Jordan Henderson

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Jordan Henderson
Jordan Henderson 20111226.jpg
Jordan Henderson
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Jordan Brian Henderson
Ngày sinh 17 tháng 6, 1990 (26 tuổi)
Nơi sinh Sunderland, Anh
Chiều cao 72 in (182 cm)
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Liverpool
Số áo 14
CLB trẻ
2006-2008 Sunderland
CLB chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2008–2010 Sunderland 71 (4)
2010 Coventry City (Mượn) 10 (1)
2011- Liverpool FC 167 (20)
Đội tuyển quốc gia
2011- Anh 32 (0)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và cập nhật vào 6 tháng 11, 2016.

† Số trận khoác áo (số bàn thắng).

‡ Thống kê về thành tích tại ĐTQG được cập nhật vào 15 tháng 11, 2016

Brian Jordan Henderson (sinh ngày 17 Tháng 6, 1990) là một cầu thủ bóng đá người Anh đang chơi cho câu lạc bộ ở Premier League Liverpool và đội tuyển Anh. Là một tiền vệ anh đã có một đồng cho mượn tại Coventry City trong năm 2009. Anh đã giành được cap 1 quốc tế của mình cho đội tuyển Anh, trước đó dưới 19, dưới 20 và dưới-21 tuổi, Henderson được theo học tại trường Cao đẳng Thể thao Cộng đồng Farringdon trước khi gia nhập Sunderland A.F.C. là một thanh niên.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Conventry City

Trong tháng 1 năm 2009, Henderson tham gia giải vô địch CLB Coventry City trên một hợp đồng cho mượn kéo dài một tháng. Ngày 23 tháng hai năm 2009, khi đã được công bố của khoản mượn Henderson Coventry sẽ được mở rộng cho đến khi cuối của mùa giải. Trong khi mượn tại Coventry, Henderson bị gãy xương thứ năm ở xương bàn chân trong chân phải của mình và anh trở lại Sunderland A.F.C. vào ngày 08 Tháng tư năm 2009.

Trở lại Sunderland

Mùa giải đầu tiên của Henderson với Sunderland A.F.C là một thành công lớn của anh, anh đã giành một giải thưởng cá nhân, ghi được hai bàn thắng trong tất cả các cuộc thi và quản lý sáu hỗ trợ.

Henderson dành phần lớn mùa giải ở phía bên phải của hàng tiền vệ, nhưng chơi trực thuộc vị trí tiền vệ thủ trong sự vắng mặt của đội trưởngLee Cattermole, tính linh hoạt và nhất quán của mình kiếm được cho anh một năm mới năm hợp đồng vào ngày 23 Tháng Tư 2010, giữ anh với câu lạc bộ đến năm 2015 anh cũng đã giành chiến thắng cuộc thi các cầu thủ trẻ của năm - cho mùa giải 2009-10

Ở mùa giải 2010-2011 Henderson ghi bàn hai lần vào lưới của Wigan Athletic vào ngày 23 Tháng Tư năm 2011, khi Sunderland A.F.C. đã kết thúc một hoạt động 8 trò chơi mà không có một chiến thắng. Henderson một lần nữa được đặt tên là cầu thủ trẻ của năm ở Sunderland A.F.C. trong mùa giải thứ hai liên tiếp

Liverpool

Henderson chuẩn bị thực hiện 1 quả đá phạt góc

Ngày 9 tháng Sáu 2011, Sunderland A.F.C.Liverpool đã xác nhận họ đã đồng ý bán Henderson với lệ phí không được tiết lộ. Theo dư luận để có trị giá khoảng 16 triệu £ cho Henderson, chủ tịch Niall Quinn nhận xét về thỏa thuận này, nói trên các trang web của Sunderland chính thức rằng: "Jordan là 1 cầu thủ tốt với chính mình, gia đình và Học viện Sunderland A.F.C và tất cả mọi người, tôi muốn anh ấy có một tương lai tốt". Sau đó là ngày, Liverpool phát hành đoạn băng video của Henderson trong câu lạc bộ bánh răng ở Melwood. Ngày 08 tháng bảy năm 2011, đã được xác nhận rằng Henderson sẽ được mặc số 14 áo cho Liverpool trước đây mặc bởi Xabi AlonsoMilan Jovanović. Ngày 13 tháng Tám 2011, Henderson xuất hiện lần đầu của mình trong trận đầu tiên của Liverpool 2011-12 ở Premier League, Tỉ số 1-1 với câu lạc bộ cũ của mình Sunderland A.F.C.. Ngày 27 tháng 8 năm 2011, Henderson đã ghi bàn thắng đầu tiên cho Liverpool trong một trận đấu Premier League tại Anfield trong trận gặp Bolton Wanderers. Henderson đến như là một thay thế một nửa thứ hai chống lại Manchester United và ghi một bàn thắng từ một cú vô lê đã được cứu bởi David de Gea. Trong trận đấu League Cup với Stoke City anh đã giúp Luis Suárez ghi một bàn thắng bằng pha kiến tạo tuyệt vời

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 30 tháng 10, 2016.
Appearances and goals by club, season and competition
Câu lạc bộ Mùa giải League FA Cup League Cup Châu Âu Tổng cộng
Giải đấu Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn Ra sân Ghi bàn
Sunderland 2008–09[1] Premier League 1 0 0 0 1 0 2 0
2009–10[2] Premier League 33 1 2 0 3 1 38 2
2010–11[3] Premier League 37 3 1 0 1 0 39 3
Tổng cộng 71 4 3 0 5 1 79 5
Coventry City (mượn) 2008–09[1] Giải hạng nhất Anh 10 1 3 0 13 1
Liverpool 2011–12[4] Premier League 37 2 5 0 6 0 48 2
2012–13[5] Premier League 30 5 2 0 2 0 10 1 44 6
2013–14[6] Premier League 35 4 3 0 2 1 40 5
2014–15[7] Premier League 37 6 7 0 4 0 6 1 54 7
2015–16[8] Premier League 17 2 0 0 3 0 6 0 26 2
2016–17[9] Premier League 10 1 0 0 2 0 12 1
Tổng cộng 166 20 17 0 19 1 22 2 224 23
Tổng cộng sự nghiệp 247 25 23 0 24 2 22 2 316 29

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Số liệu thống kê chính xác tới ngày 15 tháng 11 năm 2016.[10]
Appearances and goals by national team and year
Đội tuyển quốc gia Năm Ra sân Ghi bàn
Anh 2010 1 0
2012 4 0
2013 2 0
2014 11 0
2015 4 0
2016 10 0
Tổng cộng 32 0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Sunderland

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Games played by Jordan Henderson in 2008/2009”. Soccerbase. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013. 
  2. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2009/2010”. Soccerbase. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013. 
  3. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2010/2011”. Soccerbase. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013. 
  4. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2011/2012”. Soccerbase. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013. 
  5. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2012/2013”. Soccerbase. Truy cập ngày 18 tháng 1 năm 2013. 
  6. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2013/2014”. Soccerbase. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013. 
  7. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2014/2015”. Soccerbase. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2014. 
  8. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2015/2016”. Soccerbase. Truy cập ngày 28 tháng 8 năm 2015. 
  9. ^ “Games played by Jordan Henderson in 2015/2016”. Soccerbase. Centurycomm. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2016. 
  10. ^ “Henderson, Jordan”. National Football Teams. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2015.