Ross Barkley

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Ross Barkley
Ross Barkley 2013.jpg
Barkley thi đấu cho Everton năm 2013
Thông tin cá nhân
Tên đầy đủ Ross Barkley[1]
Ngày sinh 5 tháng 12, 1993 (25 tuổi)
Nơi sinh Liverpool, Anh
Chiều cao 1,89 m (6 ft 2 12 in)[2]
Vị trí Tiền vệ
Thông tin về CLB
CLB hiện nay
Chelsea
Số áo 8
Sự nghiệp cầu thủ trẻ
2005–2010 Everton
Sự nghiệp cầu thủ chuyên nghiệp*
Năm Đội ST (BT)
2010–2018 Everton 150 (21)
2012Sheffield Wednesday (mượn) 13 (4)
2013Leeds United (mượn) 4 (0)
2018– Chelsea 29 (3)
Đội tuyển quốc gia
2008–2009 U-16 Anh 7 (2)
2009–2010 U-17 Anh 7 (2)
2010–2012 U-19 Anh 12 (0)
2013 U-20 Anh 4 (0)
2011–2013 U-21 Anh 5 (1)
2013– Anh 29 (4)
* Chỉ tính số trận và số bàn thắng ghi được ở giải vô địch quốc gia và được cập nhật tính đến 12 tháng 5 năm 2019
‡ Số lần khoác áo và số bàn thắng tại ĐTQG được cập nhật tính đến 9 tháng 6 năm 2019

Ross Barkley (sinh ngày 5 tháng 12 năm 1993) là cầu thủ bóng đá người Anh thi đấu ở vị trí tiền vệ cho câu lạc bộ Chelseađội tuyển quốc gia Anh.

Barkley bắt đầu sự nghiệp của mình tại Everton và được ra sân tại Premier League lần đầu tiên vào năm 2011. Anh cũng từng có khoảng thời gian thi đấu cho Sheffield WednesdayLeeds United theo thỏa thuận cho mượn từ Everton. Tháng 1 năm 2018, anh chuyển đến Chelsea.

Barkley lần đầu tiên được triệu tập vào Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh vào tháng 8 năm 2013 và có giải đấu lớn đầu tiên tham gia là World Cup 2014.

Sự nghiệp câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Everton[sửa | sửa mã nguồn]

Ross Barkley gia nhập Everton vào năm 11 tuổi. Anh được đưa vào đội bình dự bị của đội một Everton trong các trận đấu đầu tiên của mùa giải 2010-11 và được kỳ vọng sẽ sớm có trận ra mắt tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh[3] trước khi bị gãy chân sau một pha va chạm trong trận đấu của đội tuyển U-19 Anh vào tháng 10 năm 2010.[4]

Anh trở lại sau chấn thương và có mặt trong đội một của Everton tham dự các trận giao hữu trước mùa giải 2011–12. Anh có trận đấu chính thức đầu tiên cho Everton và tại Premier League trong trận thua 1-0 trước Queens Park Rangers ngày 20 tháng 8 năm 2011.[5] Màn trình diễn xuất sắc của Barkley trong trận này khiến cho cựu hậu vệ Martin Keown khen ngợi anh "[Barkley sẽ là] một trong những cầu thủ xuất sắc nhất của đất nước này."[6] Barkley ký hợp đồng mới có thời hạn bốn năm rưỡi với Everton vào tháng 12 năm 2011.[7]

Ngày 14 tháng 9 năm 2012, Barkley đến Sheffield Wednesday theo hợp đồng cho mượn có thời hạn một tháng[8] và ngay lập tức được ra sân trong trận đấu với Brighton & Hove Albion.[9] Một tuần sau đó trong trận đấu với Bolton Wanderers, anh có bàn thắng đầu tiên cho Wednesday.[10] Sau mười ba trận đấu cho Wednesday, anh được Everton triệu hồi.[11] Tháng 1 năm 2013, anh lại được đem cho Leeds United mượn và có trận đầu tiên cho Leeds gặp Barnsley.

2013-14[sửa | sửa mã nguồn]

Barkley trở lại đội một Everton từ đầu mùa giải 2013-14. Anh trở thành cầu thủ đầu tiên của Everton ghi bàn tại Giải bóng đá Ngoại hạng Anh 2013-14 và đây cũng là bàn thắng đầu tiên của anh cho câu lạc bộ trong trận hòa 2-2 trước Norwich City.[12][13] Ngày 30 tháng 9, anh có bàn thắng thứ hai với pha lập công trong chiến thắng 3-2 trước Newcastle United.[14] Ngày 22 tháng 12, anh ghi bàn thắng ấn định chiến thắng 2-1 trước Swansea City.[15]

Barkley có bàn thắng đầu tiên cho Everton tại đấu trường Cúp FA vào ngày 4 tháng 1 năm 2014 trong chiến thắng 4–0 trước Queens Park Rangers.[16] Trong chiến thắng 3-0 của Everton trước Newcastle ngày 26 tháng 3, Barkley đã có bàn thắng tuyệt đẹp khi từ vị trí giữa sân đã đi bóng qua hàng loạt hậu vệ Newcastle trước khi dứt điểm chân trái hạ gục thủ thành Tim Krul.[17]

Ngày 18 tháng 4 năm 2014, anh có tên trong danh sách rút gọn sáu cầu thủ cho danh hiệu Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất năm của Hiệp hội Cầu thủ Chuyên nghiệp Anh (PFA).[18] Ngày 3 tháng 5 năm 2014, Barkley có bàn thắng thứ sáu trong mùa giải vào lưới Manchester City, được BBC Sport miêu tả là "ngoạn mục" và bàn thắng này đã được chọn là bàn thắng đẹp nhất trong mùa giải 2013-14 của câu lạc bộ Everton.[19][20]

2014-15[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 29 tháng 7 năm 2014, Barkley ký hợp đồng mới Everton, theo đó anh sẽ gắn bó với câu lạc bộ đến năm 2018.[21] Ngay đầu mùa giải, Barkley bị chấn thương dây chằng đầu gối và phải nghỉ thi đấu 8 tháng.[22] Đến ngày 18 tháng 10 năm 2014, trong trận đấu đầu tiên trở lại sau chấn thương gặp Aston Villa, anh đã chuyền cho tiền đạo Romelu Lukaku ghi bàn nâng tỉ số lên 2-0 trong chiến thắng 3-0 chung cuộc.[23]

Ngày 15 tháng 12, anh ghi bàn thắng đầu tiên trong mùa giải trong chiến thắng 3-1 trước Queens Park Rangers.[24] Ba tháng sau đó, anh có bàn thắng thứ hai, lần này là trong chiến thắng 3-0 trước Newcastle United.[25]

Barkley là người ghi bàn thắng đầu tiên cho Everton trong mùa giải 2016–17 trong trận hòa 1-1 với Tottenham Hotspur.[26]

Vào ngày cuối kỳ chuyển nhượng mùa hè 2017, anh đã tiến rất gần đến việc trở thành cầu thủ của Chelsea nhưng thương vụ bị đổ vỡ vào phút chót do chấn thương của Barkley và bản thân anh mong muốn có thêm cơ hội để cân nhắc quyết định chính thức. Cũng do chấn thương gân kheo, Barkley không thi đấu trong nửa đầu mùa giải 2017-18.[27][28]

Chelsea[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 5 tháng 1 năm 2018, Barkley chính thức đến Chelsea với phí chuyển nhượng 15 triệu £ và bản hợp đồng có thời hạn 5 năm rưỡi.[29] Anh khoác áo số 8 mà huyền thoại Frank Lampard của Chelsea để lại.[30]

2018-19[sửa | sửa mã nguồn]

Barkley có trận đấu đầu tiên cho Chelsea trong trận thua 2–1 trước Arsenal tại trận lượt về bán kết Cúp EFL ngày 24 tháng 1 khi anh vào sân thay cho Willian bị chấn thương phải rời sân ngay trong hiệp 1.[31] Ngày 1 tháng 2, Barkley lần đầu được đá chính trong màu áo Chelsea trong trận đấu tại Premier League với AFC Bournemouth nhưng Chelsea đã bất ngờ để thua đậm 3-0.[32] Anh có được danh hiệu đầu tiên cùng Chelsea khi kết thúc mùa giải 2017-18 là chức vô địch Cúp FA.

Ngày 7 tháng 10 năm 2018, Barkley có được bàn thắng đầu tiên cho Chelsea trong trận thắng 3-0 trước Southampton bằng một pha đệm bóng cận thành. Anh còn có một đường chuyền thành bàn trong trận này.[33] Ngày 20 tháng 10, sau khi vào sân thay cho Mateo Kovačić, Barkley giúp Chelsea cầm hòa Manchester United 2-2 với bàn thắng ở phút bù giờ cuối cùng 90+6.[34] Anh tiếp tục duy trì phong độ cao với một đường chuyền thành bàn và một bàn thắng trong trận thắng 4-0 trước Burnley ngày 28 tháng 10 và đây là lần đầu tiên trong sự nghiệp Barkley ghi bàn trong ba trận đấu liên tiếp tại Premier League.[35]

Sự nghiệp đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các đội trẻ[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2008, khi mới 14 tuổi, Barkley đã được triệu tập vào đội tuyển U-16 Anh.[36]

Anh là thành viên của U-16 Anh tham dự Giải đấu Montaigu 2009, một giải đấu của các đội tuyển U-16 quốc gia và sau cùng đã đánh bại U-16 Đức trong trận chung kết để giành chức vô địch.[37] Một năm sau đó, anh cùng đội tuyển U-17 Anh giành chức vô địch Giải vô địch bóng đá U-17 châu Âu khi đánh bại U-17 Tây Ban Nha 2-1 trong trận chung kết.[38]

Tháng 9 năm 2011, Barkley có trận đấu đầu tiên cho đội tuyển U-21 Anh.[39] Ngày 28 tháng 5 năm 2013, anh được huấn luyện viên Peter Taylor triệu tập vào đội hình tham dự Giải vô địch bóng đá U-20 thế giới 2013.[40] Anh ghi được một bàn thắng cho đội tuyển U-21 Anh trong chiến thắng 6-0 trước U-21 Scotland ngày 13 tháng 8 năm 2013.[41]

Đội tuyển quốc gia Anh[sửa | sửa mã nguồn]

Barkley lần đầu tiên được triệu tập vào Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh vào tháng 8 năm 2013[42] và chính thức có trận đấu đầu tiên vào ngày 6 tháng 9 năm 2013 trong trận đấu tại khuôn khổ vòng loại World Cup 2014 với Moldova khi vào sân thay cho Jack Wilshere.[43][44]

Ngày 12 tháng 5 năm 2014, Barkley được huấn luyện viên Roy Hodgson đưa vào danh sách 23 cầu thủ Anh tham dự World Cup 2014 tại Brasil.[45] Anh có trận đấu đầu tiên tại đấu trường World Cup khi vào sân thay cho Danny Welbeck trong trận thua 1-2 trước Ý ngày 14 tháng 6 năm 2014.[46]

Thống kê sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 29 tháng 5 năm 2019.
Club statistics
Câu lạc bộ Mùa giải Giải đấu FA Cup League Cup Châu Âu Khác Tổng cộng
Giải đấu Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng Số trận Bàn thắng
Everton 2010–11 Premier League 0 0 0 0 0 0 0 0
2011–12 Premier League 6 0 1 0 2 0 9 0
2012–13 Premier League 7 0 1 0 1 0 9 0
2013–14 Premier League 34 6 3 1 1 0 38 7
2014–15 Premier League 29 2 2 0 0 0 5 0 36 2
2015–16 Premier League 38 8 4 2 6 2 48 12
2016–17 Premier League 36 5 1 0 2 1 39 6
2017–18 Premier League 0 0 0 0 0 0 0 0
Tổng cộng 150 21 12 3 12 3 5 0 179 27
Sheffield Wednesday (mượn) 2012–13 Giải hạng nhất 13 4 13 4
Leeds United (mượn) 2012–13 Giải hạng nhất 4 0 4 0
Chelsea 2017–18 Premier League 2 0 1 0 1 0 0 0 4 0
2018–19 Premier League 27 3 3 0 5 0 12 2 1 0 48 5
Tổng cộng 29 3 4 0 6 0 12 2 1 0 52 5
Tổng cộng sự nghiệp 196 28 16 3 18 3 17 2 1 0 248 36

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến ngày 6 tháng 6 năm 2019.[47]
Đội tuyển quốc gia Năm Số lần ra sân Số bàn thắng
Anh 2013 3 0
2014 7 0
2015 9 2
2016 3 0
2018 3 0
2019 3 2
Tổng cộng 28 4

Bàn thắng quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

# Ngày Địa điểm Đối thủ Bàn thắng Kết quả Giải đấu
1. 5 tháng 9 năm 2015 Sân vận động San Marino, Serravalle, San Marino  San Marino 3–0 6–0 Vòng loại Euro 2016
2. 12 tháng 10 năm 2013 Sân vận động LFF, Vilnius, Litva  Litva 1–0 3–0 Vòng loại Euro 2016
3. 25 tháng 3 năm 2019 Sân vận động Podgorica City, Podgorica, Montenegro  Montenegro 2–0 5–0 Vòng loại Euro 2020
4. 3–0

Danh hiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Đội tuyển quốc gia[sửa | sửa mã nguồn]

U-16 Anh
U-17 Anh

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Barclays Premier League Squad Numbers 2013/14”. Premier League. Ngày 16 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 8 năm 2013. 
  2. ^ “Player Profile: Ross Barkley”. Premier League. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2013. 
  3. ^ Doyle, Ian (ngày 28 tháng 4 năm 2011). “Bank on Barkley to shine at Blues says boss Moyes”. Liverpool Daily Post. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011. 
  4. ^ “Everton's Ross Barkley breaks leg on England U19 duty”. BBC Sport. Ngày 14 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2011. 
  5. ^ Lewis, Andy (ngày 20 tháng 8 năm 2011). “Barkley handed debut”. Everton F.C. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. 
  6. ^ “Transfer deadline quotes of the day”. BBC Sport. Ngày 31 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 31 tháng 8 năm 2011. 
  7. ^ “Teenager Ross Barkley signs long-term Everton contract”. BBC Sport. Ngày 16 tháng 12 năm 2011. Truy cập ngày 17 tháng 12 năm 2011. 
  8. ^ “Sheffield Wednesday sign Everton's Ross Barkley on loan”. BBC Sport. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. 
  9. ^ "Brighton 3–0 Sheff Wed" BBC Sport. 14 tháng 9 năm 2012. Truy cập: 27 tháng 12 năm 2012.
  10. ^ "Sheffield Wed 1–2 Bolton" BBC Sport. 22 tháng 9 năm 2012. Truy cập: 22 tháng 9 năm 2012.
  11. ^ “Barkley To Return To Blues”. Evertonfc.com. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2012. 
  12. ^ “Norwich 2–2 Everton”. BBC Sport. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. 
  13. ^ “Premier League: Everton draw 2–2 with Norwich at Carrow Road”. Sky Sports. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  14. ^ “Everton 3 Newcastle 2 match report: Romelu Lukaku and Ross Barkley on target for Toffees as Magpies nearly stage comeback”. The Independent. Ngày 1 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  15. ^ “Swansea 1–2 Everton”. BBC Sport. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  16. ^ Reddy, Luke (ngày 4 tháng 1 năm 2014). “Everton 4-0 QPR”. BBC Sport. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  17. ^ “Newcastle 0–3 Everton”. BBC Sport. Truy cập ngày 4 tháng 6 năm 2014. 
  18. ^ “PFA Player of the Year award shortlist: Gerrard and Lallana nominated”. The Guardian. Ngày 18 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  19. ^ “Everton 2 Manchester City 3”. BBC Sport. Ngày 3 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 3 tháng 5 năm 2014. 
  20. ^ “Seamus Coleman is Toffees' player of the season while Ross Barkley wins best goal for Man City strike at Everton awards”. Mail Online. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  21. ^ “Ross Barkley signs £65,000 four-year deal to stay at Everton until 2018”. Mail Online. Ngày 29 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 5 năm 2015. 
  22. ^ “Roberto Martínez: Ross Barkley may make Everton return in eight weeks”. The Guardian. Ngày 12 tháng 8 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  23. ^ “Everton 3-0 Aston Villa: Ross Barkley makes his big comeback as Toffees defeat Paul Lambert's men at Goodison Park”. Mail Online. Ngày 18 tháng 10 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  24. ^ “Everton 3-1 QPR”. BBC. Ngày 15 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  25. ^ “Everton 3-0 Newcastle United”. BBC. Ngày 15 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2015. 
  26. ^ “Everton 1–1 Tottenham Hotspur”. BBC Sport. 13 tháng 8 năm 2016. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018. 
  27. ^ “Ross Barkley bỏ ý định tới Chelsea trong lúc... kiểm tra y tế”. TTVH Online. 1 tháng 9 năm 2017. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018. 
  28. ^ “Chelsea chuẩn bị chiêu mộ Ross Barkley từ Everton”. VNExpress. 5 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018. 
  29. ^ “Ross Barkley: Chelsea sign midfielder from Everton for £15m”. BBC Sport. 5 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018. 
  30. ^ “Chelsea mua được người kế tục Frank Lampard với giá rẻ”. VNExpress. 6 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 6 tháng 1 năm 2018. 
  31. ^ “Ross Barkley's Chelsea debut against Arsenal assessed”. Sky Sports. 25 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018. 
  32. ^ “Chelsea Suffer Shock 3–0 Defeat to Bournemouth in Premier League Action”. Bleacher Report. 1 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018. 
  33. ^ “Ross Barkley takes chance as Blues pose mount title threat: five things we learned from Chelsea vs Southampton”. The Independent. 8 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018. 
  34. ^ “Man Utd rơi chiến thắng trước Chelsea ở phút bù giờ thứ sáu”. VnExpress. 20 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018. 
  35. ^ “Burnley 0-4 Chelsea: Ross Barkley stars for Blues as they brush Clarets aside”. Sky Sports. 28 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 11 năm 2018. 
  36. ^ “Ross Barkley: Why the Everton star is more than the new Gazza”. BBC Sport. Ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  37. ^ “England retain Montaigu title”. The Football Association. Ngày 13 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  38. ^ “Three years after becoming kings of Europe, only one of England's brilliant Under 17 team, Everton's Ross Barkley, is playing regularly in the Premier League. So, where did it all go wrong for the golden boys?”. Mail Online. Ngày 28 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  39. ^ “Barkley makes U-21 bow”. Toffe Web. Ngày 6 tháng 9 năm 2011. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  40. ^ "Final squad named" TheFA.com. 28 tháng 5 năm 2013. Truy cập 17 tháng 6 năm 2013.
  41. ^ "England Under-21s thrash Scotland 6–0 in friendly" BBC Sport. 13 tháng 8 năm 2013. Truy cập 13 tháng 6 năm 2014.
  42. ^ "Andros Townsend and Ross Barkley in England squad" BBC Sport. 27 tháng 8 năm 2013. Truy cập 13 tháng 6 năm 2014.
  43. ^ "England 4–0 Moldova" BBC Sport. 6 tháng 9 năm 2013. Truy cập 13 tháng 6 năm 2014.
  44. ^ “Ross Barkley learns from mistakes to give his all for Everton”. The Guardian. Ngày 20 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  45. ^ “World Cup 2014: England name Ross Barkley in squad”. BBC Sport. Ngày 12 tháng 5 năm 2014. Truy cập ngày 13 tháng 6 năm 2014. 
  46. ^ “England 1-2 Italy”. BBC Sport. Ngày 14 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 6 năm 2014. 
  47. ^ “Ross Barkley”. National Football Teams. Benjamin Strack-Zimmerman. Truy cập ngày 19 tháng 11 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]