Bước tới nội dung

Swansea City A.F.C.

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Swansea City
Tên đầy đủCâu lạc bộ bóng đá Swansea City
Biệt danh
Thành lập1912; 114 năm trước (1912), với tên gọi Swansea Town
SânSân vận động Swansea.com
Sức chứa21.000[2]
Chủ sở hữuSwansea Football LLC (71,18%)
Nigel Morris (12,9%)
Swansea City Supporters Society Ltd (6,98%)[3]
Giám đốc điều hànhTom Gorringe
Huấn luyện viên trưởngVítor Matos
Giải đấuChampionship
2024-25Championship, thứ 11 trên 24
Websiteswanseacity.com
Mùa giải hiện nay

Câu lạc bộ bóng đá Swansea City (tiếng Anh: Swansea City Association Football Club) (/ˈswɒnzi/ SWON-zee; tiếng Wales: Clwb Pêl-droed Dinas Abertawe[4]) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp xứ Wales có trụ sở tại Swansea, Wales. Đội hiện thi đấu tại EFL Championship, hạng đấu cao thứ hai của bóng đá Anh. Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1912 với tên gọi Swansea Town, nhưng đổi tên vào năm 1970 để phản ánh việc Swansea được trao tư cách thành phố.[5] Đội đã chơi các trận sân nhà tại Sân vận động Swansea.com (trước đây có tên Sân vận động Liberty) từ năm 2005, sau khi trước đó thi đấu tại Vetch Field kể từ khi thành lập.

Swansea gia nhập Southern League vào năm 1912 trước khi gia nhập Football League vào năm 1920. Đội giành chức vô địch Third Division South vào các năm 1925 và 1949, nhưng rơi xuống Fourth Division sau các lần xuống hạng vào năm 1965 và 1967. Swansea giành ba lần thăng hạng trong bốn mùa giải để lên tới First Division vào năm 1981, kết thúc ở vị trí thứ sáu tại hạng đấu cao nhất (thành tích kỉ lục của câu lạc bộ), nhưng đã trở lại Fourth Division vào năm 1986. Câu lạc bộ vô địch Third Division vào năm 2000 nhưng chỉ vừa đủ tránh được việc xuống hạng xuống Conferencemùa giải 2003. Đội giành chức vô địch giải quốc nội lần thứ tư vào năm 2008 sau khi vô địch League One.

Năm 2011, Swansea giành quyền thăng hạng lên Premier League và vô địch Cúp Liên đoàn hai năm sau đó, qua đó giành quyền tham dự UEFA Europa League. Đây là danh hiệu lớn đầu tiên trong lịch sử câu lạc bộ; những danh hiệu khác gồm mười Cúp bóng đá Wales, hai Football League Trophy và hai FAW Premier Cup. Câu lạc bộ cũng giành quyền tham dự European Cup Winners' Cup bảy lần trong giai đoạn từ năm 1961 đến năm 1991. Swansea xuống hạng khỏi Premier League vào năm 2018, và kể từ đó vẫn thi đấu tại Championship.

Hành trình đi lên của Swansea từ hạng Tư của bóng đá Anh tới Premier League được ghi lại trong bộ phim năm 2014, Jack to a King – The Swansea Story. Một số cầu thủ đã khoác áo đội tuyển quốc gia trong thời gian thi đấu cho câu lạc bộ, bao gồm cả đội tuyển quốc gia xứ Wales.[6] Swansea City Supporters' Trust sở hữu cổ phần trong câu lạc bộ;[3] sự tham gia của tổ chức này từng được Supporters Direct ca ngợi vào năm 2012 là "ví dụ nổi bật nhất về việc một hội cổ động viên tham gia trực tiếp vào việc điều hành một câu lạc bộ".[7]

Lịch sử

[sửa | sửa mã nguồn]

Những năm đầu (1912-1945)

[sửa | sửa mã nguồn]
Đội hình Swansea Town trong mùa giải đầu tiên, 1912-13

Sau sự quan tâm ngày càng tăng đối với bóng đá tại khu vực Swansea, câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp đầu tiên của thị trấn, Swansea Town, được thành lập vào năm 1912.[8][9] John William Thorpe, một luật sư địa phương, được bầu làm chủ tịch đầu tiên của câu lạc bộ.[9] Các cầu thủ được tuyển từ khắp Vương quốc Liên hiệp Anh, và đội gia nhập Southern League Second Division 2012-13 dưới sự dẫn dắt của cầu thủ kiêm huấn luyện viên đầu tiên của câu lạc bộ, Walter Whittaker.[8][9] Swansea gia nhập giải cùng với một số câu lạc bộ khác trong hạng đấu, trong đó có Cardiff City, đối thủ chuyên nghiệp đầu tiên của Swansea tại giải vô địch quốc gia.[8] Trận đấu diễn ra vào ngày 7 tháng 9 năm 1912 tại Vetch Field của Swansea kết thúc với tỉ số hòa 1-1, trong đó Billy Ball ghi bàn thắng đầu tiên cho Swansea.[8]

Trong mùa giải đầu tiên, Swansea giành Cúp bóng đá Wales, chức vô địch giải xứ Wales và đứng thứ ba tại Southern League Second Division.[5] Ở mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ vào tới vòng Một chính thức của Cúp FA và kết thúc ở vị trí thứ tư tại giải.[5] John William Bartlett thay Whittaker vào năm 1914.[5] Dưới sự dẫn dắt của ông, câu lạc bộ đánh bại nhà vô địch Anh đương nhiệm Blackburn Rovers với tỉ số 1-0 ở vòng Một của Cúp FA 1914-15, với bàn thắng của Swansea do Ben Beynon ghi.[10]

Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các giải đấu bóng đá được tái cấu trúc và câu lạc bộ bắt đầu thi đấu tại Third Division mới của Football League vào năm 1920.[8] Swansea giành chức vô địch đầu tiên vào năm 1925 dưới thời huấn luyện viên Joe Bradshaw sau khi vô địch Third Division (South).[5] Mùa giải tiếp theo, đội vào tới bán kết Cúp FA và đứng thứ năm tại giải vô địch quốc gia.[5][8] Sau khi Bradshaw rời câu lạc bộ, Swansea không có huấn luyện viên cho tới năm 1927, khi James Thompson được bổ nhiệm.[5] Trong vài năm tiếp theo, câu lạc bộ chịu áp lực tài chính, với việc các cầu thủ bị bán đi và thay bằng những lựa chọn rẻ hơn; Thompson từ chức vào năm 1931.[5] Dù vậy, Swansea lại giành Cúp bóng đá Wales ở mùa giải 1931-32.[8] Câu lạc bộ tiếp tục gặp thêm khó khăn tài chính trong thập niên 1930 nhưng tránh được việc xuống hạng dưới thời huấn luyện viên Neil Harris trước khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ.[5]

Sau chiến tranh (1945-1970)

[sửa | sửa mã nguồn]
Ivor Allchurch ghi 164 bàn sau 445 lần ra sân cho The Swans trong hai giai đoạn 1947-1958 và 1965-1968

Khi bóng đá trở lại sau chiến tranh, Swansea xuống hạng xuống Third Division vào năm 1947 nhưng giành quyền trở lại Second Division với tư cách nhà vô địch vào năm 1949.[8] Trong những mùa giải tiếp theo, Swansea chứng kiến một số cầu thủ trẻ chen chân vào đội một, trong đó có đội trưởng tương lai của câu lạc bộ là Ivor Allchurch.[5][8] Câu lạc bộ xây dựng được sự ủng hộ mạnh mẽ tại địa phương trong giai đoạn này, với lượng khán giả đông đảo tại các trận đấu ở giải vô địch quốc gia, chẳng hạn như kỉ lục khán giả sân nhà ở trận gặp Leeds United vào năm 1955.[8] Tuy vậy, câu lạc bộ vẫn tiếp tục chật vật về tài chính, nhưng một lần nữa tránh được việc xuống hạng ở vòng đấu cuối cùng của mùa giải 1957-58.[8]

Năm 1960, Swansea chơi trận đầu tiên tại Cúp Liên đoàn và vô địch Cúp bóng đá Wales vào năm sau, qua đó giành quyền tham dự Cup Winners' Cup. Điều này khiến Swansea trở thành câu lạc bộ xứ Wales đầu tiên góp mặt ở một giải đấu châu Âu.[8] Huấn luyện viên Trevor Morris cũng đưa câu lạc bộ vào tới bán kết Cúp FA năm 1964, sau hành trình trong đó có chiến thắng 2-1 trên sân khách trước Liverpool ở tứ kết.[8][5] Swansea xuống hạng trở lại Third Division ở mùa giải tiếp theo và tình hình tài chính của câu lạc bộ trở nên nguy cấp.[5]

Dù chỉ đứng thứ 17 tại giải dưới thời Glyn Davies, câu lạc bộ vẫn vô địch Cúp bóng đá Wales một lần nữa và giành quyền tham dự cuộc phiêu lưu châu Âu thứ hai.[5] Tuy nhiên, vào năm 1967, câu lạc bộ xuống hạng xuống Fourth Division lần đầu tiên trong lịch sử.[5] Dù vậy, Swansea vẫn ghi nhận lượng khán giả cao nhất tại Vetch Field (32.796 người) trong trận gặp Arsenal ở Cúp FA năm 1968, trận đấu mà Swansea để thua.[8][5] Bi kịch ập đến với câu lạc bộ vào tháng 1 năm 1969 khi các cầu thủ Roy Evans và Brian Purcell thiệt mạng trong một tai nạn ô tô trên đường tới nơi thi đấu.[11]

Thành công và suy thoái (1970-1986)

[sửa | sửa mã nguồn]
Biểu đồ thể hiện thứ hạng của Swansea City A.F.C. trong Hệ thống giải bóng đá Anh

Sau khi Swansea trở thành thành phố vào năm 1969, câu lạc bộ đổi tên thành Swansea City vào đầu năm 1970.[5] Đội bóng của Roy Bentley ăn mừng sự kiện này bằng việc giành quyền thăng hạng trở lại Third Division.[5] Sau những vị trí giữa bảng ở hai mùa giải tiếp theo, câu lạc bộ khởi đầu tệ hại ở mùa giải 1972-73, khiến Bentley bị thay thế bởi Harry Gregg. Gregg không thể ngăn đà sa sút của đội và câu lạc bộ trở lại Fourth Division ở mùa giải 1973-74.[5] Ông được thay thế bởi Harry Griffiths, chuyên gia vật lí trị liệu của câu lạc bộ, người cũng từng chơi cho Swansea.[5] Những vấn đề tài chính tiếp tục đeo bám câu lạc bộ và Swansea buộc phải xin tái đắc cử để ở lại Football League.[5][8]

Swansea không thể giành quyền thăng hạng vào năm 1977, và Griffiths từ chức ở mùa giải tiếp theo dù đội khởi đầu tích cực.[5] Ông được thay thế bởi John Toshack.[5] Swansea thăng hạng vào năm 1978, và Toshack đưa câu lạc bộ lên Second Division ở mùa giải tiếp theo rồi lên First Division vào năm 1981.[8] Đội đánh bại Preston North End với tỉ số 3-1 để chắc chắn thăng hạng, với các bàn thắng của Tommy Craig, Leighton JamesJeremy Charles.[12][13] Hành trình bốn năm đi từ hạng thấp lên hạng cao nhất của Swansea trở thành kỉ lục trong bóng đá Anh, đồng sở hữu cùng với Wimbledon.[14] Swansea cũng giành Cúp bóng đá Wales ở mùa giải đó, qua đó giành quyền tham dự châu Âu lần đầu tiên kể từ mùa giải 1965-66.[15]

Trận đấu đầu tiên của câu lạc bộ ở hạng đấu cao nhất kết thúc bằng chiến thắng 5-1 trước Leeds United, và trong mùa giải đó đội cũng đánh bại Tottenham Hotspur, Arsenal, Liverpool và Manchester United.[16][5] Swansea dẫn đầu giải đấu khi còn mười hai trận chưa đấu, nhưng cuối cùng kết thúc ở vị trí thứ sáu.[16] Đội lại vô địch Cúp bóng đá Wales để giành quyền tham dự châu Âu.[17] Dù xuống hạng xuống Second Division ở mùa giải tiếp theo, Swansea vẫn có thành công tại châu Âu sau khi đánh bại Braga và thắng Sliema Wanderers với tỉ số 12-0, một kết quả kỉ lục của câu lạc bộ.[8] Sau đó, Swansea bị Paris-Saint Germain loại.[8] Trong bối cảnh áp lực tài chính, Toshack rời câu lạc bộ vào tháng 10 năm 1983, trở lại tám tuần sau đó, nhưng lại rời Swansea một lần nữa vào năm 1984 khi đội đã rơi xuống Third Division.[5]

Đến năm 1985, câu lạc bộ phải chiến đấu để tồn tại và nhận lệnh cưỡng bức giải thể.[16] Người dân địa phương đã quyên góp tiền cho câu lạc bộ, còn Manchester United chơi một trận giao hữu gây quĩ được 45.000 bảng Anh.[8] Câu lạc bộ được cứu bởi Peter Howard, Harry Hyde, Bobby Jones, Mel Nurse và Dave Savage (những người sau này được gọi là "Famous Five"),[16] cùng với doanh nhân địa phương Doug Sharpe, mặc dù sự thay đổi quyền sở hữu vẫn không đủ để ngăn việc Swansea rơi xuống Fourth Division vào năm 1986.[18][16]

Thăng hạng, xuống hạng và những năm cuối ở Vetch Field (1986-2005)

[sửa | sửa mã nguồn]

Swansea thăng hạng từ Fourth Division vào năm 1988 sau khi thắng play-off.[5] Câu lạc bộ lại vô địch Cúp bóng đá Wales vào các năm 1989 và 1991 để giành quyền tham dự châu Âu.[8] Sau một giai đoạn tương đối ổn định, Swansea vào tới bán kết play-off của Second Division mới vào năm 1993 trước khi lần đầu tiên góp mặt tại Sân vận động Wembley một năm sau đó, khi họ đánh bại Huddersfield Town để vô địch Football League Trophy.[5][8]

Sau khi Jan Mølby trở thành cầu thủ kiêm huấn luyện viên, câu lạc bộ xuống hạng xuống cấp thấp nhất, dù vẫn vào tới một trận chung kết play-off khác tại Wembley vào năm 1997, nơi họ thất bại.[5] Chủ tịch Sharpe bán câu lạc bộ, và Swansea chứng kiến một số huấn luyện viên khác nhau trong giai đoạn này. Sau thêm một trận bán kết play-off không thành công vào năm 1999, Swansea vô địch Third Division vào năm 2000.[8] Tuy nhiên, trận hòa 1-1 trên sân Rotherham United, trận đấu xác nhận Swansea là nhà vô địch Third Division, bị phủ bóng bởi cái chết của cổ động viên Terry Coles, người bị một con ngựa của cảnh sát giẫm chết trước trận đấu.[19]

Vào tháng 7 năm 2001, sau khi xuống hạng trở lại Third Division, câu lạc bộ được bán cho giám đốc điều hành Mike Lewis với giá 1 bảng Anh.[8] Một tháng sau đó, Swansea City Supporters' Trust được thành lập.[20] Lewis sau đó bán cổ phần của mình cho một nhóm doanh nhân người Úc đứng sau đội bóng Brisbane Lions, do Tony Petty đứng đầu, một lần nữa với giá 1 bảng Anh.[20] Sau các cuộc biểu tình của cổ động viên phản đối cách điều hành của Petty, trong thời gian đó ông ta tìm cách sa thải bảy cầu thủ để cắt giảm chi phí, câu lạc bộ được bán cho một nhóm địa phương do Mel Nurse đứng đầu.[21] Huw Jenkins được bổ nhiệm làm chủ tịch vào tháng 1 năm 2002.[22]

Người hâm mộ và cầu thủ Swansea ăn mừng bàn thắng cuối cùng tại giải vô địch quốc gia được ghi ở Vetch Field

Swansea cũng gặp khó khăn trên sân cỏ. Ban chủ sở hữu mới tìm cách giữ đội ở lại Football League, và Brian Flynn được bổ nhiệm làm huấn luyện viên vào cuối năm 2002.[21][5] Với các bản hợp đồng mới, trong đó có Roberto MartínezLeon Britton, Flynn giúp Swansea trụ lại Football League sau chiến thắng trước Hull City ở vòng cuối cùng của mùa giải 2002-03.[22][5] Mặc dù khởi đầu tích cực ở mùa giải tiếp theo, Kenny Jackett thay Flynn vào năm 2004.[5] Jackett đưa Swansea giành quyền thăng hạng lên League One trong mùa giải cuối cùng của câu lạc bộ tại Vetch Field.[5] Đội cũng giành FAW Premier Cup ở ngày cuối cùng tại Vetch.[5]

Chuyển tới Liberty Stadium và trở lại hạng đấu cao nhất (2005-2016)

[sửa | sửa mã nguồn]

Câu lạc bộ chuyển tới Liberty Stadium mới vào tháng 7 năm 2005,[20] với trận đấu đầu tiên tại giải vô địch quốc gia là chiến thắng 1-0 trước Tranmere Rovers.[8] Trong mùa giải đầu tiên tại sân mới, Swansea vô địch Football League Trophy lần đầu tiên kể từ năm 1994 và FAW Premier Cup năm thứ hai liên tiếp.[8][5] Câu lạc bộ cũng vào tới trận chung kết play-off League One, nhưng để thua Barnsley.[5]

Roberto Martínez, cựu đội trưởng của Swansea, thay Jackett làm huấn luyện viên vào giữa mùa giải năm 2007.[5] Ông đưa Swansea thăng hạng lên Championship với tư cách nhà vô địch League One vào năm 2008, đồng thời xây dựng tại câu lạc bộ một lối chơi dựa trên kiểm soát bóng.[5][23] Khi Martínez rời Swansea vào năm 2009, Paulo Sousa thay thế ông trước khi cũng rời đi vào năm 2010.[5] Trước khi Sousa ra đi, cầu thủ Swansea Besian Idrizaj bị đau tim khi đang làm nhiệm vụ quốc tế; câu lạc bộ đã treo vĩnh viễn áo số 40 để tưởng nhớ anh.[24]

Swansea City ăn mừng quyền thăng hạng lên Premier League tại Sân vận động Wembley

Brendan Rodgers thay Sousa và đưa câu lạc bộ lên Premier League vào năm 2011 sau khi đánh bại Reading 4-2 trong trận chung kết play-off, với Scott Sinclair lập hat-trick.[25] Swansea trở thành đội bóng xứ Wales đầu tiên thi đấu tại Premier League kể từ khi giải đấu này ra đời vào năm 1992.[26] Trước mùa giải ra mắt, câu lạc bộ chiêu mộ Danny Graham từ Watford với mức phí kỉ lục khi đó là 3,5 triệu bảng Anh.[27] Đội đánh bại Arsenal, Liverpool và Manchester City, nhà vô địch cuối mùa, trên sân nhà trong mùa giải đó.[28] Swansea kết thúc mùa giải ở vị trí thứ mười một, nhưng Rodgers rời đi để dẫn dắt Liverpool vào cuối mùa.[29]

Tập tin:Swansea City AFC logo (100th anniversary).svg
Huy hiệu kỉ niệm 100 năm của Swansea City A.F.C. được sử dụng trong mùa giải 2012-13

Rodgers được thay thế bởi Michael Laudrup cho mùa giải 2012-13, cũng là mùa giải kỉ niệm 100 năm thành lập câu lạc bộ.[29] Trận đấu đầu tiên của Laudrup tại giải vô địch quốc gia kết thúc bằng chiến thắng 5-0 trước Queens Park Rangers trên sân khách tại Loftus Road.[30] Sau đó Swansea đánh bại West Ham United 3-0 tại Liberty Stadium, trong đó Michu ghi bàn thắng thứ ba sau hai trận.[31] Kết quả này đưa Swansea lên đầu bảng Premier League; đây là lần đầu tiên kể từ tháng 3 năm 1982 đội bóng đứng đầu hạng đấu cao nhất.[31][13] Sau những chiến thắng ở cúp trước Liverpool và Chelsea,[32] Swansea đánh bại Bradford City 5-0 trong Chung kết Football League Cup 2013, chiến thắng có cách biệt lớn nhất trong lịch sử các trận chung kết của giải đấu này.[33][34] Đây là danh hiệu lớn đầu tiên của Swansea ở Anh và giúp đội giành quyền tham dự UEFA Europa League 2013-14. Swansea kết thúc mùa giải Premier League ở vị trí thứ chín,[35] còn Michu là chân sút số một của câu lạc bộ trên mọi đấu trường với 22 bàn thắng.[36] Mùa hè năm đó, đội bỏ ra mức phí chuyển nhượng kỉ lục của câu lạc bộ là 12 triệu bảng Anh để chiêu mộ tiền đạo Wilfried Bony từ Vitesse Arnhem.[37]

Michael Laudrup đưa Swansea tới Europa League và một vị trí trong nửa trên bảng xếp hạng Premier League

Swansea khởi đầu thành công ở châu Âu, đánh bại đại diện Tây Ban Nha Valencia với tỉ số 3-0 tại Sân vận động Mestalla vào tháng 9 năm 2013.[38] Hai tháng sau, đội thua trận derby xứ Wales đầu tiên tại Premier League trước Cardiff City sau thất bại 0-1.[39] Vào tháng 2 năm 2014, Laudrup bị sa thải sau chuỗi phong độ kém và những cáo buộc liên quan đến sai phạm tài chính có dính líu tới người đại diện của ông là Bayram Tutumlu.[40] Hậu vệ Garry Monk, cầu thủ của Swansea từ năm 2004, được chỉ định thay thế ông.[41] Trong trận đầu tiên của Monk, Swansea đánh bại Cardiff 3-0 tại Liberty Stadium.[42] Dù cầm hòa Rafael BenítezNapoli 0-0 ở lượt đi vòng 32 đội Europa League, Swansea bị loại sau thất bại 1-3 ở lượt về tại Stadio San Paolo vào ngày 27 tháng 2 năm 2014.[43]

Bony được bán cho Manchester City với mức phí kỉ lục của Swansea là 25 triệu bảng Anh vào tháng 1 năm 2015, cùng các khoản phụ thêm được cho là nâng tổng giá trị lên 28 triệu bảng Anh.[44] Thương vụ này vượt qua mức phí kỉ lục mà Swansea từng nhận từ Liverpool cho Joe Allen là 15 triệu bảng Anh.[44] Ở thời điểm ra đi, Bony là chân sút hàng đầu của câu lạc bộ với 34 bàn trên mọi đấu trường, đồng thời là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất giải trong năm dương lịch 2014 với 20 bàn thắng.[44][45] Swansea kết thúc mùa giải 2014-15 ở vị trí thứ tám với 56 điểm, thành tích xếp hạng và số điểm cao nhất của câu lạc bộ trong một mùa giải Premier League, đồng thời là vị trí cao thứ hai trong lịch sử câu lạc bộ tại hạng đấu cao nhất.[46] Trong mùa giải đó, đội giành cú đúp chiến thắng trước Arsenal và Manchester United tại giải vô địch quốc gia, trở thành đội thứ ba trong lịch sử Premier League làm được điều này.[47] Monk bị sa thải ở mùa giải tiếp theo sau chuỗi phong độ kém và được thay bằng Francesco Guidolin.[5][48]

Quyền sở hữu của người Mĩ và trở lại Championship (2016-nay)

[sửa | sửa mã nguồn]
Swansea ra sân trước Arsenal tại Sân vận động Emirates vào năm 2017

Vào tháng 7 năm 2016, một tập đoàn người Mĩ do Jason LevienSteven Kaplan đứng đầu đã mua cổ phần kiểm soát trong câu lạc bộ,[49] nhưng chủ tịch Huw Jenkins vẫn tại vị.[49] Ba tháng sau, Guidolin bị sa thải và được thay thế bởi Bob Bradley, đánh dấu lần đầu tiên một câu lạc bộ Premier League bổ nhiệm một huấn luyện viên người Mĩ.[50] Bradley bị sa thải sau 85 ngày; ông chỉ thắng hai trong mười một trận cầm quân.[51] Ông được thay bằng Paul Clement,[52] người giúp Swansea trụ lại Premier League vào tháng 5 năm 2017.[53] Nửa đầu mùa giải 2017-18 đầy thất vọng khiến Clement bị sa thải và được thay thế bởi Carlos Carvalhal.[54][55][56] Dù liên tiếp thắng trên sân nhà tại giải vô địch quốc gia trước Liverpool (1-0),[57] Arsenal (3-1),[58] Burnley (1-0),[59] và West Ham (4-1),[60] Swansea không thắng trong chín trận cuối cùng tại giải (thua năm) dưới thời Carvalhal, khiến đội đứng thứ mười tám ở vòng cuối cùng của mùa giải.[61] Swansea xuống hạng vào ngày 13 tháng 5 năm 2018 sau thất bại 1-2 trước Stoke City, đội đã xuống hạng từ trước đó.[61]

Mùa giải đầu tiên trở lại Championship khép lại với vị trí thứ mười dưới thời huấn luyện viên mới Graham Potter,[62] bao gồm cả việc lọt vào tứ kết Cúp FA.[63] Jenkins từ chức chủ tịch trong bối cảnh bị chỉ trích vì thương vụ bán câu lạc bộ cho tập đoàn người Mĩ năm 2016 và việc đội xuống hạng khỏi Premier League.[64] Sau khi Potter rời đi để dẫn dắt Brighton,[65] cựu huấn luyện viên đội tuyển U17 Anh Steve Cooper thay thế ông.[66] Vào tháng 9 năm 2019, Swansea đứng đầu bảng xếp hạng sau tháng đầu tiên bất bại; đây là khởi đầu mùa giải tốt nhất của đội trong 41 năm.[67] Ở vòng cuối cùng của mùa giải, Swansea đánh bại Reading 4-1 để đứng thứ sáu, giành suất vào play-off trước Nottingham Forest nhờ hơn hiệu số bàn thắng bại,[68] nhưng sau đó bị Brentford loại ở trận bán kết lượt về.[69]

Cuối mùa giải 2020-21, Swansea kết thúc ở vị trí thứ tư tại giải và giành suất dự play-off mùa thứ hai liên tiếp.[70] Đội vào tới chung kết play-off sau khi đánh bại Barnsley với tổng tỉ số 2-1, nhưng để thua Brentford tại Wembley Stadium.[71] Sau khi Cooper rời câu lạc bộ, Russell Martin trở thành huấn luyện viên trưởng vào năm 2021, đưa đội kết thúc ở nhóm giữa bảng xếp hạng trước khi chuyển sang Southampton vào năm 2023.[72] Những mùa giải sau đó chứng kiến một số huấn luyện viên được bổ nhiệm rồi bị sa thải, trong bối cảnh đội bóng chật vật tại giải vô địch quốc gia.[73][74][75] Swansea cũng chứng kiến thay đổi về quyền sở hữu khi Levien và Kaplan bán cổ phần chi phối của mình vào tháng 11 năm 2024.[76] Trong những tháng tiếp theo, cầu thủ Real Madrid Luka Modrić và rapper người Mĩ Snoop Dogg gia nhập nhóm chủ sở hữu mới của câu lạc bộ.[77]

Sân vận động

[sửa | sửa mã nguồn]
Vetch Field (trái) là sân nhà của Swansea City trong 93 năm, trong khi Liberty Stadium mở cửa vào năm 2005 và được đổi tên thành Swansea.com Stadium vào năm 2021

Vetch Field là sân nhà của Swansea từ năm 1912, năm câu lạc bộ được thành lập, cho tới năm 2005. Sân này ghi nhận lượng khán giả kỉ lục 32.796 người trong trận đấu vòng Bốn Cúp FA 1968 gặp Arsenal.[8] Trận đấu cuối cùng tại Vetch là chiến thắng của Swansea trước WrexhamFAW Premier Cup 2004-05.[5]

Ngày 10 tháng 7 năm 2005, sân nhà mới của Swansea là Sân vận động Liberty chính thức được khánh thành.[78] Trận đấu đầu tiên diễn ra tại sân là trận giao hữu của Swansea gặp Fulham.[78] Liberty trở thành sân vận động Premier League đầu tiên tại xứ Wales khi Swansea giành quyền thăng hạng lên Premier League.[78] Ngoài vai trò là sân nhà của Swansea City, sân còn tổ chức các trận đấu quốc tế của đội tuyển bóng đá quốc gia xứ Wales và cũng từng là sân nhà của đội bóng bầu dục Ospreys.[79][80] Sân được đổi tên thành Swansea.com Stadium vào ngày 9 tháng 8 năm 2021 sau thỏa thuận bản quyền đặt tên kéo dài 10 năm.[81] Tính đến tháng 9 năm 2025, sức chứa của sân là 21.000 chỗ ngồi.[2]

Kình địch

[sửa | sửa mã nguồn]
Trọng tài Mike Dean được chăm sóc sau khi bị một vật thể ném trúng trong một trận derby Nam Wales

Đối thủ lớn nhất của Swansea City là Cardiff City. Các trận đấu giữa hai câu lạc bộ được gọi là derby Nam Wales. Mối kình địch này được mô tả là một trong những mối thù địch gay gắt nhất trong bóng đá Anh,[82] đặc biệt là từ sau thập niên 1960.[83] Trong một trận đấu năm 2009, trọng tài Mike Dean bị một đồng xu ném từ khán đài trúng vào đầu trong trận hòa 2-2 giữa hai đội.[84][85]

Trong khi Cardiff thắng nhiều trận derby hơn, chưa đội nào hoàn tất cú đúp chiến thắng tại giải vô địch quốc gia cho đến mùa giải 2021-22. Trong mùa đó, Swansea thắng 3-0 và 4-0 để trở thành đội đầu tiên hoàn tất cú đúp trong lịch sử 110 năm của trận derby này.[86][87] Ở mùa giải tiếp theo, Swansea đánh bại Cardiff 2-0 trên sân nhà và 3-2 ở trận sân khách, đánh dấu chiến thắng derby thứ tư liên tiếp và cú đúp tại giải mùa thứ hai liên tiếp.[88]

Swansea City và Bristol City cũng từng được mô tả là có mối kình địch.[89][90]

Bản sắc

[sửa | sửa mã nguồn]

Biệt danh

[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân Swansea có biệt danh là Jacks, một biệt danh cũng gắn liền với câu lạc bộ bóng đá này. Theo giáo sư sử học Martin Johnes của Đại học Swansea, Jack là biệt danh dành cho các thủy thủ, những người ở các thành phố khác thường được gọi theo quê quán của mình, từ đó có tên gọi "Swansea Jack". Một chú chó cứu hộ nổi tiếng của địa phương trong thập niên 1930 cũng tình cờ mang tên Swansea Jack, góp phần làm cho tên gọi này trở nên phổ biến hơn. Johnes cho biết sự gắn kết của biệt danh Jack với người dân Swansea và câu lạc bộ bóng đá có thể được thấy rõ kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai.[91]

Trang phục và huy hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Tập tin:Swansea City A.F.C. logo.png
Huy hiệu của Swansea ở mùa giải 2021-22, dựa trên thiết kế từng được sử dụng cho đến năm 1998. Màu nền được đổi sang xanh nhạt ở mùa giải 2022-23 trước khi thiết kế năm 1998 được sử dụng trở lại.

Khi thành lập vào năm 1912, Swansea Town sử dụng áo và quần màu trắng theo ảnh hưởng từ Swansea RFC, một đội bóng bầu dục liên hiệp.[92] Màu phụ trên bộ trang phục sân nhà chủ yếu là đen, ngoài ra từng có màu cam trong thập niên 1960 và màu đỏ trong thập niên 1990 cùng 2000.[93] Ở mùa giải 2012-13, câu lạc bộ kỉ niệm 100 năm thành lập bằng một bộ trang phục viền màu đồng và một huy hiệu kỉ niệm.[94]

Khi các ông chủ mới Silver Shield tiếp quản vào năm 1998, họ thay đổi huy hiệu câu lạc bộ vì hình con chim trên đó không được mọi người dễ dàng nhận ra là thiên nga, đồng thời màu nền lại là xanh lam, màu của đối thủ Cardiff City.[95] Năm 2021, כדי đánh dấu 40 năm kể từ lần đầu tiên câu lạc bộ thăng hạng lên hạng đấu cao nhất vào năm 1981, Swansea City tái giới thiệu huy hiệu từng được dùng trước thiết kế năm 1998. Dù huy hiệu này không được dùng trên áo đấu cho tới thập niên 1990, nó từng xuất hiện trên văn phòng phẩm và hàng lưu niệm trong thập niên 1980.[96] Huy hiệu năm 1998 được đưa trở lại trên áo đấu từ năm 2023.[97]

Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ

[sửa | sửa mã nguồn]
Giai đoạn Nhà sản xuất trang phục Nhà tài trợ áo đấu
1975-1979 Bukta không có
1979-1981 Adidas
1981-1984 Patrick
1984-1985 Hummel Diversified Products (DP)
1986-1989 Admiral Sportswear
1989-1991 Spall Sports
1991-1992 không có
1992-1993 Matchwinner ACTION
1993-1995 Gulf
1995-1996 Le Coq Sportif
1996-1997 South Wales Evening Post
1997-1999 New Balance Silver Shield
1999-2000 M&P Bikes
2000-2001 Bergoni Stretchout
2001-2004 The Travel House
2004-2005 RE/MAX
2005-2007 Macron The Travel House
2007-2008 swansea.com
2008-2009 Umbro
2009-2011 32Red
2011-2013 Adidas
2013-2016 GWFX
2016-2017 Joma BETEAST
2017-2018 LeTou
2018-2019 Bet UK
2019-2020 YOBET[98]
2020-2022 Đại học Swansea
2022-2023 Westacres (sân nhà)
Đại học Swansea (sân khách)
Owens (thứ ba)
2023-2025 Reviva (sân nhà)
Westacres (sân khách và bộ thứ ba)
2025–nay Reviva (sân nhà và sân khách)
Gulf (bộ thứ ba)

Thành tích tại châu Âu

[sửa | sửa mã nguồn]
Tỉ số của Swansea City luôn được ghi trước trong mọi kết quả.
Mùa giải Giải đấu Vòng Đối thủ Sân nhà Sân khách Tổng tỉ số Chú thích
1961-62 Cúp UEFA Winners' Cup Vòng Sơ loại Đông Đức Motor Jena 2-2 1-5 3-7 [99]
1966-67 Cúp UEFA Winners' Cup Vòng Một Bulgaria Slavia Sofia 1-1 0-4 1-5 [100]
1981-82 Cúp UEFA Winners' Cup Vòng Một Đông Đức Lokomotive Leipzig 0-1 1-2 1-3 [101]
1982-83 Cúp UEFA Winners' Cup Vòng Sơ loại Bồ Đào Nha Braga 3-0 0-1 3-1 [102]
Vòng Một Malta Sliema Wanderers 12-0 5-0 17-0 [103]
Vòng Hai Pháp Paris Saint-Germain 0-1 0-2 0-3 [104]
1983-84 Cúp UEFA Winners' Cup Vòng Sơ loại Đông Đức Magdeburg 1-1 0-1 1-2 [105]
1989-90 UEFA Cup Winners' Cup Vòng Một Hy Lạp Panathinaikos 2-3 3-3 5-6 [106]
1991-92 UEFA Cup Winners' Cup Vòng Một Pháp AS Monaco 1-2 0-8 1-10 [107]
2013-14 UEFA Europa League Vòng loại thứ Ba Thụy Điển Malmö FF 4-0 0-0 4-0 [108]
Vòng play-off România Petrolul Ploiești 5-1 1-2 6-3 [109]
Vòng bảng Nga Kuban Krasnodar 1-1 1-1 hạng Hai [110]
Thụy Sĩ St. Gallen 1-0 0-1 [110]
Tây Ban Nha Valencia 0-1 3-0 [110]
Vòng 32 đội Ý Napoli 0-0 1-3 1-3 [111]

Cầu thủ

[sửa | sửa mã nguồn]

Đội hình hiện tại

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 2 tháng 2 năm 2026[112]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
1 TM Anh Andy Fisher
2 HV Anh Joshua Key
4 TV Scotland Jay Fulton
5 HV Wales Ben Cabango (đội trưởng)
6 TV New Zealand Marko Stamenić
7 TV Thụy Điển Melker Widell
8 TV Bờ Biển Ngà Malick Yalcouyé (mượn từ Brighton & Hove Albion)
9 Slovenia Žan Vipotnik
10 TV Hàn Quốc Eom Ji-sung
14 HV Anh Josh Tymon
15 HV Úc Cameron Burgess
16 HV Anh Ishé Samuels-Smith (mượn từ Chelsea)
17 TV Bồ Đào Nha Gonçalo Franco
Số VT Quốc gia Cầu thủ
18 Brasil Gustavo Nunes (mượn từ Brentford)
20 Wales Liam Cullen
21 TV Phần Lan Leo Walta (mượn từ IK Sirius)
22 TM Chile Lawrence Vigouroux
23 HV Cabo Verde Ricardo Santos
25 HV Anh Joel Ward
27 Thụy Điển Zeidane Inoussa
29 TM Anh Paul Farman
30 TV Bắc Ireland Ethan Galbraith
31 TV Wales Ollie Cooper
33 Cộng hòa Ireland Adam Idah
35 Brasil Ronald
41 TV Wales Sam Parker

Cho mượn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
19 Pháp Florian Bianchini (cho Portsmouth mượn đến hết mùa giải)
24 Scotland Bobby Wales (cho Huddersfield Town mượn đến hết mùa giải)
28 TV Wales Joel Cotterill (cho Dundee mượn đến hết mùa giải)
36 TV Wales Ben Lloyd (cho Newport County mượn đến hết mùa giải)
44 Wales Josh Thomas (cho Derry City mượn đến ngày 30 tháng 6 năm 2026)
Số VT Quốc gia Cầu thủ
Anh Kyrell Wilson (cho Falkirk mượn đến hết mùa giải)
HV Séc Filip Lissah (cho Falkirk mượn đến hết mùa giải)
TM Wales Kit Margetson (cho Connah's Quay Nomads mượn đến hết mùa giải)
HV Anh Jack Fanning (cho Briton Ferry Llansawel mượn đến ngày 31 tháng 12 năm 2025)
TV Wales Mitchell Bates (cho Briton Ferry Llansawel mượn đến hết mùa giải)

Đội dưới 23 tuổi

[sửa | sửa mã nguồn]

Số áo treo vĩnh viễn

[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.

Số VT Quốc gia Cầu thủ
40 Áo Besian Idrizaj (2009-10) – vinh danh sau khi qua đời)[113]

Quan chức câu lạc bộ và ban hậu cần

[sửa | sửa mã nguồn]

Quan chức câu lạc bộ

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 12 tháng 9 năm 2025[114][3]

Các cổ đông sở hữu từ 10% trở lên trong tổng vốn cổ phần phát hành gồm Swansea Football LLC (do Brett Cravatt và Jason Cohen kiểm soát) và Nigel Morris, trong khi Swansea City Supporters Society Ltd cũng là một cổ đông.[3] Luka ModrićSnoop Dogg là đồng chủ sở hữu và nhà đầu tư.[115][116]

Chức vụ Tên
Chủ tịch danh dự của câu lạc bộAlan Curtis
Giám đốc điều hànhTom Gorringe
Giám đốcAndy Coleman
Brett Cravatt
Jason Cohen
George Popstefanov
Chris Sznewajs
Tyler Morse
Nigel Morris
Todd Marcelle
Keith English
Martin Morgan
Paul Meller (Giám đốc đại diện cổ động viên)
Diane Hughes

Ban đội một

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 24 tháng 11 năm 2025[114][117]
Chức vụ Tên
Huấn luyện viên trưởngVítor Matos
Trợ lí huấn luyện viên trưởngRyan Maye
Các huấn luyện viên đội mộtJoe Allen
Leon Britton
Diogo Medeiros
Tozé Mendes
Kristian O'Leary
Trưởng bộ phận thủ mônMartyn Margetson
Chuyên viên phân tích đội mộtGoncalo Ricca
Trưởng bộ phận y tếDr. Jez McCluskey
Trưởng bộ phận vật lí trị liệuThomas Gittoes
Quản lí trang phục đội mộtMichael Eames

Ban học viện

[sửa | sửa mã nguồn]
Tính đến 8 tháng 12 năm 2025[118]
Chức vụ Tên
Giám đốc học việnRyan Davies
Trưởng bộ phận vận hànhRebecca Gigg
Trưởng bộ phận huấn luyệnLiam McGarry
Huấn luyện viên đội dưới 21 tuổiAnthony Wright[118]
Huấn luyện viên đội dưới 18 tuổiJon Beale
Trưởng giai đoạn phát triển trẻMatthew Layton

Huấn luyện viên

[sửa | sửa mã nguồn]
John Toshack dẫn dắt Swansea trong giai đoạn 1978-1984

Huấn luyện viên chuyên nghiệp đầu tiên của Swansea City là Walter Whittaker, được bổ nhiệm vào năm 1912.[5][119] Trong mùa giải đầu tiên của câu lạc bộ, Whittaker đưa Swansea tới chức vô địch Cúp bóng đá Wales đầu tiên.[5] Huấn luyện viên gắn bó lâu nhất với câu lạc bộ, xét theo thời gian tại vị, là Haydn Green, người giữ chức trong tám năm, bốn tháng và 14 ngày, kéo dài suốt toàn bộ thời kì Chiến tranh thế giới thứ hai.[120] Trevor Morris, người phụ trách nhiều trận đấu nhất của Swansea, cũng là huấn luyện viên đầu tiên đưa một câu lạc bộ xứ Wales tới đấu trường châu Âu, sau khi giành quyền tham dự Cúp C2 châu Âu mùa giải 1961-62.[5][121]

John Toshack, huấn luyện viên thành công nhất của Swansea City với ba lần thăng hạng và ba chức vô địch Cúp bóng đá Wales, đã đưa câu lạc bộ tới thứ hạng cao nhất trong lịch sử tại giải vô địch quốc gia, vị trí thứ sáu ở mùa giải 1981-82 của First Division.[5] Được bổ nhiệm vào tháng 2 năm 1996, người Đan Mạch Jan Mølby trở thành huấn luyện viên nước ngoài đầu tiên của Swansea và đưa đội vào chung kết play-off Division Three mùa giải 1996-97, nơi họ để thua.[5][122] Năm 2011, Swansea giành quyền thăng hạng lên Premier League dưới thời Brendan Rodgers, trở thành đội bóng xứ Wales đầu tiên chơi ở giải đấu này kể từ khi nó được thành lập vào năm 1992.[123] Trong năm kỉ niệm 100 năm thành lập câu lạc bộ (2012-13), Swansea lần đầu tiên vô địch Cúp Liên đoàn dưới sự dẫn dắt của Michael Laudrup, danh hiệu lớn đầu tiên tại Anh trong lịch sử 100 năm của Swansea.[124]

Kỉ lục và thống kê

[sửa | sửa mã nguồn]
Gylfi Sigurðsson là thương vụ bán đắt giá nhất của Swansea; anh cũng là cầu thủ ghi nhiều bàn nhất cho câu lạc bộ tại Premier League với 34 bàn[36]

Wilfred Milne giữ kỉ lục số lần ra sân cho Swansea, với 586 trận trong giai đoạn 1920-1937, ngay sau đó là Roger Freestone với 563 trận từ năm 1991 đến năm 2004.[125] Cầu thủ giành nhiều lần khoác áo đội tuyển quốc gia nhất trong thời gian chơi cho câu lạc bộ là Ashley Williams với 50 lần ra sân cho đội tuyển xứ Wales.

Kỉ lục ghi bàn thuộc về Ivor Allchurch, với 166 bàn thắng được ghi trong hai giai đoạn từ năm 1947 đến năm 1958 và từ năm 1965 đến năm 1968.[126] Cyril Pearce giữ kỉ lục số bàn thắng nhiều nhất trong một mùa giải tại giải vô địch quốc gia, với 35 bàn ở mùa giải 1931-32 của Second Division.[127][128]

Chiến thắng với cách biệt lớn nhất của câu lạc bộ là 12-0, tỉ số mà Swansea đạt được một lần tại European Cup Winners' Cup, trước Sliema vào năm 1982.[128][129] Swansea từng thua với cách biệt tám bàn trong hai dịp, một lần ở Cúp FA khi thua 0-8 trước Liverpool vào năm 1990 và một lần ở European Cup Winners' Cup khi thua 0-8 trước AS Monaco vào năm 1991.[130] Chiến thắng 8-1 của Swansea trước Notts County ở Cúp FA năm 2018 là chiến thắng đậm nhất của đội tại giải đấu này, đồng thời là chiến thắng có cách biệt lớn nhất tại sân nhà Liberty Stadium.[131]

Kỉ lục khán giả sân nhà của Swansea được thiết lập ở trận vòng Bốn Cúp FA gặp Arsenal ngày 17 tháng 2 năm 1968, với 32.796 khán giả có mặt tại Vetch Field.[132] Câu lạc bộ phá kỉ lục chuyển nhượng của mình để đưa André Ayew trở lại từ West Ham United vào tháng 1 năm 2018 với mức phí 18 triệu bảng Anh.[133] Thương vụ bán đắt giá nhất là Gylfi Sigurðsson, người chuyển tới Everton vào tháng 8 năm 2017 với mức phí được cho là 45 triệu bảng Anh.[134][135]

Danh hiệu

[sửa | sửa mã nguồn]
Swansea vô địch Cúp Liên đoàn năm 2013, danh hiệu lớn đầu tiên của câu lạc bộ tại Anh

Danh hiệu đầu tiên của Swansea City là Cúp bóng đá Wales, giành được khi đội còn mang tên Swansea Town vào năm 1913. Danh hiệu đầu tiên tại giải vô địch quốc gia đến vào năm 1925, khi đội vô địch Football League Third Division South mùa giải 1924-25. Kể từ đó, Swansea đã vô địch Cúp Liên đoàn một lần, Football League Trophy hai lần và giành thêm chín chức vô địch Cúp bóng đá Wales. Đội cũng từng giành quyền tham dự Cúp UEFA Winners' Cup bảy lần và UEFA Europa League một lần.

Các danh hiệu của Swansea City gồm có như sau:[136]

Giải đấu

Cúp

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. "Yr un hen stori i'r Elyrch". BBC Cymru Fyw (bằng tiếng Wales). ngày 14 tháng 1 năm 2017.
  2. 1 2 "Our stadium". Swansea City Events. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  3. 1 2 3 4 "Ownership statement". Swansea City. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2024.
  4. "Ystafell arbennig yn rhoi cyfle i bobl ag anghenion ychwanegol wylio pêl-droed byw". newyddion.s4c.cymru (bằng tiếng Wales). ngày 22 tháng 1 năm 2025.
  5. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 27 28 29 30 31 32 33 34 35 36 37 38 39 40 41 42 43 44 "Our managers". Swansea City. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  6. "The Cymru connection – Swans on the biggest stage". FAW Cymru. ngày 21 tháng 8 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  7. "Swansea City fans a major influence as government encourages role of supporters' trusts". WalesOnline. ngày 19 tháng 2 năm 2012. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 7 năm 2012.
  8. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 20 21 22 23 24 25 26 "A history of the club". Swans100.com. ngày 27 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  9. 1 2 3 "On this day Swansea City is formed". Swansea City. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  10. Jenkins, John M.; và đồng nghiệp (1991). Who's Who of Welsh International Rugby Players. Wrexham: Bridge Books. tr. 20. ISBN 978-1-872424-10-1.
  11. "Nigel's WebSpace – English Football Cards, Player death notices".
  12. "On this day: Promotion at Preston". Swansea City. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
  13. 1 2 "Swansea City's 1981 promotion glory: Toshack, Shankly, Deepdale drama and a giant headline". BBC Sport. ngày 2 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
  14. "The wait ends for Lyon and Hull". fifa.com. Fédération Internationale de Football Association. ngày 28 tháng 5 năm 2008. Bản gốc lưu trữ ngày 12 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2012.
  15. Burgum, John (ngày 2 tháng 5 năm 1981). "Now to take Cup to Europe as well". South Wales Evening Post. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 1 năm 2015. Truy cập ngày 13 tháng 1 năm 2015.
  16. 1 2 3 4 5 "When Swansea City were relegated through all four divisions in four years". The Guardian. ngày 12 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
  17. "JD Welsh Cup – the Legends who Lifted the Trophy". FAW Cymru. ngày 1 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2025.
  18. Moseley, Roy (ngày 30 tháng 12 năm 1985). "More will follow Swansea down drain". Chicago Tribune.
  19. "Swansea City remember Terry Coles". Swansea City. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  20. 1 2 3 "History of the Swans Trust". Swansea City Supporters' Trust. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  21. 1 2 "Tony Petty era 'galvanised' Swansea's rise to Premier". BBC. ngày 15 tháng 8 năm 2011. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  22. 1 2 "Swansea chairman Huw Jenkins took job because he was 'dull'". BBC Sport. ngày 22 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  23. "CHRIS DAVIES". Coaches' Voice. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  24. "Ten years on...Swansea City pay tribute to Besian Idrizaj". Swansea City. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  25. McCarra, Kevin (ngày 30 tháng 5 năm 2011). "Swansea reach Premier League thanks to Scott Sinclair hat-trick". The Guardian. London. Truy cập ngày 31 tháng 5 năm 2011.
  26. "Swansea City rise from rags to Premier League riches". BBC Sport. ngày 31 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  27. "Swansea complete signing of Danny Graham". The Independent. ngày 7 tháng 6 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  28. "Swansea City Results 2011/12". Sky Sports. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  29. 1 2 "Michael Laudrup named new Swansea City manager". BBC Sport. ngày 15 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  30. "QPR 0-5 Swansea". BBC Sport. ngày 18 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  31. 1 2 "Swansea 3-0 West Ham". BBC Sport. ngày 25 tháng 8 năm 2012. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  32. "History Makers 2013 League Cup The Final". Swansea City. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  33. McNulty, Phil (ngày 25 tháng 2 năm 2013). "Bradford 0-5 Swansea". Wembley: BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  34. "Swansea City romp to record win". BBC News. ngày 25 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 2 năm 2013.
  35. "On this day: Laudrup becomes boss". Swansea City. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  36. 1 2 "Swansea City AFC statistics". Premier League. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2020.
  37. "Bony's the boy for Swans". Swansea City. ngày 11 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 7 năm 2013.
  38. "Swansea City humbled 10-man Valencia as the Welsh club began their Europa League group campaign in style". BBC Sport. ngày 19 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 16 tháng 5 năm 2017.
  39. "Cardiff City 1-0 Swansea City". BBC Sport. ngày 3 tháng 11 năm 2013.
  40. "Laudrup's agent 'profited from Swansea deals'". ngày 5 tháng 12 năm 2016.
  41. "Swansea sack Michael Laudrup and place Garry Monk in charge". BBC Sport. ngày 4 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 16 tháng 2 năm 2014.
  42. "Swansea City 3-0 Cardiff City". BBC Sport. ngày 8 tháng 2 năm 2014.
  43. "Napoli 3-1 Swansea". BBC Sport. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
  44. 1 2 3 "Wilfried Bony: Man City complete signing of Swansea striker". BBC Sport. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
  45. "Swansea's Wilfried Bony joins Al-Arabi on loan until end of the season". Sky Sports. ngày 31 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 24 tháng 8 năm 2020.
  46. "10 things we learned from Swansea City's brilliant record-breaking Premier League season". Wales Online. ngày 25 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 6 tháng 7 năm 2018.
  47. "Arsenal 0-1 Swansea". BBC Sport. ngày 11 tháng 5 năm 2015. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  48. "Swansea City part company with Garry Monk".
  49. 1 2 "Steve Kaplan and Jason Levien: Meet Swansea City's US Owners". BBC Sport. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2016.
  50. "Swansea sack Francesco Guidolin and appoint Bob Bradley manager". BBC Sport. ngày 3 tháng 10 năm 2016.
  51. "Swansea sack manager Bob Bradley after 11 games in charge". Sky Sports.
  52. "Paul Clement: Bayern Munich assistant agrees deal to be Swansea City boss". BBC News. ngày 2 tháng 1 năm 2017. Truy cập ngày 2 tháng 1 năm 2017.
  53. "Swansea City survive in Premier League after Hull lose at Crystal Palace". BBC News. ngày 14 tháng 5 năm 2017.
  54. "Carvalhal named Swans boss". Swansea City. ngày 28 tháng 12 năm 2017.
  55. "Paul Clement: Swansea sack manager after less than a year in charge". BBC Sport. ngày 20 tháng 12 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017.
  56. "Muddled moves and a woeful window – how Swansea landed back in trouble". The Guardian. ngày 3 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2017.
  57. "Swansea City 1-0 Liverpool". BBC Sport. ngày 22 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018.
  58. "Swansea City 3-1 Arsenal". BBC Sport. ngày 30 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2018.
  59. "Swansea City 1-0 Burnley". BBC Sport. ngày 10 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  60. "Swansea City 4-1 West Ham United". BBC Sport. ngày 3 tháng 3 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  61. 1 2 "Swansea City 1-2 Stoke City". BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2018.
  62. "Graham Potter named new Swansea City manager". BBC Sport. ngày 11 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2018.
  63. "Swansea City 2-3 Manchester City". BBC Sport. ngày 16 tháng 3 năm 2019. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2025.
  64. "Swansea City chairman Huw Jenkins resigns". BBC Sport. ngày 2 tháng 2 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 2 năm 2019.
  65. "Graham Potter appointed new Brighton manager after leaving Swansea". BBC Sport. ngày 20 tháng 5 năm 2019.
  66. "England under-17 coach Steve Cooper named Swansea City boss". BBC Sport. ngày 13 tháng 6 năm 2019. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  67. "Steve Cooper: That was our best performance yet". Swansea City. ngày 15 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2019.
  68. Pritchard, Dafydd (ngày 22 tháng 7 năm 2020). "Reading 1-4 Swansea". BBC Sport. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2020.
  69. Doyle, Paul (ngày 29 tháng 7 năm 2020). "Brentford v Swansea: Championship play-off semi-final, second leg – as it happened". The Guardian (bằng tiếng Anh). ISSN 0261-3077. Truy cập ngày 29 tháng 7 năm 2020.
  70. "Watford 2-0 Swansea". BBC Sport. ngày 8 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 8 tháng 5 năm 2021.
  71. "Brentford 2-0 Swansea City". BBC Sport. ngày 29 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 19 tháng 6 năm 2021.
  72. "Russell Martin: Southampton name Swansea City boss as new manager". BBC Sport. ngày 21 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  73. Vincent, Gareth (ngày 7 tháng 5 năm 2024). "Big summer after hard year - Swansea season review". BBC Sport. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  74. "Luke Williams: Head coach leaves Swansea City after slump in form". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 17 tháng 2 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 2 năm 2025.
  75. "Sheehan sacked as Swansea City head coach". BBC Sport. ngày 11 tháng 11 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 11 năm 2025.
  76. "Swansea chairman hails 'new era' as takeover completed". BBC Sport. ngày 23 tháng 11 năm 2024. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  77. "Snoop Dogg becomes Swansea co-owner and investor". BBC Sport. ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2025.
  78. 1 2 3 "On this day: The Liberty era begins". swanseacity.com. Swansea City. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  79. "Swansea has previous for hosting Wales internationals". Belfast Telegraph. ngày 27 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  80. "Ospreys choose St Helen's as new stadium home". BBC Sport. ngày 8 tháng 7 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  81. "SWANSEA.COM BECOME STADIUM NAMING RIGHTS PARTNER". Swansea City. ngày 9 tháng 8 năm 2021. Truy cập ngày 9 tháng 8 năm 2021.
  82. "Welsh rivals are upwardly mobile". BBC Sport. ngày 2 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009.
  83. HanesCymru (ngày 26 tháng 7 năm 2017). "A Supporters' History of the South Wales Derby". 100 Years of Swansea City FC. Truy cập ngày 21 tháng 8 năm 2017.
  84. "Cardiff 2-2 Swansea". BBC Sport. ngày 5 tháng 4 năm 2009. Truy cập ngày 19 tháng 5 năm 2009.
  85. "Cardiff v Swansea: Mike Dean to referee derby game". BBC Sport. ngày 28 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  86. "Swansea City 3-0 Cardiff City". BBC Sport. ngày 17 tháng 10 năm 2021. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2022.
  87. "Cardiff City 0-4 Swansea City". BBC Sport. ngày 2 tháng 4 năm 2022. Truy cập ngày 2 tháng 4 năm 2022.
  88. "Cardiff City 2-3 Swansea City: Ben Cabango's late goal seals Swans' fourth-straight derby win". BBC Sport (bằng tiếng Anh). ngày 1 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  89. "Bristol City predicted team vs Swansea City: Manning to face selection headache over decisions". ngày 29 tháng 9 năm 2024. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  90. "How Ryan Reynolds and Wrexham could make Welsh 'rivalry' with Swansea City stronger than ever". ngày 12 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  91. Bannon, Christie (ngày 24 tháng 12 năm 2018). "The real meanings behind the Welsh nicknames we all use". Wales Online. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  92. "Swansea City FC: What do you know about the club?". BBC News. ngày 23 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  93. Rogers, Gareth (ngày 20 tháng 6 năm 2014). "Swansea City's kit through the years". Wales Online. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  94. "Swansea City channel Real Madrid with centenary home shirt". Wales Online. ngày 11 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  95. Williams, Nino (ngày 20 tháng 9 năm 2018). "The story of how Swansea City got their club logo and the man who designed it". Wales Online. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  96. "Swansea City unveil new crest celebrating top-flight anniversary". BBC Sport. ngày 30 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  97. James, Ben (ngày 16 tháng 6 năm 2023). "New Swansea City kits and badge unveiled for 2023/24 season". Wales Online. Truy cập ngày 17 tháng 5 năm 2024.
  98. "YOBET debuts as Swansea City's new front of shirt sponsor". swanseacity.com. ngày 2 tháng 7 năm 2019. Truy cập ngày 2 tháng 7 năm 2019.
  99. "Cúp UEFA 1961-62 Winners' Cup Preliminary Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  100. "Cúp UEFA 1966-67 Winners' Cup First Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 6 năm 2010. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  101. "Cúp UEFA 1981-82 Winners' Cup First Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  102. "Cúp UEFA 1982-83 Winners' Cup Preliminary Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  103. "Cúp UEFA 1982-83 Winners' Cup First Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  104. "Cúp UEFA 1982-83 Winners' Cup Second Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  105. "Cúp UEFA 1983-84 Winners' Cup Preliminary Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 7 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  106. "Cúp UEFA 1989-90 Winners' Cup First Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  107. "Cúp UEFA 1991-92 Winners' Cup First Round Results". UEFA. UEFA. ngày 16 tháng 1 năm 2009. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 1 năm 2013. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  108. "UEFA Europa League 2013-14 third qualifying round results". UEFA. UEFA. ngày 8 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2013.
  109. "UEFA Europa League 2013-14 play-off results". UEFA. UEFA. ngày 22 tháng 8 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 22 tháng 8 năm 2013.
  110. 1 2 3 "UEFA Europa League 2013-14 group stage results". UEFA. UEFA. ngày 7 tháng 9 năm 2013. Bản gốc lưu trữ ngày 29 tháng 6 năm 2013. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2013.
  111. "UEFA Europa League 2013-14 Round of 32". UEFA. UEFA. ngày 20 tháng 2 năm 2014. Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 2 năm 2014. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2014.
  112. "First team". Swansea City A.F.C. Truy cập ngày 23 tháng 9 năm 2019.
  113. "Swansea City retire number 40 shirt". Swansea City A.F.C. ngày 17 tháng 5 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 10 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2012.
  114. 1 2 "Swansea City Contact List". Swansea City. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  115. "Real Madrid's Luka Modric becomes part-owner at 'incredible' Swansea". The Guardian. ngày 14 tháng 4 năm 2025.
  116. "Snoop Dogg becomes Swansea co-owner and investor". BBC Sport. ngày 17 tháng 7 năm 2025. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2025.
  117. "Swansea City: First Team Staff". Swansea City. ngày 20 tháng 7 năm 2019.
  118. 1 2 "Academy Staff". Swansea City. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2023.
  119. Jones, Colin (2012). Swansea Town & City Football Club: The Complete Record, 1912-2012. From Southern League to Premier League (ấn bản thứ 1). Dinefwr Press Ltd. tr. 1–8. ISBN 978-1904323-26-6.
  120. Jones, Colin (2012). Swansea Town & City Football Club: The Complete Record, 1912-2012. From Southern League to Premier League (ấn bản thứ 1). Dinefwr Press Ltd. tr. 109–137. ISBN 978-1904323-26-6.
  121. "Trevor Morris". soccerbase.com. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2013.
  122. "Jan Molby". soccerbase.com. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2013.
  123. "Reading 2-4 Swansea". BBC Sport. ngày 30 tháng 5 năm 2011. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013.
  124. James, Stuart (ngày 24 tháng 2 năm 2013). "Michael Laudrup acclaims Swansea League Cup win as a career pinnacle". The Guardian. London. Truy cập ngày 14 tháng 7 năm 2013.
  125. Jones, Colin (2005). Swansea Town/City FC: The First Comprehensive Player A-Y. Parthian Books. ISBN 978-1902638751.
  126. Rollin, Glenda; Rollin, Jack (1999). Rothmans Football Yearbook 1999-2000. Headline Book Publishing. tr. 354–355. ISBN 0-7472-7627-7.
  127. "Centenary feature: 1931-1939". Swansea City. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  128. 1 2 "Facts and figures". Swansea City. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2025.
  129. "Swansea City AFC Club Record in UEFA Competitions". UEFA. UEFA. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2013.
  130. "Swansea Statto.com Records Competitions". statto.com. ngày 28 tháng 5 năm 2013.
  131. "Swansea City 8-1 Notts County". BBC Sport. ngày 6 tháng 2 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018.
  132. Jones, Colin (2012). Swansea Town & City Football Club: The Complete Record, 1912-2012. From Southern League to Premier League (ấn bản thứ 1). Dinefwr Press Ltd. tr. 245. ISBN 978-1904323-26-6.
  133. "Andre Ayew: Swansea City re-sign Ghana forward from West Ham". BBC Sport. ngày 31 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 7 tháng 2 năm 2018.
  134. "Swansea City midfielder Gylfi Sigurdsson has completed a club-record transfer to Everton". Swansea City. ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 16 tháng 8 năm 2017.
  135. "Gylfi Sigurdsson: Everton sign Swansea midfielder for £45m". BBC Sport. ngày 16 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2017.
  136. "Honours". swanseacity.com. Swansea City A.F.C. Truy cập ngày 9 tháng 9 năm 2025.

Liên kết ngoài

[sửa | sửa mã nguồn]

Các trang độc lập

[sửa | sửa mã nguồn]

Bản mẫu:Swansea City A.F.C.