnan, David (ngày 8 tháng 6 năm 2014). “BBC, ITV, ARD and ZDF sign World Cup TV deals”. SportsPro. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  51. ^ a ă Connoly, Eoin (ngày 2 tháng 4 năm 2012). “ARD and ZDF get rights to 2018 World Cup”. SportsPro. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  52. ^ RTÉ secures Euro 2016 & World Cup 2018 rights, RTÉ Commercial Enterprises Ltd, 10 tháng 4 năm 2013 .
  53. ^ “Sony Six scores World Cup rights deal”. Sportbusiness.com. 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  54. ^ Shah, Gouri (15 tháng 1 năm 2014). “Sony SIX wins broadcast rights for FIFA World Cup 2014 and 2018”. Mint. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  55. ^ “Sony Six bags exclusive rights for FIFA till 2018”. exchange4media.com. 15 tháng 1 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  56. ^ “RTP e Seleção Nacional até 2018”. RTP. Ngày 10 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  57. ^ “FIFA Women's World Cup Canada 2015 Media Rights Licensees” (PDF). Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2015. 
  58. ^ Connoly, Eoin (ngày 24 tháng 4 năm 2012). “SRG secures Swiss World Cup rights until 2022”. SportsPro. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  59. ^ Longman, Jeré (ngày 21 tháng 10 năm 2011). “Fox and Telemundo Win U.S. Rights to World Cups”. The New York Times. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  60. ^ “FIFA awards US TV Rights for 2015–2022”. FIFA. Ngày 21 tháng 10 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  61. ^ Myers, Sanjay (ngày 28 tháng 10 năm 2011). “SportsMax lands long-term FIFA package”. The Jamaica Observer. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  62. ^ “EBU in European media rights deal with FIFA for 2018 and 2022 FIFA World Cups™”. European Broadcasting Union. Ngày 30 tháng 3 năm 2012. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  63. ^ “Al Jazeera Sport buys broadcast rights to 2018 and 2022 FIFA World Cups™”. FIFA. Ngày 26 tháng 1 năm 2011. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  64. ^ Connolly, Eoin (ngày 26 tháng 1 năm 2011). “Al Jazeera secures first 2018/2022 rights package”. SportsPro. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 
  65. ^ “Al Jazeera Sport rebranded beIN SPORTS”. Al Arabiya. Ngày 31 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]