Krasnodar

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Krasnodar (tiếng Việt)
Краснодар (tiếng Nga)
Krasnodar (tiếng Anh)
—  Kiểu điểm dân cư  —
Krasnodar 004.JPG
Krasnodar trên bản đồ Nga
Krasnodar
Krasnodar
Tọa độ: 45°02′B 38°58′Đ / 45,033°B 38,967°Đ / 45.033; 38.967Tọa độ: 45°02′B 38°58′Đ / 45,033°B 38,967°Đ / 45.033; 38.967
Coat of Arms of Krasnodar (Krasnodar krai).png
Ngày lễNgày không phải là ngày làm việc cuối cùng của tháng 9
Hành chính
Quốc gia Nga
Trực thuộc Vùng Krasnodar[1]
Trung tâm hành chính củaKrasnodar Krai[1]
Địa vị đô thị (tính tới tháng 12 năm 2007)
Vùng đô thịKrasnodar Urban Okrug
HeadVladimir Yevlanov
Cơ quan đại diệnDuma thành phố
Đặc điểm địa phương
Diện tích 841,36 km² (324,9 mi²)
'Dân số (Điều tra  2002)646.175 người[2]
Hạng18th
- Mật độ768người/km² (2.000người/sq mi)[3]
Múi giờ ở NgaMSK (UTC+03:00)[4]
'12 tháng 1 năm 1794
Tên gọi cũYekaterinodar (cho tới 1920)
Mã bưu chính350000–350090
Đầu số điện thoại+7 861
Trang mạng chính thứchttp://www.krd.ru/

Krasnodar (tiếng Nga: Краснодар) là một thành phố ở miền Nam nước Nga, bên sông Kuban, cách cảng Novorossiyskbiển Đen khoảng 80 km (50 dặm) về phía đông bắc. Đây là trung tâm hành chính của Vùng Krasnodar (còn gọi là Kuban).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc của thành phố bắt đầu từ một pháo đài do người Cozak xây dựng để bảo vệ biên giới đế quốc và xác nhận sự chi phối của Nga đối với Circassia, nơi mà Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman cũng đòi. Trong nửa đầu của thế kỷ XIX, Yekaterinodar phát triển thành một trung tâm sầm uất của người Cossack Kuban rồi được công nhận là thị trấn vào năm 1867. Vào năm 1888, có khoảng 45.000 người sống trong thành phố và nó đã trở thành một trung tâm thương mại quan trọng của miền Nam nước Nga. Năm 1897, một đài kỷ niệm 200 năm lịch sử cũ của chủ nhà Cossack Kuban được xây dựng ở Yekaterinodar.

Trong cuộc nội chiến Nga, thành phố đổi chủ nhiều lần giữa Hồng quânQuân Tình nguyện. Nhiều người Cossack Kuban đã cam kết chống lại những người Bolshevik, ủng hộ phong trào Bạch vệ. Lavr Kornilov, một vị tướng Bạch vệ, chiếm được thành phố vào ngày 10 tháng 4 năm 1918, nhưng rồi chỉ một tuần sau bị giết chết khi một quả đạn pháp của phe Bolshevik bắn trúng và làm nổ tung trang trại nơi ông đặt bộ chỉ huy.

Trong chiến tranh thế giới II, Krasnodar bị quân Đức chiếm từ ngày 12 tháng 8 năm 1942 đến 12 tháng 2 năm 1943. Thành phố chịu thiệt hại nặng nề trong cuộc chiến, nhưng được xây dựng lại và đổi mới sau chiến tranh.

Trong mùa hè năm 1943, Liên Xô bắt đầu xét xử các công dân của mình tội thông đồng với Đức quốc xã và dính líu vào các tội ác chiến tranh. Các cuộc xét xử đầu tiên được tổ chức tại Krasnodar ngày 14-17 tháng 7 năm 1943. Tòa án Krasnodar đã tuyên 8 người án tử hình và cho hành quyết tại quảng trường thành phố trước một đám đông khoảng 30.000 người.

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Dữ liệu khí hậu của Krasnodar
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Cao kỉ lục °C (°F) 20.8 22.2 28.5 34.7 35.1 37.5 40.7 40.0 38.5 33.9 27.4 23.0 40,7
Trung bình cao °C (°F) 4.4 5.7 10.7 18.0 23.2 27.1 30.2 30.2 24.9 18.1 10.7 5.8 17,4
Trung bình ngày, °C (°F) 0.6 1.1 5.5 12.2 17.2 21.3 24.1 23.7 18.5 12.3 6.1 2.1 12,1
Trung bình thấp, °C (°F) −2.2 −2.3 1.8 7.6 12.2 16.4 18.7 18.0 13.3 7.9 2.8 −0.7 7,8
Thấp kỉ lục, °C (°F) −32.9 −29.8 −25.6 −5.6 −1.2 4.2 9.5 3.9 −2.2 −9.9 −20.4 −27.6 −32,9
Giáng thủy mm (inch) 66
(2.6)
54
(2.13)
58
(2.28)
51
(2.01)
68
(2.68)
86
(3.39)
56
(2.2)
44
(1.73)
46
(1.81)
56
(2.2)
73
(2.87)
77
(3.03)
735
(28,94)
độ ẩm 81 76 72 66 66 68 63 62 68 75 81 82 72
Số ngày mưa TB 13 11 14 15 14 14 10 8 10 12 14 15 150
Số ngày tuyết rơi TB 11 10 6 0.3 0 0 0 0 0 0 3 9 39
Số giờ nắng trung bình hàng tháng 71 84 136 181 247 277 303 286 238 173 88 55 2.139
Nguồn #1: Pogoda.ru.net[5]
Nguồn #2: NOAA (nắng, 1961–1990)[6]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Charter of Krasnodar Krai, Article 13
  2. ^ Федеральная служба государственной статистики (Cục Thống kê Liên bang Nga) (21 tháng 5 năm 2004). Численность населения России, субъектов Российской Федерации в составе федеральных округов, районов, городских поселений, сельских населённых пунктов – районных центров и сельских населённых пунктов с населением 3 тысячи и более человек[[Thể loại:Bài viết có văn bản tiếng Nga]] (Dân số Nga, các chủ thể liên bang Nga trong thành phần các vùng liên bang, các huyện, các điểm dân cư đô thị và nông thôn — các trung tâm hành chính và các điểm dân cư nông thôn với trên 3.000 dân)”. Всероссийская перепись населения 2002 года (Điều tra dân số toàn Nga năm 2002) (bằng tiếng Nga). Cục Thống kê Liên bang Nga. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2009.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp); Tựa đề URL chứa liên kết wiki (trợ giúp)
  3. ^ Giá trị của mật độ dân số được tính toán tự động bằng cách chia dân số theo điều tra năm 2002 cho diện tích liệt kê trong hộp thông tin. Đề nghị lưu ý rằng giá trị này có thể không chính xác do diện tích liệt kê trong hộp thông tin không nhất thiết phải tương ứng với diện tích của toàn bộ chủ thể này hoặc được thông báo cho cùng năm như của điều tra dân số (2002).
  4. ^ Правительство Российской Федерации. Федеральный закон №107-ФЗ от 3 июня 2011 г. «Об исчислении времени», в ред. Федерального закона №271-ФЗ от 03 июля 2016 г. «О внесении изменений в Федеральный закон "Об исчислении времени"». Вступил в силу по истечении шестидесяти дней после дня официального опубликования (6 августа 2011 г.). Опубликован: "Российская газета", №120, 6 июня 2011 г. (Chính phủ Liên bang Nga. Luật liên bang #107-FZ of 2011-06-31 Về việc tính toán thời gian, as amended by the Luật Liên bang #271-FZ of 2016-07-03 Về việc sửa đổi luật liên bang "Về việc tính toán thời gian". Có hiệu lực từ  6 ngày sau ngày công bố chính thức.).
  5. ^ “Pogoda.ru.net (Weather and Climate-The Climate of Krasnodar)” (bằng tiếng Nga). Weather and Climate. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015. 
  6. ^ “Krasnodar Climate Normals 1961–1990” (bằng tiếng Anh). National Oceanic and Atmospheric Administration. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2015. 

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]