Huddersfield Town A.F.C.
| Tên đầy đủ | Câu lạc bộ bóng đá Huddersfield Town | |||
|---|---|---|---|---|
| Biệt danh | The Terriers | |||
| Thành lập | 15 tháng 8 năm 1908 | |||
| Sân | Sân vận động Accu | |||
| Sức chứa | 24.121[1] | |||
| Chủ sở hữu | Kevin M. Nagle | |||
| Chủ tịch điều hành | Kevin M. Nagle | |||
| Người quản lý | Liam Manning | |||
| Giải đấu | League One | |||
| 2024-25 | League One, thứ 10 trên 24 | |||
| Website | htafc | |||
|
| ||||
Câu lạc bộ bóng đá Huddersfield Town (tiếng Anh: Huddersfield Town Association Football Club) là một câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp có trụ sở tại Huddersfield, Tây Yorkshire, Anh. Đội hiện thi đấu tại League One, hạng đấu cao thứ ba của bóng đá Anh.
Huddersfield Town được thành lập ngày 15 tháng 8 năm 1908. Đội từng thi đấu tại North Eastern League và Midland League trước khi được chấp nhận vào Football League năm 1910. Họ giành quyền thăng hạng từ Second Division ở mùa giải 1919-20, sau đó vô địch Cúp FA năm 1922, sau khi từng là đội thua trong trận chung kết năm 1920. Huddersfield trở thành nhà vô địch quốc gia trong ba mùa giải liên tiếp: 1923-24, 1924-25 và 1925-26, trong đó hai mùa đầu dưới sự dẫn dắt của Herbert Chapman, còn mùa thứ ba hoàn tất dưới thời Cecil Potter. Họ cũng giành vị trí á quân trong hai mùa giải tiếp theo. Câu lạc bộ còn thua ở ba trận chung kết Cúp FA khác: 1928, 1930 và 1938. Đội bị rớt khỏi First Division sau 32 năm hiện diện vào năm 1952, nhưng lập tức thăng hạng trở lại ở mùa giải kế tiếp. Sau lần xuống hạng nữa vào năm 1956, họ vô địch Second Division vào cuối mùa giải 1969-70, dù rồi phải chịu ba lần xuống hạng trong vòng bốn năm tính đến năm 1975.
Huddersfield vô địch Fourth Division ở mùa giải 1979-80 và thăng hạng từ Third Division ở mùa giải 1982-83. Sau khi xuống hạng năm 1988, họ thua trong trận chung kết năm 1994 của Football League Trophy, nhưng trở lại Wembley ngay mùa giải sau để thắng trận chung kết play-off của hạng ba. Họ trở lại hạng tư năm 2003 sau lần rớt hạng thứ hai trong ba năm. Huddersfield lên tới Premier League sau ba chiến dịch play-off thành công: từ Division Three năm 2004, từ League One năm 2012, và từ Championship năm 2017. Họ trải qua hai mùa giải ở Premier League trước khi xuống hạng năm 2019. Đội rớt khỏi Championship vào năm 2024.
Đội thi đấu các trận sân nhà tại Sân vận động Kirklees (hiện được gọi là Sân vận động Accu vì lí do tài trợ) kể từ khi chuyển khỏi Leeds Road vào năm 1994. Màu áo xanh và trắng sọc được áp dụng từ năm 1913. Biệt danh của câu lạc bộ, "The Terriers", được sử dụng từ năm 1969. Biểu trưng hiện tại của Huddersfield dựa trên huy hiệu của thị trấn. Đội có các mối kình địch lâu năm ở derby Tây Yorkshire với Bradford City và Leeds United.
Lịch sử
[sửa | sửa mã nguồn]
Những năm đầu và thời kì hoàng kim (1908-1945)
[sửa | sửa mã nguồn]Câu lạc bộ được thành lập vào năm 1908.[2] Những người sáng lập đã mua một khu đất trên Leeds Road với giá 500 bảng, rồi gia nhập North Eastern League. Ở mùa giải tiếp theo, đội chuyển sang Midland Football League để giảm chi phí đi lại.[3] Trong nỗ lực giành quyền vào Football League, câu lạc bộ đã mời kiến trúc sư người Scotland Archibald Leitch tái thiết Leeds Road. Một khán đài có sức chứa 4.000 ghế được dự kiến xây dựng, đồng thời các bậc khán đài đứng cũng được lên kế hoạch, nâng tổng sức chứa lên 34.000. Sau khi các kế hoạch được thông qua, ban lãnh đạo Huddersfield nộp đơn thành công để trở thành thành viên của Football League vào năm 1910, và việc phát triển Leeds Road bắt đầu ngay lập tức.[4] Tuy nhiên, chi phí xây dựng quá cao, còn lượng khán giả giảm xuống dưới 7.000 người. Huddersfield phải thanh lí vào năm 1912, sau đó một công ty trách nhiệm hữu hạn mới được thành lập để tiếp quản tài sản của câu lạc bộ.[3]
Được cho là Huddersfield Town đã nợ 25.000 bảng vào năm 1919, còn lượng khán giả giảm xuống quanh mức 3.000 người. Chủ tịch John Hilton Crowther dự định sáp nhập Town với Leeds United mới thành lập và chuyển đội bóng tới Leeds.[3] Những thông tin này đã thúc đẩy người hâm mộ phát động gây quĩ để ngăn chặn việc chuyển đi. Các cổ phần mệnh giá 1 bảng được phát hành, đưa câu lạc bộ trở thành tài sản công cộng. Sau một tháng huy động tài chính và đàm phán, câu lạc bộ tiếp tục ở lại Huddersfield.[5] Sau đó, đội vào tới Chung kết Cúp FA 1920 và giành quyền thăng hạng lên First Division lần đầu tiên.[6]
Trong mùa giải đầu tiên ở hạng đấu cao nhất, cựu huấn luyện viên Leeds City là Herbert Chapman được đưa về, sau khi Huddersfield giúp ông hủy lệnh cấm, để làm trợ lí mới cho Ambrose Langley.[7] Chapman thay Langley vào tháng 3 năm 1921,[8] và giúp đội kết thúc ở vị trí thứ 17.[9] Trong giai đoạn nghỉ giữa hai mùa giải năm 1921, tiền vệ kiến thiết Clem Stephenson và George Brown được chiêu mộ; về sau Brown trở thành cầu thủ ghi nhiều bàn nhất lịch sử Huddersfield.[5] Chiến thuật của Chapman dựa trên các nguyên tắc phòng ngự vững chắc và phản công nhanh, với trọng tâm là các đường chuyền ngắn, nhanh và những pha đi bóng lắt léo từ các cầu thủ chạy cánh.[10] Ông được xem là huấn luyện viên đầu tiên sử dụng phản công một cách thành công.[11] Những ý tưởng tiến bộ khác của ông bao gồm chế độ thể lực kỉ luật cho cầu thủ, và việc các đội dự bị cùng các đội trẻ thi đấu theo cùng một phong cách với đội một.[5] Ông vận hành một mạng lưới tuyển trạch rộng khắp để tìm những cầu thủ phù hợp với hệ thống chiến thuật của mình.[12]

Đội bóng giành danh hiệu lớn đầu tiên là Cúp FA, sau khi đánh bại Preston North End 1-0 trong trận chung kết năm 1922.[6] Huddersfield cũng giành Charity Shield 1922 sau khi thắng Liverpool 1-0.[13] Town đứng thứ ba ở mùa giải 1922-23, trước khi giành chức vô địch First Division đầu tiên trong lịch sử ở mùa giải 1923-24.[6] Đội đã vượt qua Cardiff City, dù chỉ với cách biệt mong manh nhất. Hai đội cùng có 57 điểm,[14] nhưng Huddersfield thắng với chênh lệch 0,024 về goal average. Huddersfield đánh bại Nottingham Forest 3-0 ở trận cuối cùng, còn Cardiff chỉ hòa tại sân của Birmingham City, đồng thời còn đá hỏng một quả phạt đền.[15]
Đội bảo vệ thành công chức vô địch First Division ở mùa giải 1924-25 sau khi chỉ thua một lần trong 27 trận cuối cùng tại giải.[16][17] Huddersfield chỉ thủng lưới 28 bàn và chưa từng để lọt quá hai bàn trong một trận; đây là lần đầu tiên một đội làm được điều đó.[16][18] Một cột mốc đáng chú ý khác được lập vào tháng 10 năm 1924, khi Billy Smith trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử bóng đá Anh ghi bàn trực tiếp từ một quả phạt góc.[19] Sau khi giành hai chức vô địch liên tiếp, Chapman chuyển sang Arsenal, nơi trả cho ông mức lương gấp đôi.[20] Cecil Potter được đưa về thay thế. Dưới thời Potter, Town trở thành câu lạc bộ đầu tiên vô địch giải vô địch Anh ba mùa liên tiếp, ở mùa giải 1925-26.[21] Đội suýt vô địch lần thứ tư liên tiếp ở mùa giải kế tiếp, nhưng chỉ thắng một trong bảy trận cuối và vì thế để mất danh hiệu vào tay Newcastle United.[22][23] Town giành "cú đúp sai nghĩa" ở mùa giải 1927-28 khi đều về nhì ở cả giải vô địch lẫn Cúp FA.[6]
Vào tháng 3 năm 1928, một trận đấu quốc tế giữa Anh và Scotland có sự góp mặt của năm cầu thủ Town. Tom Wilson, Bob Kelly, Billy Smith và Roy Goodall đá chính cho Anh, còn Alex Jackson chơi cho Scotland. Jackson lập một cú hat-trick khi Scotland, về sau được gọi là "The Wembley Wizards", đánh bại Anh 5-1.[24]
Đội hình đã già của Huddersfield không được thay thế tương xứng.[5] Vị trí của họ tại giải bắt đầu suy giảm, dù đội vẫn về nhì ở mùa giải 1933-34 và vào thêm hai trận chung kết Cúp FA nữa dưới thời huấn luyện viên Clem Stephenson.[8][6] Town thua trong Chung kết Cúp FA 1930 trước Arsenal của Chapman,[25] và thua năm 1938 trước Preston North End sau hiệp phụ, trong trận chung kết Cúp FA đầu tiên được truyền hình trực tiếp toàn bộ.[26] Kỉ lục khán giả sân nhà của câu lạc bộ là 67.037 người được thiết lập vào năm 1932, trong trận vòng Sáu Cúp FA gặp Arsenal.[27]
Sa sút và phục hồi (1945-1992)
[sửa | sửa mã nguồn]
Town rớt hạng lần đầu tiên ở mùa giải 1951-52.[6] Huấn luyện viên Stockport County là Andy Beattie được bổ nhiệm vào tháng 4 năm 1952, và đã dẫn dắt Stockport lẫn Huddersfield ở ba hạng đấu khác nhau chỉ trong cùng một tháng. Ông cũng đóng hai móng ngựa lên tường văn phòng để lấy may.[28] Đội kết thúc ở vị trí thứ hai tại Second Division trong mùa giải 1952-53 và lập tức thăng hạng trở lại.[29] Họ kết thúc ở vị trí thứ ba trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng cao nhất.[30] Sau khi Town rớt hạng ở mùa giải 1955-56, Beattie từ chức vào tháng 11 năm 1956, và Bill Shankly lên thay.[28] Vào tháng 12 năm 1957, đội từng dẫn Charlton Athletic 5-1 khi trận đấu còn 30 phút, nhưng cuối cùng lại thua 6-7.[31] Shankly rời đi vào tháng 12 năm 1959 để dẫn dắt Liverpool.[32]
Dàn đèn chiếu sáng được lắp đặt tại Leeds Road vào năm 1961, được tài trợ bằng khoản phí chuyển nhượng kỉ lục của Anh lúc bấy giờ là 55.000 bảng từ thương vụ Denis Law sang Manchester City, và được gọi là "Denis Law Lights".[33]
Huddersfield tiếp tục chơi ở hạng hai trong suốt thập niên 1960.[6] Họ vào tới bán kết League Cup ở mùa giải 1967-68, nhưng thua Arsenal sau hai lượt trận.[34] Năm 1969, câu lạc bộ lấy biệt danh "The Terriers".[3] Town vô địch Second Division ở mùa giải 1969-70 dưới sự dẫn dắt của Ian Greaves.[35] Đội trụ hạng thành công trong mùa giải đầu tiên trở lại hạng cao nhất, nhưng rớt hạng ở mùa giải 1971-72, và ngay mùa sau đó lại xuống tiếp Third Division lần đầu tiên. Huddersfield rơi xuống Fourth Division lần đầu tiên ở mùa giải 1974-75.[6] Mùa giải 1974-75 cũng đánh dấu lần đầu Huddersfield Town sử dụng một cầu thủ da màu, khi Lloyd Maitland ra mắt đội một ngày 8 tháng 2 năm 1974 trong trận gặp Hereford United.[36] Cựu huấn luyện viên Town Tom Johnston trở lại câu lạc bộ trên cương vị tổng quản lí vào năm 1975. Sau đó câu lạc bộ cũng quay lại với áo xanh trơn mà ông đã giới thiệu từ giữa thập niên 1960. Johnston thay Bobby Collins làm huấn luyện viên vào tháng 12 năm 1975. Trong mùa giải 1976-77, John Haselden trở thành huấn luyện viên còn Johnston quay lại vai trò cũ. Tuy nhiên, điều này không kéo dài, khi Johnston giáng chức Haselden vào tháng 9 năm 1977 và tự trao lại công việc cho chính mình. Ông dẫn dắt Town tới vị trí thấp nhất lịch sử câu lạc bộ trong hệ thống giải đấu, là hạng 11 vào cuối mùa giải 1977-78.[6][37]
Sự phục hồi bắt đầu dưới thời huấn luyện viên Mick Buxton, người được bổ nhiệm vào năm 1978.[38] Huddersfield vô địch Fourth Division ở mùa giải 1979-80, đồng thời ghi được 101 bàn thắng.[39] Town kết thúc mùa giải kế tiếp ngay ngoài nhóm thăng hạng.[40] Đội giành quyền lên Second Division ở mùa giải 1982-83 với vị trí thứ ba.[41] Do Huddersfield sa lầy ở cuối bảng xếp hạng, lượng khán giả sân nhà sụt giảm và áp lực tài chính kéo theo, Buxton bị sa thải vào tháng 12 năm 1986.[42] Steve Smith kế nhiệm ông và trở thành huấn luyện viên chính thức duy nhất trong lịch sử câu lạc bộ xuất thân từ chính Huddersfield.[43] Đội trụ hạng với cách biệt ba điểm ở mùa giải đó,[44] nhưng rớt trở lại hạng ba ở mùa giải 1987-88. Town chỉ thắng sáu trận, thủng lưới 100 bàn và thua Manchester City 1-10.[45][46] Huddersfield vào tới play-off Third Division mùa giải 1991-92, nhưng thua Peterborough United ở bán kết với tổng tỉ số 3-4.[47]
Sân vận động mới, bên bờ tuyệt diệt và trở lại hạng đấu cao nhất (1992-2019)
[sửa | sửa mã nguồn]Đội bóng tránh được việc xuống hạng xuống Third Division (tên mới của Fourth Division sau khi Premier League ra đời) ở mùa giải 1992-93, sau chuỗi chỉ thua ba trận trong 17 trận cuối cùng tại giải,[48] qua đó kết thúc ở vị trí thứ 15.[49] Huấn luyện viên Neil Warnock tiếp quản từ Ian Ross cho mùa giải 1993-94.[50] Town vào tới Chung kết Football League Trophy 1994, nhưng thua Swansea City ở loạt sút luân lưu.[51]
Huddersfield Town chơi trận đấu cuối cùng tại Leeds Road vào ngày 30 tháng 4 năm 1994, đánh bại Blackpool 2-1 trước gần kín sân với 16.195 khán giả.[52] Đội chuyển sang sân mới Sân vận động Kirklees (khi đó mang tên Alfred McAlpine Stadium) cho mùa giải 1994-95.[53] Ngay trong mùa giải đầu tiên tại sân mới, Huddersfield giành quyền lên hạng hai thông qua play-off sau chiến thắng 2-1 trước Bristol Rovers tại Wembley.[54] Warnock rời câu lạc bộ vào mùa hè năm đó và được thay thế bởi Brian Horton, người đưa Town tới vị trí thứ tám ở mùa giải tiếp theo.[55]
Horton bị sa thải vào tháng 10 năm 1997 khi Huddersfield không thắng trong chín trận đầu tiên. Cựu cầu thủ Huddersfield là Peter Jackson được trao công việc này.[56] Đội chỉ giành được một điểm trong năm trận đầu tiên dưới thời Jackson, nhưng cuối cùng Huddersfield đã thắng ở trận thứ 15, khi đánh bại Stoke City 3-1. Sau đó là những chuỗi bất bại xen lẫn những chuỗi không thắng, và Town trụ hạng thành công với vị trí thứ 16.[57]
Vào tháng 1 năm 1999, câu lạc bộ được doanh nhân địa phương Barry Rubery mua lại,[58] với mục tiêu đưa đội lên Premier League.[59] Steve Bruce thay Jackson vào tháng 5 năm 1999.[60] Huddersfield đứng đầu bảng vào tháng 12, nhưng phong độ sa sút mạnh sau khi tiền đạo Marcus Stewart bị bán cho đối thủ cùng hạng Ipswich Town trong kì chuyển nhượng tháng 1. Đội kết thúc mùa giải ở vị trí thứ tám, ngay ngoài nhóm play-off.[61] Bruce bị sa thải vào tháng 10 năm 2000. Rubery cáo buộc Bruce đã "phung phí 3 triệu bảng", cho rằng khoản tiền đó "sẽ được một huấn luyện viên giàu kinh nghiệm hơn và không có cái tôi cần nuôi dưỡng sử dụng khôn ngoan hơn".[62] Ông được thay bằng Lou Macari, nhưng Macari không thể ngăn đà sa sút khi đội rớt xuống hạng ba vào cuối mùa giải.[63] Huddersfield vào tới play-off ở mùa giải 2001-02, nhưng thua Brentford 1-2 ở bán kết.[64]
Vào khoảng thời gian này, câu lạc bộ mang khoản nợ 20 triệu bảng sau khi xuống hạng và sự sụp đổ của ITV Digital. Các cầu thủ đã có lúc nhiều tháng không được trả lương, còn huấn luyện viên Mick Wadsworth bị sa thải vào tháng 1 năm 2003, nhưng rồi lại được phục chức vì câu lạc bộ không có tiền chi trả khoản bồi thường cho ông.[65] Cuối cùng Wadsworth vẫn bị sa thải vào tháng 3 và được thay thế bởi Mel Machin,[66] người chứng kiến đội xuống hạng tư.[67] Câu lạc bộ bị đặt vào diện quản trị đặc biệt, nhưng Ken Davy đã mua lại câu lạc bộ vào mùa hè năm 2003 và cứu Town khỏi việc bị thanh lí. Huấn luyện viên Peter Jackson chỉ có bốn cầu thủ đội một trong biên chế trước khi mùa giải 2003-04 bắt đầu,[65] sau đó nhiều cầu thủ trẻ từ hệ thống học viện được đôn lên.[68] Huddersfield kết thúc ở vị trí thứ tư đầy bất ngờ,[69] rồi đánh bại Mansfield Town trong trận chung kết play-off để trở lại hạng ba.[70]

Đội vào play-off ở mùa giải 2005-06, nhưng bị Barnsley loại ở bán kết; sau đó Town trải qua thêm nhiều mùa giải tại League One.[70] Dean Hoyle tiếp quản cương vị chủ tịch và cổ đông lớn nhất của câu lạc bộ vào tháng 6 năm 2009.[71] Town vào play-off ở mùa giải 2009-10 dưới thời huấn luyện viên Lee Clark, nhưng thua Millwall ở bán kết. Đội một lần nữa giành quyền vào play-off ở mùa giải tiếp theo, tuy nhiên Peterborough United là đội chiến thắng trong trận chung kết.[70] Huddersfield lập kỉ lục Football League với 43 trận bất bại liên tiếp, không tính các trận play-off, vào tháng 11 năm 2011; kỉ lục trước đó do Nottingham Forest nắm giữ.[72] Clark bị sa thải vào tháng 2 năm 2012 sau thất bại 0-1 trên sân nhà trước Sheffield United,[73] và được thay bằng cựu huấn luyện viên Leeds United là Simon Grayson. Ông đưa Town tới trận chung kết play-off gặp Sheffield United. Trận đấu kết thúc 0-0 sau hiệp phụ, trước khi Huddersfield giành chiến thắng sau 22 quả phạt đền (8-7).[74]
Bất chấp thành công này, Grayson vẫn bị sa thải vào tháng 1 năm 2013 và được kế nhiệm bởi Mark Robins.[75] Huddersfield tránh xuống hạng ở vòng cuối cùng sau trận hòa với Barnsley.[76] Huấn luyện viên người Đức của Borussia Dortmund II, David Wagner, trở thành người đầu tiên sinh ra ngoài British Isles dẫn dắt câu lạc bộ vào tháng 11 năm 2015.[77] Ông áp dụng lối chơi Gegenpressing.[78] Ở mùa giải 2016-17, Town kết thúc ở vị trí thứ năm với hiệu số bàn thắng bại âm, nhưng vẫn giành quyền dự play-off.[79] Sau khi đánh bại Sheffield Wednesday trên chấm luân lưu ở bán kết, đội gặp Reading trong trận chung kết.[80] Một loạt sút luân lưu nữa lại diễn ra, và Huddersfield một lần nữa chiến thắng. Việc thăng hạng lên Premier League đồng nghĩa với sự trở lại hạng đấu cao nhất lần đầu tiên kể từ năm 1972.[81] Huddersfield cũng trở thành câu lạc bộ thứ hai, sau Blackpool, từng thắng cả ba trận play-off thăng hạng ở các cấp độ khác nhau.[82]
Đội kết thúc ở vị trí thứ 16 tại Premier League trong mùa giải 2017-18 và trụ hạng thành công,[83] nhưng bị xuống hạng sau khi đứng thứ 20 ở mùa giải 2018-19.[84] Wagner rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung vào tháng 1 năm 2019 và được thay bằng huấn luyện viên của Borussia Dortmund II là Jan Siewert,[85] nhưng Town đã chính thức xuống hạng từ tháng 3 khi mùa giải còn sáu trận.[86] Đội chỉ giành được ba chiến thắng và 16 điểm khi mùa giải khép lại.[84]
Những năm ở Championship và hai đời chủ mới (2019-nay)
[sửa | sửa mã nguồn]Chủ tịch Hoyle thông báo rời đi vào tháng 5 năm 2019, bán câu lạc bộ cho doanh nhân Phil Hodgkinson và rời chức vì lí do sức khỏe không tốt.[87] Siewert được thay bằng huấn luyện viên Lincoln City là Danny Cowley vào tháng 9 năm đó,[88] và Cowley đã giúp câu lạc bộ trụ lại Championship trước khi bị sa thải.[89] Trợ lí huấn luyện viên của Leeds United là Carlos Corberán được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới của câu lạc bộ vào tháng 7 năm 2020.[90]
Huddersfield kết thúc ở vị trí thứ ba tại EFL Championship và gặp Nottingham Forest, đội đứng thứ tư, trong Chung kết play-off EFL Championship 2022 tại Wembley, nhưng thua 0-1; Town bị trọng tài Jonathan Moss từ chối hai tình huống phạt đền trong trận đấu cuối cùng của ông trước khi giải nghệ. Ở tình huống đầu tiên, video assistant referee đã không đảo ngược quyết định của Moss dù có vẻ đã có va chạm giữa Jack Colback của Forest và Harry Toffolo của Huddersfield.[91]
Corberán rời đi vào tháng 7 năm 2022, ngay trước khi mùa giải Championship 2022-23 bắt đầu, để gia nhập Olympiacos tại Hy Lạp. Cựu cầu thủ Town là Danny Schofield được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng mới, nhưng bị miễn nhiệm chỉ 10 tuần sau đó vì khởi đầu tệ hại ở mùa giải mới, và được thay bởi trợ lí huấn luyện viên của Hertha BSC là Mark Fotheringham.[92] Ông chỉ trụ lại bốn tháng và bị sa thải vào ngày 8 tháng 2 năm 2023,[93] rồi được thay thế bởi Neil Warnock sau đó năm ngày.[94] Sự trở lại của ông tại John Smiths Stadium được đánh dấu bằng chiến thắng 2-1 trước Birmingham vào ngày 18 tháng 2 năm 2023, và ông được dẫn lời nói rằng mình đã "rơi nước mắt" vì sự chào đón từ cổ động viên.[95]
Ngày 23 tháng 3 năm 2023, Huddersfield thông báo câu lạc bộ được tiếp quản bởi một nhóm Bắc Mỹ không nêu tên sau khi Dean Hoyle, người đã trở lại câu lạc bộ vào năm 2020, mua 100% cổ phần rồi bán lại. Thỏa thuận này còn phải tuân theo "các thủ tục pháp lí và quản trị", đồng thời bao gồm việc Hoyle xóa khoản nợ 40 triệu bảng để giữ cho câu lạc bộ, khi đó đang đứng thứ 22 tại Championship, tránh khỏi diện quản trị đặc biệt.[96] Ngày 28 tháng 3 năm 2023, câu lạc bộ tiết lộ bên mua là nhà đầu tư El Dorado Hills, California (Hoa Kỳ) và chủ sở hữu câu lạc bộ USL Championship là Sacramento Republic, Kevin M. Nagle;[97] thương vụ được hoàn tất vào tháng 6 năm 2023.[98]
Chiến thắng 1-0 trên sân nhà trước Sheffield United, đội đã chắc suất thăng hạng, vào ngày 4 tháng 5 năm 2023 xác nhận Huddersfield trụ hạng thành công.[99] Tuy nhiên, Huddersfield tiếp tục gặp khó khăn ở mùa giải 2023-24, chia tay Warnock vào tháng 9 năm 2023, sau đó bổ nhiệm Darren Moore làm huấn luyện viên, nhưng sa thải ông vào tháng 1 năm 2024 sau chỉ ba chiến thắng trong 23 trận, khi câu lạc bộ đứng thứ 21 ở hạng hai và chỉ hơn nhóm xuống hạng ba điểm.[100] Moore được thay bằng Andre Breitenreiter vào ngày 15 tháng 2 năm 2024.[101] Câu lạc bộ kết thúc mùa giải ở vị trí thứ 23, qua đó xuống hạng League One.[102] Breitenreiter rời câu lạc bộ theo thỏa thuận chung và được thay bởi Michael Duff.[103] Sau Duff, Lee Grant trở thành huấn luyện viên của đội vào tháng 5 năm 2025 và rời đội vào tháng 1 năm 2026.[104]
Biểu trưng và màu sắc
[sửa | sửa mã nguồn]Trong nhiều năm, câu lạc bộ từng tranh luận về việc màu sắc trang phục nên là gì, với các đề xuất trải từ hồng cá hồi đến trắng trơn, xanh trơn, hoặc trắng với phần vai áo màu xanh.[3][105] Cuối cùng, vào năm 1913, câu lạc bộ đã chọn áo sọc xanh và trắng, kiểu áo vẫn được duy trì cho tới ngày nay.[3]
Biểu trưng của câu lạc bộ dựa trên huy hiệu của Huddersfield.[106] Town lần đầu sử dụng biểu trưng trên áo trong Chung kết Cúp FA 1920, với thiết kế dựa trên huy hiệu của Huddersfield.[3] Biểu trưng này xuất hiện trở lại cùng một hoa hồng Yorkshire trong Chung kết Cúp FA 1922, và tiếp tục được dùng ở các trận chung kết các năm 1928, 1930 và 1938.[107][108] Hai màu chính của câu lạc bộ là xanh và trắng hiện diện xuyên suốt biểu trưng, cả ở phần mantling lẫn ở tấm khiên dưới dạng các sọc. Hai bông hoa hồng Yorkshire và Castle Hill cũng là những yếu tố gắn với lịch sử của câu lạc bộ và khu vực.[106]
Town giữ nguyên thiết kế chủ đạo này, tức sọc xanh và trắng, cho đến năm 1966, khi huấn luyện viên người Scotland Tom Johnston giới thiệu áo xanh trơn. Một biểu trưng mới cũng được sử dụng trong năm đó, khi chữ lồng dọc "HTFC" xuất hiện trên áo xanh trơn. Khi câu lạc bộ lấy biệt danh "The Terriers" cho mùa giải 1969-70, các sọc xanh trắng quay trở lại, cùng với hình một chú chó sục màu đỏ và dòng chữ "The Terriers".[3]
Sau khi rớt xuống Fourth Division, Huddersfield quay lại với áo xanh trơn và biểu trưng chữ lồng dọc khi Tom Johnston trở lại vào năm 1975. Các sọc áo trở lại từ mùa giải 1977-78 và kể từ đó luôn là trang phục sân nhà của câu lạc bộ. Năm 1980, Town áp dụng mẫu biểu trưng vẫn còn được sử dụng cho đến nay. Nó kết hợp các yếu tố từ huy hiệu thị trấn cũ với những chi tiết hiện đại như sọc xanh trắng và hình chó sục cùng quả bóng đá.[3]
Năm 2000, Huddersfield đổi biểu trưng sang thiết kế hình tròn, nhưng thiết kế này không bao giờ được cổ động viên yêu thích và câu lạc bộ nhanh chóng quay lại với biểu trưng kiểu huy hiệu truyền thống.[3] Biểu trưng tiếp tục được chỉnh sửa nhẹ vào năm 2005. Câu lạc bộ quyết định bỏ "A.F.C." khỏi phần chữ, chỉ giữ lại dòng "Huddersfield Town". Điều này giúp giảm bớt khó khăn trong việc thêu trên áo và vật phẩm của câu lạc bộ, đồng thời cũng tạo cho phần in ấn một diện mạo thống nhất hơn.[109]
Câu lạc bộ sử dụng một biểu tượng Terriers vào năm 2018. Biểu tượng này chỉ được dùng trên trang phục thi đấu chứ không thay thế huy hiệu truyền thống, vốn tiếp tục xuất hiện trên toàn bộ các phương tiện truyền thông chính thức và tài liệu của câu lạc bộ.[3] Năm 2019, Town đồng ý để Paddy Power tài trợ áo với thiết kế dải chéo rất nổi bật theo phong cách "hoa hậu". Chỉ ít ngày sau, câu lạc bộ đã được The Football Association liên hệ để yêu cầu đưa ra "ý kiến giải trình" về bộ áo đấu đó.[110] Ngay sau đó, người ta tiết lộ rằng mẫu áo này thực chất là một trò đùa do Paddy Power dựng lên, và câu lạc bộ sẽ thi đấu với áo không có nhà tài trợ như một phần của chiến dịch "Save Our Shirt".[111]
Huddersfield quay lại với một phiên bản cập nhật của huy hiệu kiểu truyền thống vào năm 2019. Ba ngôi sao, tượng trưng cho chuỗi ba chức vô địch quốc gia liên tiếp trong thập niên 1920, được đưa vào bên trong tấm khiên. Ngoài ra, một bông hoa hồng Yorkshire duy nhất được đặt ở phía trên phần sọc xanh trắng, nằm trên ba ngôi sao. Tấm khiên cũng được hiện đại hóa bằng cách rời bỏ phiên bản bo tròn trước đó. Hình chú chó sục được đưa vào huy hiệu ở phần trên của tấm khiên, còn năm thành lập câu lạc bộ được đặt ở hai bên Castle Hill.[112]
Nhà sản xuất trang phục và nhà tài trợ áo đấu
[sửa | sửa mã nguồn]| Giai đoạn | Nhà sản xuất trang phục | Nhà tài trợ áo đấu (ngực) | Nhà tài trợ áo đấu (tay áo) |
|---|---|---|---|
| 1975-1979 | Bukta | Không có | Không có |
| 1979-1982 | Barralan | ||
| 1982-1984 | Bukta | Central Mirfield | |
| 1984-1986 | Daihatsu | ||
| 1986-1987 | Eagle | Greenall's | |
| 1987-1990 | Matchwinner | ||
| 1990-1991 | Beaver | ||
| 1991-1993 | Gola | Gola | |
| 1993-1994 | Super League | Pulse (sân nhà) Vileda (sân khách)[105] | |
| 1994-1995 | Pulse | ||
| 1995-1997 | Panasonic | ||
| 1997-1999 | Pony | ||
| 1999-2001 | Mitre | ||
| 2001-2002 | Bloggs | Prime Time Recruitment | |
| 2002-2003 | VOI | ||
| 2003-2005 | Admiral | ||
| 2005-2007 | Yorkshire Building Society | ||
| 2007-2009 | Mitre | CasinoRed | |
| 2009-2010 | Yorkshire Air Ambulance (sân nhà) Radian B (sân khách)[113] | ||
| 2010-2011 | Kirklees College (sân nhà) Radian B (sân khách)[114][115] | ||
| 2011-2012 | Umbro | ||
| 2012-2013 | Rekorderlig (sân nhà) Radian B (sân khách)[116] | ||
| 2013-2015 | Puma | Rekorderlig (sân nhà) Radian B (sân khách) Covonia (áo thứ ba)[117][118] | |
| 2015-2017 | PURE Legal Limited (sân nhà) Radian B (sân khách) Covonia (áo thứ ba)[119][120] | ||
| 2017-2018 | OPE Sports | PURE Legal Limited[121] | |
| 2018-2019 | Umbro | Leisu Sports[122] | |
| 2019-2020 | Paddy Power (không gắn nhãn)[111] | Không có | |
| 2020-2021 | Nhiều doanh nghiệp/tổ chức từ thiện địa phương | ||
| 2021-2025 | Utilita | Jetcoin (Cúp FA only)[123] | |
| 2025-nay | Castore | Hey Dude | Core |
Nguồn:[3]
Sân vận động
[sửa | sửa mã nguồn]
- Leeds Road (1908-1994)
- Sân vận động Kirklees (1994-nay)
- Mang tên Sân vận động Alfred McAlpine (1994-2004)
- Mang tên Sân vận động Galpharm (2004-2012)
- Mang tên Sân vận động John Smith (2012-2025)
- Mang tên Sân vận động Accu (2025-nay)[53]
Huddersfield là đội đầu tiên từng thi đấu ở cả bốn cấp độ chuyên nghiệp của bóng đá Anh trên hai sân vận động khác nhau.[6]
Cổ động viên và kình địch
[sửa | sửa mã nguồn]Bản mẫu:Poem quote Từ năm 1920, bài hát truyền thống của Huddersfield là "Smile A While". Bài hát này do G. W. Chappell ở Longwood, Huddersfield sáng tác trước Chung kết Cúp FA 1920 gặp Aston Villa. Đây là phiên bản cải biên từ bài hát nổi tiếng thời Chiến tranh thế giới thứ nhất là "Till We Meet Again". Tác phẩm của Chappell ban đầu mang tên "The Town Anthem" và đã được cổ động viên Town hát trước trận chung kết. Bài hát này cho tới nay vẫn được cổ động viên Huddersfield hát trong các trận sân nhà.[124]
Năm 2014, một nhóm cổ động viên Town thành lập tập thể mang tên "North Stand Loyal". Mục tiêu của nhóm là "cải thiện bầu không khí quanh sân vào các ngày thi đấu", và các thành viên cho biết họ "lấy cảm hứng từ những nhóm cổ động viên ở châu Âu lục địa và các nơi khác trên thế giới".[125] Năm 2017, nhóm đổi tên thành "Cowshed Loyal".[126] Nhóm này đứng ở khán đài South Stand, khu vực được chia sẻ với cổ động viên đội khách.[127]
Câu lạc bộ cũng có nhiều nhóm cổ động viên ở nước ngoài, với các hội nhóm tại Australia, Canada, Bắc Ireland, Na Uy, Cộng hòa Ireland, Singapore, Slovakia và Hoa Kỳ.[128] Những cổ động viên nổi bật của đội qua các thời kì gồm có Thủ tướng Harold Wilson, người sinh ra tại thị trấn này,[129] và diễn viên Ngài Patrick Stewart, người trở thành chủ tịch của Học viện Huddersfield Town vào năm 2010.[130][131]
Các đối thủ chính của Huddersfield Town được xem là hai đội bóng West Yorkshire là Bradford City và Leeds United.[132][133] Town có thành tích đối đầu tốt hơn trước City; họ thắng 21 trận, hòa 17 trận và thua 14 trận.[134] Tính cả các trận gặp đội tiền thân của United là Leeds City, Huddersfield đã thắng 36 trong tổng số 90 trận derby giữa hai đội, cùng với 20 trận hòa và 34 chiến thắng cho Leeds.[135][136]
Ngoài ra còn có những mối kình địch nhỏ hơn với các đội bóng Nam Yorkshire là Barnsley và Sheffield Wednesday, cùng một cuộc kình địch Roses với Oldham Athletic.[133] Huddersfield cũng có mối kình địch với đội bóng Cambridgeshire là Peterborough United, chủ yếu bắt nguồn từ các cuộc đối đầu ở play-off vào các năm 1992 và 2011.[137]
Hiện nay cũng đã xuất hiện một mối kình địch đang hình thành với Nottingham Forest, xuất phát từ thất bại gây tranh cãi 0-1 của Huddersfield ở trận chung kết play-off Championship mùa giải 2021-22, ngay sau đó Forest chiêu mộ hai trong số những cầu thủ nổi bật nhất của Huddersfield là Lewis O'Brien và Harry Toffolo.
Cầu thủ
[sửa | sửa mã nguồn]Đội hình đội một
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
U-21Huddersfield Town
[sửa | sửa mã nguồn]- Tính đến 14 tháng 8 năm 2025[140]
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
|
Cho mượn
[sửa | sửa mã nguồn]Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
|
Cựu cầu thủ đáng chú ý
[sửa | sửa mã nguồn]Thành viên Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Anh
[sửa | sửa mã nguồn]Một số cựu cầu thủ/huấn luyện viên gắn bó với Huddersfield Town có tên trong Đại sảnh Danh vọng Bóng đá Anh, được thành lập năm 2002 nhằm tôn vinh những người có đóng góp nổi bật cho môn thể thao này. Để được xem xét đưa vào danh sách, cầu thủ/huấn luyện viên phải từ 30 tuổi trở lên và đã thi đấu/dẫn dắt ít nhất năm năm tại Anh.[141]
100 huyền thoại của Football League
[sửa | sửa mã nguồn]Football League 100 Legends là danh sách "100 cầu thủ bóng đá huyền thoại" do Football League công bố năm 1998 để kỉ niệm mùa giải thứ 100 của bóng đá giải vô địch. Ba cựu cầu thủ của Huddersfield đã có tên trong danh sách này.[142]
Cầu thủ xuất sắc nhất năm (Cúp tưởng niệm Hargreaves)
[sửa | sửa mã nguồn]- 'Được bầu chọn bởi các thành viên của Câu lạc bộ Cổ động viên chính thức Huddersfield Town.'[143]
Ban quản lí câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]Quan chức câu lạc bộ
[sửa | sửa mã nguồn]| Chức vụ | Tên |
|---|---|
| Chủ tịch | Kevin Nagle |
| Giám đốc | Michael Thomas |
| Giám đốc điều hành | Jake Edwards |
| Giám đốc vận hành | David Threfall-Sykes |
Nguồn:[144]
Ban kĩ thuật đội một
[sửa | sửa mã nguồn]| Chức vụ | Tên |
|---|---|
| Huấn luyện viên trưởng | Liam Manning |
| Trợ lí huấn luyện viên | Martin Drury |
| Huấn luyện viên đội một - phân tích | James Krause |
| Huấn luyện viên thủ môn | Chris Elliott |
| Trưởng bộ phận phân tích và đổi mới | James Beck |
| Chuyên viên phân tích đội một chính | Mackenzie Longley |
| Chuyên viên phân tích đội một | Lewis Dunwoody |
| Chuyên viên phân tích hiệu suất thủ môn | Adam O'Rourke |
| Chuyên viên vật lí trị liệu cao cấp | Liam Kershaw Craig Sedgwick Vikki Stevens |
| Chuyên viên trị liệu thể thao | Matty Greenlees Matthew Potts |
| Trưởng bộ phận sức mạnh và IDP | Callum Adams |
| Huấn luyện viên hiệu suất thể chất cao cấp | Dan Hughes |
| Huấn luyện viên hiệu suất thể chất | Jordan Foster |
| Trưởng học viện | Jon Worthington |
Nguồn:[145]
Lịch sử huấn luyện viên
[sửa | sửa mã nguồn]Danh hiệu
[sửa | sửa mã nguồn]Năm 1926, Huddersfield Town trở thành đội bóng Anh đầu tiên vô địch First Division trong ba mùa giải liên tiếp, một thành tích chỉ đến năm 2024 mới được Manchester City vượt qua, dù trước đó đã được Arsenal, Liverpool, Manchester City và hai lần bởi Manchester United cân bằng.[146]
Huddersfield Town là đội bóng thứ hai, sau Blackpool, từng vô địch cả ba vòng play-off thăng hạng ở các cấp độ khác nhau, khi họ thắng play-off Championship 2017.[82]
Danh hiệu của câu lạc bộ bao gồm:[6][147]
Giải vô địch
- First Division (cấp độ 1)[a]
- Second Division / Championship (cấp độ 2)
- Third Division / Second Division / League One (cấp độ 3)
- Fourth Division / Third Division (cấp độ 4)
Cúp
- Cúp FA
- FA Charity Shield
- Vô địch: 1922
- Football League Trophy
- Á quân: 1993-94
Ghi chú
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ Khi Premier League được thành lập vào năm 1992, giải này trở thành hạng đấu cao nhất của bóng đá Anh; khi đó Football League First Division và Second Division lần lượt trở thành cấp độ thứ hai và thứ ba.[148] Từ năm 2004, First Division đổi tên thành Championship còn Second Division đổi tên thành League One.[149]
Nguồn
[sửa | sửa mã nguồn]Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ "Viewing Platform For Away Supporters". Huddersfield Town AFC. ngày 3 tháng 11 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 11 năm 2017. Truy cập ngày 3 tháng 11 năm 2017.
- ↑ "About Town". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Moor, Dave. "Huddersfield Town". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Nelson, Dan (ngày 30 tháng 4 năm 2014). "20 Years on from Leeds Road". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 3 4 Sengupta, Somnath (ngày 7 tháng 2 năm 2018). "How Herbert Chapman changed the face of management and domestic success at Huddersfield Town". These Football Times. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 Rundle, Richard. "Huddersfield Town". Football Club History Database. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 6 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Page, Simon (2006). Herbert Chapman: The First Great Manager. Heroes Publishing. tr. 111. ISBN 9780954388454.
- 1 2 "Huddersfield Manager History". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul; Spencer, Barry (ngày 31 tháng 10 năm 2013). "England 1920-21". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 21 tháng 10 năm 2000. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Page (2006), p. 135
- ↑ "Herbert Chapman". National Football Museum. Lưu trữ bản gốc ngày 21 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Ward, Jamie (ngày 2 tháng 1 năm 2009). "The Forgotten Pioneers of Football: Herbert Chapman". Bleacher Report. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 5 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Partington, Mikey (ngày 10 tháng 5 năm 2020). "On this day in 1922: Town wins the FA Charity Shield!". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul; Spencer, Barry (ngày 31 tháng 10 năm 2013). "England 1923-24". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Looking back to 1924: Cardiff City and Huddersfield Town were Britain's best". WalesOnline. ngày 8 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 Felton, Paul; Spencer, Barry (ngày 31 tháng 10 năm 2013). "England 1924-25". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town match record: 1925". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Say, Tony (1996). "Herbert Chapman: Football Revolutionary?" (PDF). The Sports Historian. 16: 81–98. doi:10.1080/17460269609446395. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 12 năm 2013.
- ↑ Marshall-Bailey, Tom (ngày 18 tháng 7 năm 2014). "Huddersfield Town greats: William 'Billy' Smith". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Page (2006), p. 139
- ↑ Threlfall-Sykes, David (ngày 12 tháng 4 năm 2020). "Happy Huddersfield Town day!". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul; Spencer, Barry (ngày 31 tháng 1 năm 2013). "England 1926-27". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town match record: 1927". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Thomson, Doug (ngày 14 tháng 8 năm 2013). "The Huddersfield Town men in the middle of England v Scotland Wembley drama". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 11 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "The 1930 final — how Arsenal won the cup". Arsenal FC. ngày 24 tháng 1 năm 2014. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "The FA Cup Final first televised". BBC. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town — a rich history". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 "Auction of ex-Town chief's memories". Yorkshire Live. ngày 5 tháng 10 năm 2006. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul. "Season 1952-53". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Rundle, Richard. "Football League 1953-54". Football Club History Database. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Henderson, Jon (ngày 7 tháng 10 năm 2001). "The 10 greatest comebacks of all time". The Guardian. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 1 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "December 1, 1959: The day Liverpool FC's world shook as Bill Shankly arrived". Liverpool Echo. ngày 1 tháng 12 năm 2009. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Thomson, Doug (ngày 9 tháng 2 năm 2015). "Let there be light – why night-time clashes with Wolves will always be special for Huddersfield Town". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 1 năm 2016. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "English League Cup 1967/68". Soccerbase. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Booth, Mel (ngày 5 tháng 1 năm 2009). "Obituary: Ian Greaves". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Hern, Bill; Gleave, David (2020). Football's Black Pioneers. Leicester: Conker Editions. tr. 168–169. ISBN 9781999900854.
- ↑ Thomson, Doug (ngày 24 tháng 10 năm 2014). "The curious case of the man who became Huddersfield Town manager three times – but didn't like blue and white stripes". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Stewart, Rob (ngày 29 tháng 5 năm 2020). "Mick Buxton on turning around Town's fortunes". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Stewart, Rob (ngày 3 tháng 5 năm 2020). "40 Years since Town were crowned Division Four champions". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul. "Season 1980-81". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul. "Season 1982-83". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town nostalgia 1986: Terriers sack Mick Buxton after eight years". Yorkshire Live. ngày 21 tháng 12 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Makin, Sean (ngày 25 tháng 6 năm 2020). "A season to forget: Huddersfield Town 1987/88". The Football Pink. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul. "Season 1986-87". RSSSF. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 6 năm 2001. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul. "Season 1987-88". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Pye, Steven (ngày 19 tháng 8 năm 2018). "When Manchester City thrashed Huddersfield 10-1 at Maine Road". The Guardian. ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town v Peterborough United, 14 tháng 5 năm 1992". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 7 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town match record: 1993". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Felton, Paul. "Season 1992-93". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Powell, Dave (ngày 6 tháng 6 năm 2020). "'Boothy could do a job for us' – Neil Warnock on the beginnings of Huddersfield Town legend Andy Booth". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Tomlinson, Adam (ngày 24 tháng 4 năm 2020). "1994 Autoglass Trophy Final – All the way to Wembley". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Castle, Gavin; Chicken, Steven (ngày 30 tháng 4 năm 2020). "26 years on: stunning photos from the last Huddersfield Town game at Leeds Road". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 "Stadium History". John Smith's Stadium. Bản gốc lưu trữ ngày 4 tháng 8 năm 2017.
- ↑ Woodcock, Ian (ngày 24 tháng 5 năm 2012). "Huddersfield Town: Andy Booth reflects on 'fast food' final". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Booth, Mel (ngày 20 tháng 2 năm 2019). "Huddersfield-born strikeforce inspires Town after promotion success". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Tomlinson, Adam (ngày 6 tháng 4 năm 2020). "Jacko on the great escape". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Bygones: Pulling off Huddersfield Town's 'Great Escape' one of Peter Jackson's career highs". Yorkshire Post. ngày 18 tháng 12 năm 2017. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "How new boss set the Pace". Bradford Telegraph and Argus. ngày 22 tháng 1 năm 1999. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Taylor, Daniel; Sills, Adam (ngày 11 tháng 5 năm 1999). "Sacked Jackson targeted by Forest". The Guardian. ISSN 0261-3077. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Fletcher, Paul (ngày 27 tháng 6 năm 2003). "Jackson out to turn Huddersfield around". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Welton, Blake (ngày 21 tháng 5 năm 2017). "Former Huddersfield Town forward Marcus Stewart reveals why he left the club". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Bruce accused of 'wasting' £3m". BBC Sport. ngày 6 tháng 3 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 2 tháng 1 năm 2003. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield down in last-day drama". BBC Sport. ngày 6 tháng 5 năm 2001. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Brentford see off Terriers". BBC Sport. ngày 1 tháng 5 năm 2002. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 "Huddersfield Town's other survival battle: How fans saved their beloved club from extinction in 2003". Yorkshire Post. ngày 15 tháng 5 năm 2018. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 5 năm 2021. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield sack Wadsworth". BBC Sport. ngày 26 tháng 3 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 12 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Machin leaves Huddersfield". BBC Sport. ngày 6 tháng 5 năm 2003. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Crabtree, Stephen (ngày 29 tháng 10 năm 2008). "Huddersfield Town's young hopefuls!". BBC — Bradford and West Yorkshire. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Heneghan, Michael (ngày 31 tháng 5 năm 2006). "England 2003/2004". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 3 Rushworth, Daniel; Welton, Blake (ngày 8 tháng 2 năm 2018). "How both Huddersfield Town and AFC Bournemouth have triumphed over adversity". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Threlfall-Sykes, David (ngày 9 tháng 4 năm 2015). "The Dean Hoyle era – part one". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield 2-1 Notts County". BBC Sport. ngày 19 tháng 11 năm 2011. Lưu trữ bản gốc ngày 6 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town sack manager Lee Clark". BBC Sport. ngày 15 tháng 2 năm 2012. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Begley, Emlyn (ngày 26 tháng 5 năm 2012). "Huddersfield promoted after epic shoot-out win over Sheffield United". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town appoint Mark Robins as manager". BBC Sport. ngày 14 tháng 2 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield 2-2 Barnsley". BBC Sport. ngày 4 tháng 5 năm 2013. Lưu trữ bản gốc ngày 10 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Threlfall-Sykes, David (ngày 5 tháng 11 năm 2015). "David Wagner named HTAFC head coach". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "David Wagner has the goods to shake up Schalke". Deutsche Welle. ngày 3 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 8 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "2016/2017 Season". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 12 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Woodcock, Ian (ngày 17 tháng 5 năm 2017). "Sheffield Wednesday 1-1 Huddersfield Town (agg: 1-1, 3-4 pens)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Woodcock, Ian (ngày 29 tháng 5 năm 2017). "Huddersfield Town 0-0 Reading (4-3 pens)". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 17 tháng 2 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 Foster, Richard (ngày 7 tháng 5 năm 2019). "8 amazing things we've learned from 500 play-off matches in English football". FourFourTwo. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "2017/2018 Season". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 "2018/2019 Season". Sky Sports. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town appoint Jan Siewert from Borussia Dortmund as new manager". BBC Sport. ngày 21 tháng 1 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 22 tháng 1 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield relegated: Terriers captain Christopher Schindler feeling 'empty'". BBC Sport. ngày 30 tháng 3 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 4 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Dean Hoyle to step down as Huddersfield chairman and will sell club to Phil Hodgkinson". BBC Sport. ngày 3 tháng 5 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 5 năm 2019. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Danny Cowley: Huddersfield Town appoint Lincoln City boss as manager". BBC Sport. ngày 9 tháng 9 năm 2019. Lưu trữ bản gốc ngày 9 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Danny Cowley: Huddersfield Town sack manager after 10 months in charge". BBC Sport. ngày 19 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
- ↑ "Carlos Corberan: Huddersfield Town appoint Leeds United assistant as new head coach". BBC Sport. ngày 23 tháng 7 năm 2020. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 31 tháng 12 năm 2020.
- ↑ Woodcock, Ian (ngày 29 tháng 5 năm 2022). "Forest return to Premier League after 23-year wait". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 5 năm 2022. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2022.
- ↑ Threlfall-Sykes, David (ngày 28 tháng 9 năm 2022). "Mark Fotheringham Appointed Head Coach". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 9 năm 2022. Truy cập ngày 28 tháng 9 năm 2022.
- ↑ "Club Statement: Mark Fotheringham". Huddersfield Town AFC. ngày 8 tháng 2 năm 2023. Lưu trữ bản gốc ngày 8 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2023.
- ↑ "Neil Warnock: Huddersfield Town reappoint veteran as manager". BBC Sport. ngày 13 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Warnock 'had tears in eyes' as Terriers beat Blues". BBC Sport. Truy cập ngày 21 tháng 11 năm 2023.
- ↑ "Huddersfield Town: Championship strugglers taken over by North American group". BBC Sport. ngày 23 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "CLUB STATEMENT: KEVIN M. NAGLE". Huddersfield Town AFC. ngày 28 tháng 3 năm 2023. Truy cập ngày 29 tháng 3 năm 2023.
- ↑ "Huddersfield Town: American businessman Kevin Nagle completes takeover". BBC Sport. ngày 23 tháng 6 năm 2023. Truy cập ngày 23 tháng 6 năm 2023.
- ↑ "Adrian Williams says Reading face 'big rebuild' after relegation from the Championship". BBC Sport. ngày 5 tháng 5 năm 2023. Truy cập ngày 5 tháng 5 năm 2023.
- ↑ "Darren Moore: Huddersfield Town sack boss after three wins in 23 games". BBC Sport. ngày 29 tháng 1 năm 2024. Truy cập ngày 29 tháng 1 năm 2024.
- ↑ "Andre Breitenreiter: Huddersfield Town appoint new head coach". BBC Sport. ngày 15 tháng 2 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 2 năm 2024.
- ↑ Liew, Jonathan (ngày 4 tháng 5 năm 2024). "Ipswich seal stunning promotion to Premier League as Huddersfield drop". The Guardian. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "Huddersfield Town appoint Duff as head coach". BBC Sport. ngày 13 tháng 5 năm 2024. Truy cập ngày 22 tháng 5 năm 2024.
- ↑ Coates, Tom (ngày 17 tháng 1 năm 2026). "Huddersfield Town sack Lee Grant: Kevin Nagle issues statement as League One club wield axe". The Yorkshire Post.
- 1 2 Tomlinson, Adam (ngày 23 tháng 1 năm 2020). "Which retro shirts are your favourites?". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 28 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 Eijden, Han van (ngày 16 tháng 1 năm 2011). "Huddersfield Town". The Beautiful History. Lưu trữ bản gốc ngày 14 tháng 3 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Moor, Dave. "The FA Cup Finalists 1920-1929". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 4 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Moor, Dave. "The FA Cup Finalists 1930-1939". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 13 tháng 3 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Change to badge". Yorkshire Live. ngày 2 tháng 2 năm 2005. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Keogh, Frank (ngày 17 tháng 7 năm 2019). "Huddersfield Town: Football Association requests club's 'observations' over 2019-20 kit". BBC Sport. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 3 năm 2021. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- 1 2 Chicken, Steven (ngày 19 tháng 7 năm 2019). "Actual Huddersfield Town kit revealed – with no sponsor logo". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Tomlinson, Adam (ngày 7 tháng 6 năm 2019). "Town launches evolution of crest". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 26 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Stewart, Nathan. "Coca Cola League One 2009-2010". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Jackson, Gareth. "League One 2010-2011". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Pashby, Roger; Siddons, Graham. "Npower League One 2011-2012". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 3 tháng 5 năm 2012. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Pashby, Roger; Siddon, Graham. "Npower Championship 2012-2013". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 12 tháng 8 năm 2013. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Gibbs-Barton, Alasdair; Pashby, Roger. "The Championship 2013-2014". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Hadden, Julian; Pashby, Roger. "The Championship 2014-2015". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2015. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Kelly, Neil; Pashby, Roger. "The Championship 2015-2016". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Pashby, Roger. "The English Football League Championship 2016-2017". Historical Football Kits. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 8 năm 2020. Truy cập ngày 26 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Threlfall-Sykes, David (ngày 16 tháng 6 năm 2017). "Pure Business Group leads the way as sleeve sponsor". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 1 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Threlfall-Sykes, David (ngày 8 tháng 6 năm 2018). "Leisu to appear on shirt sleeve in 2018/19". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Bains, Raj (ngày 6 tháng 1 năm 2022). "JETCOIN BECOME SLEEVE SPONSOR FOR FA CUP THIRD ROUND". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 20 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 20 tháng 1 năm 2022.
- ↑ Haigh, Eleanor (ngày 1 tháng 4 năm 2020). "Happy 100th birthday to Smile A While!". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "The Group". Cowshed Loyal. Bản gốc lưu trữ ngày 30 tháng 11 năm 2021. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Robinson, Andrew (ngày 10 tháng 7 năm 2017). "North Stand Loyal changes its name to Cowshed Loyal, via brief sexism controversy". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Booth, Mel (ngày 26 tháng 1 năm 2018). "Why Town fans have bigger role than ever in helping achieve FA Cup success". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 2 năm 2023. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "International Supporter Groups". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 5 năm 2020. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Robinson, Andrew (ngày 14 tháng 8 năm 2017). "Harold Wilson put Huddersfield on the map — here's how". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 15 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Sir Patrick Stewart celebrates as Huddersfield Town boldly (but briefly) go top of the Premier League". The Telegraph. ngày 14 tháng 8 năm 2017. ISSN 0307-1235. Lưu trữ bản gốc ngày 11 tháng 1 năm 2022. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town Academy role for Sir Patrick Stewart". Yorkshire Live. ngày 5 tháng 3 năm 2010. Lưu trữ bản gốc ngày 18 tháng 6 năm 2018. Truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Rivalry Uncovered!" (PDF). The Football Fans Census. ngày 3 tháng 2 năm 2004. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 3 tháng 2 năm 2004.
- 1 2 Dubas-Fisher, David (ngày 7 tháng 8 năm 2019). "Huddersfield Town fans consider Leeds to be their main rival – but the feeling isn't mutual". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town football club: record v Bradford City". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 4 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town football club: record v Leeds City". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 19 tháng 9 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town football club: record v Leeds United". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 5 tháng 2 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ Chicken, Steven (ngày 18 tháng 5 năm 2020). "How Huddersfield Town became embroiled in a fierce rivalry with a club 130 miles away". Yorkshire Live. Lưu trữ bản gốc ngày 23 tháng 4 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town – News". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 9 năm 2020. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2025.
- ↑ "2022/23 SQUAD NUMBERS REVEALED! - News - Huddersfield Town". Huddersfield Town AFC. Bản gốc lưu trữ ngày 19 tháng 4 năm 2023. Truy cập ngày 4 tháng 7 năm 2025.
{{Chú thích web}}: Quản lý CS1: bot: trạng thái URL ban đầu không rõ (liên kết) - ↑ "Town – Huddersfield Town B Team". Huddersfield Town A.F.C. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2024.
- ↑ "About the Football Hall Of Fame". National Football Museum. Bản gốc lưu trữ ngày 20 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Legends list in full". BBC News. ngày 5 tháng 8 năm 1998. Lưu trữ bản gốc ngày 25 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Huddersfield Town Player of the Year Award Winners". My Football Facts. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "Contact Us". Huddersfield Town AFC. Truy cập ngày 10 tháng 5 năm 2024.
- ↑ "First Team Technical Staff". Huddersfield Town AFC. Lưu trữ bản gốc ngày 24 tháng 11 năm 2020. Truy cập ngày 8 tháng 1 năm 2021.
- ↑ Ross, James M. (ngày 19 tháng 8 năm 2021). "England – List of Champions". RSSSF. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 7 năm 2022. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2022.
- ↑ "Huddersfield Town football club honours". 11v11. Lưu trữ bản gốc ngày 27 tháng 6 năm 2020. Truy cập ngày 25 tháng 6 năm 2020.
- ↑ "History Of The Football League". The Football League. ngày 22 tháng 9 năm 2010. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 2 năm 2013.
- ↑ "League gets revamp". BBC Sport. ngày 10 tháng 6 năm 2004. Lưu trữ bản gốc ngày 29 tháng 7 năm 2020. Truy cập ngày 18 tháng 6 năm 2020.
Thư mục
[sửa | sửa mã nguồn]- Binns, George S. (1984). Huddersfield Town: 75 Years On. Huddersfield Town AFC. ASIN B00186U9VU.
- Brown, Jim (2003). Huddersfield Town: Champions of England 1923-26. Desert Island Books Limited. ISBN 978-1874287667.
- Frost, Terry (1990). Huddersfield Town: A Complete Record 1910-1990. Breedon Books Publishing Company Ltd. ISBN 978-0907969648.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Website chính thức
- Supporters Trust (lưu trữ ngày 12 tháng 3 năm 2017)
- HTAFC Patrons (lưu trữ ngày 11 tháng 9 năm 2009)
- Huddersfield Town blog Lưu trữ ngày 7 tháng 3 năm 2017 tại Wayback Machine
- Trang web chính thức của Huddersfield Town A.F.C.
Bản mẫu:Huddersfield Town A.F.C.
Bản mẫu:Đội thể thao Tây Yorkshire Bản mẫu:Bóng đá nam Tây Yorkshire
- Huddersfield Town A.F.C.
- Khởi đầu năm 1908 ở Anh
- Câu lạc bộ bóng đá thành lập năm 1908
- Câu lạc bộ và đội thể thao Huddersfield
- Câu lạc bộ bóng đá Tây Yorkshire
- Câu lạc bộ bóng đá Anh
- North Eastern League
- Midland Football League (1889)
- Câu lạc bộ English Football League
- Câu lạc bộ Premier League
- Vô địch Cúp FA
- Câu lạc bộ bóng đá chuyên nghiệp Anh